Tạp chí Sông Hương - Số Đặc Biệt (T.12-12)
Sự phi lý của cuộc sống(*)
10:59 | 17/12/2012

LÊ MINH PHONG

Người ta có thể nhận thấy dấu vết của khuynh hướng biểu hiện xã hội (expressionismesoccialiste) trong các họa phẩm của Bửu Chỉ, nhưng rất khó đặt Bửu Chỉ vào một trường phái hội họa cụ thể nào trong thế kỷ XX và kể cả trước đó.

Sự phi lý của cuộc sống(*)
Tác phẩm "Sự phi lý của cuộc sống"

Tranh của Bửu Chỉ dường như không chịu sự chi phối rõ rệt của một trường phái nào. Ðiều này có thể lý giải bởi căn nguyên tư tưởng trong sáng tạo của ông thoát thai từ sự thật, một sự thật ông không có đủ quyền năng để cự tuyệt. Sự thật về nỗi đau của thân phận trong chiến tranh.
 

Tác phẩm Thời gian


Ðó là sự gắn kết giữa sáng tạo của một người nghệ sĩ với sự trần trụi của đời sống, sự gặp gỡ trong tâm thức của một họa nhân với tâm thức tộc loại của mình. Trong tiếng cuồng nộ của chiến tranh, Bửu Chỉ bắt đầu thâu nhận từng nỗi đau rồi, đem sự hủy diệt đó biến thành cái đẹp và sự thanh tẩy. Ðó chính là một trong những yếu tố tiên quyết khiến cho hội họa của Bửu Chỉ đứng ra thành một cõi riêng.

Tác phẩm Ám ảnh thiện ác


Ðôi khi chúng ta bắt gặp trong thế giới của Bửu Chỉ những màu sắc nguyên chất, tính tự biểu hiện cao, sự đối chọi mạnh mẽ của màu, cường điệu trong sự biến dạng của hình thể, sự ước lệ của không gian và kể cả độ sâu huyền bí nguyên thủy. Nhưng có những họa phẩm khác của ông vật thể đôi khi được thể hiện như được tạo nên bằng các hình học, chú tâm vào hình thể, đưa sự vật thoát khỏi ngoại hình vốn có trong thị giác. Tất nhiên tranh của Bửu Chỉ càng về sau càng không thể hiện đối tượng một cách hiện thực, những ý tưởng của ông luôn được thoát ra trong sự phát huy cao độ tính chất biểu đạt của đường nét, màu sắc và hình khối. Trong các họa phẩm Thời gian, Ám ảnh thiện ác, chúng ta lại thấy ông đang cố diễn tả sự dai dẳng của tiềm thức, sự mơ hồ của ký ức bằng cách trưng ra các hình thể biến dạng. Sự vật, sự việc hiển lộ như trong mơ. Ðiều này đã đưa tâm linh và sự tưởng tượng của chúng ta vượt ra ngoài sự đè nén, kiểm tỏa của lý tính. Nhìn vào tranh chúng ta tưởng như tất cả được vẽ trong mơ, trong cơn hoang tưởng vô lối của người sáng tạo. Tất cả sự dung hợp này tạo nên cái sắc thái riêng, khó nắm bắt nhưng khó lẫn lộn.

Tác phẩm Hoàng hôn một đời người


Có thể nhận thấy cái ám ảnh trong tranh của Bửu Chỉ là sự va đập mạnh mẽ giữa họa tiết và màu sắc, sự va đập này luôn kéo không gian mở ra, đôi khi sự lan tỏa của không gian vượt qua mọi giới hạn của tư duy, kéo lê cái tưởng tượng của người xem bằng sự vón cục của màu sắc hòa cùng với sự thanh thoát nào đó ẩn sau đường nét. Sự biến dạng của hình họa trong tác phẩm Hoàng hôn một đời người khiến chúng ta cảm tưởng như đang rơi vào một thế giới không tưởng. Hình họa không còn bị gò bó vào hiện thực, chúng dường như thoát khỏi mọi quy chiếu khách quan. Sự tưởng tượng và cách bố trí của nghệ sĩ đã giải thoát cho hình họa không bị lệ thuộc vào sự quy chiếu của lý tính thuần túy. Màu sắc không sáng như tranh của Dali mà trầm buồn và tinh khiết như dồn nén, cộng hưởng một nội khí tiềm ẩn rồi bất ngờ bung ra thành những ý niệm mang tính sâu xa của triết học. Ðiều này được xem như một sự nổi loạn trong tâm thức, một sự bất phục tùng hiện tại để đạt tới những giá trị to lớn của sự tưởng tượng trong chiều sâu của nội tâm, bởi theo Kandinxki thì “Hội họa là sản phẩm của một sự căng thẳng trong nội tâm, phải ghi lại trạng thái tâm hồn, chứ không phải là thể hiện vật thể.”1 Cũng trong họa phẩm Hoàng hôn một đời người, bằng trực giác, Bửu Chỉ đã làm sống lại sự mơ hồ của tiềm thức dựa trên những va chạm của sắc màu, sự xóa nhòa ranh giới của các họa tiết. Ở đây, họa nhân không chỉ đứng ngoài để nhận thức về đối tượng mà hòa mình vào đối tượng, đồng nhất sáng tạo với đối tượng. Một tác phẩm hội họa có giá trị khi nó lưu chuyển trong mình sự soi sáng cho nhận thức. Sự nhận thức trong Ám ảnh thiện ác đến từ các hình họa, hình thể không đông cứng, ngược lại, dường như chúng đáng có sự chuyển động, những chuyển động này gây cho ta những liên tưởng về đời sống, về nhận thức, về sự vô hạn và về những giới hạn. Hình thể theo Bernard Berenson “là cái làm cho các vật hữu hình có sức sống mạnh mẽ”2. Các hình thể của Bửu Chỉ đã thoát ra ngoài sự quy chiếu của hình học bởi sự biến dạng chủ động của người sáng tạo. Sự biến dạng của các hình thể dẫn tới kích thích sự tưởng tượng và sản sinh nghĩa ở chính người xem, không găm đinh người xem vào các vật thể cụ thể, trơ lỳ và đơn nghĩa. Bằng cách đó, hội họa của Bửu Chỉ đã chạm được vào “giá trị xúc giác” (chữ của Berenson).

Tác phẩm Không đề


Sự chuyển biến trong sự nghiệp sáng tạo của Bửu Chỉ qua các thời kỳ3 minh chứng rằng ông là một người luôn tìm kiếm và nổi loạn không ngừng trong sáng tạo. Sự nổi loạn dựa trên một nền tảng triết học cơ bản đã đưa ông tìm đến những dạng thức nghệ thuật mới. Dường như càng về sau chúng ta càng cảm nhận được Bửu Chỉ muốn chạm sâu vào nội giới của mình. Bằng sự khước từ ngoại giới, họa nhân tham vọng gọi tên những vùng mờ của ký ức, của tiềm thức, của vô thức trong tâm can của một kẻ nổi loạn bất phục tùng. Những điều này được biểu thị qua sự phối màu và cách lựa chọn, bố trí các hình thể. Sự chuyển biến màu sắc tinh tế, các hình thể đạt tới sự cân bằng trong Không đề giúp tác phẩm thoát khỏi không gian hạn định trong khung tranh. Không gian ở đây đã khước từ sự mô phỏng khởi phát từ quan niệm của Platon. Nói một cách rốt ráo thì không gian ở đây chỉ có trong tinh thần, trong sự tưởng tượng vô tận của người họa sĩ. Dường như trong Không đề hay trong các họa phẩm đã dẫn ở trên luôn có những đường nét, họa tiết bị chìm đi, hay bị người sáng tạo cố tình đánh vắng để tạo nên sự sâu hút của không gian, chúng đang chứa ẩn cả sự bí mật khổng lồ của vũ trụ tâm linh, trở nên xa lạ, huyễn tưởng, mộng mị và dường như vô định nếu ta đưa chúng đặt vào công thức của sự mô phỏng.                            

Dường như Bửu Chỉ muốn “tìm cách vượt xa hơn hệ thống giá trị của con người để đạt tới sự vô tận và vĩnh cửu.”4 Ðiều này đã chạm tới cảm thức nghệ thuật hiện đại khi nó muốn trưng ra những thế giới xa lạ nhưng lại chứa ẩn trong sâu hút nội tâm. Không thể chối bỏ sứ mệnh của nghệ thuật nên trong tranh của Bửu Chỉ con người vẫn là trung tâm. Dù con người bị biến dạng như trong Sự phi lý của cuộc sống hay con người hiện hữu trong sự tột cùng của sự va chạm của các xung năng như trong Nội chiến thì con người vẫn là hình ảnh trung tâm của sự biểu đạt. Trong khi các họa nhân phương Ðông miệt mài đi tìm sự huyền bí của vũ trụ thì Bửu Chỉ lại đi tìm con người như một cá thể tự do, con người của hành động, thông qua hành động để minh chứng cho sự tồn tại của chính cá thể con người bằng xương bằng thịt sau khi thượng đế đã phải ngủ im trước sự nổi loạn của Nietzsche. Tất nhiên chúng ta thấy, con người trong tranh của Bửu Chỉ là con người ngắm vuốt sự cô độc của mình, nhưng đó không phải là kiểu dạng người hùng, mà ở đây con người nhìn thấy được sự hữu hạn trước vũ trụ, con người là hạt bụi, con người đang bị chế ngự bởi một hệ thống, con người bị quy định vào những hệ thống cấu trúc như sự lý giải của Michel Foucault. Con người biến dạng trong Nội chiến như là sự đại diện cho những cá thể đơn lẻ đang truy vấn về tự do, về sự phi lý, về những cơn đồng ốp mê sảng, về những điều vô nghĩa. Con người đang hướng tới phủ định các giá trị khách quan, con người quay lại ngụp lặn trong tâm linh của mình và khát vọng tri nhận mình một cách công khai và thấu triệt. Con người ở đây đã nhuốm màu sắc của triết học hiện sinh (existentialism) mà người sáng tạo nó đã sống và trải nghiệm.

Tác phẩm Nội chiến


Qua các họa phẩm trên, Bửu Chỉ đang muốn biện giải cách loài người quan hệ với thế giới. Nếu như triết học trước đây chỉ “khảo sát các đối tượng ngoại tại vào tâm trí, được hiểu một cách khái quát như hai loại thực thể tách biệt. Tâm trí chỉ quan sát thế giới theo một phương cách tách biệt với thế giới…”5 thì ở đây ta thấy có một sự ngược lại, nghệ thuật của Bửu Chỉ hướng tới căn bản cái tôi khi cái tôi đó trực tiếp can dự vào thế giới, cái tôi đó tự thăm dò và lý giải chính mình, hoài nghi chính mình, là những kẻ liên can và nhập cuộc. Tương cận với cách nhìn của Heidegger, đó là kiểu con người bị ném vào thế giới và không ngừng bị trở thành một kẻ bị liên can trong thế giới đó. Con người trong Nội chiến dường như đang trôi vào một thế giới xa lạ và bất an, chập chờn và ám ảnh, sự bất an này kéo tới sự va chạm, mâu thuẫn ngay chính trong đồng loại, đồng bào. Con người trong Sự phi lý của cuộc sống khắc khoải cõng trên thân phận mình những nổi hoảng loạn đi về miền vô định, tối tăm, bạo tàn. Con người trong tranh Bửu Chỉ là con người phi lý như kiểu dạng nhân vật của Camus. Con người lạc lối, mù lòa trong đêm trường vô tận. Con người bị che giấu khỏi tầm mắt những gì mình muốn thấy. Con người khát khao hướng tới một sự hợp nhất trọn vẹn nào đó nhưng mãi mãi bất lực, câm nín, bất khả tri về chính mình và thế giới. Con người bơ vơ, lạc loài, vong thân trong sự đổ vỡ của tôn giáo, sự phụ rẫy của niềm tin để rồi đau đớn nhìn thấy sự băng hoại của tha nhân và của bản thể. Con người ở trong tranh Bửu Chỉ dường như không thích ứng với lý tính. Con người bị dẫn đi bởi cuồng mê và hoảng loạn. Dấu vết của Huyền thoại Sisyphe trong Sự phi lý của cuộc sống khiến chúng ta nhận chân được sự phi lý của hữu thể. Con người đang kêu gào minh chứng sự có mặt thông qua chuỗi hành động phi lý. Ðây có lẽ là mầm móng cho một cuộc nổi loạn mang tính siêu hình mà Bửu Chỉ đã can qua. Con người không khước từ sự phi lý mà đang thụ cảm sự phi lý, con người hành động nhưng đôi khi lại khuyết thiếu động cơ. Con người sợ hãi trước định mệnh.

Trong Tự do cuối cùng, hòa bình cuối cùng chúng ta thấy một lần nữa thế giới khách thể lại bị vượt qua. Cơ cấu của thế giới vật lý dường như đã bị chối bỏ. Sự khác biệt giữa chủ thể và khách thể, giữa res cogitans (vật suy tư) và res extensa (vật khả trương), giữa tâm hồn và thân xác dường như không còn ranh giới, không còn sự biện giải trắng đen rõ ràng. Thế giới ở đây là thế giới trong mơ, thế giới đi ra từ vô thức cá nhân và vô thức tập thể (collective unconscious), “một thứ vô thức được tạo nên bởi những cổ mẫu, đó là những hình thức tiền tồn hay là những hình thức nguyên thủy”6 luôn réo gọi vô thức của người sáng tạo nhập cuộc.

Tác phẩm Tự do cuối cùng, hòa bình cuối cùng


Chúng ta thấy dường như trong các họa phẩm bằng sơn dầu, càng về sau thì Bửu Chỉ càng “xem huyền thoại như là công cụ tổ chức chất liệu nghệ thuật, là phương tiện diễn tả những nguyên tắc tâm lý vĩnh cửu”7. Không phải ngẫu nhiên mà trong tranh của Bửu Chỉ người ta luôn thấy sự hiện tồn của những cổ mẫu (Archétype) như mặt trăng, mặt trời. Chúng đi ra từ sự ý thức về chiều sâu của bản mệnh sáng tạo, ý thức lấy huyền thoại để tổ chức sáng tạo. Bởi theo Jung thì kẻ nào nói với những hình tượng nguyên sơ thì giống như kẻ ấy nói với cả ngàn giọng nói8. Trăng trong tranh Bửu Chỉ là một thứ cổ mẩu (siêu mẫu) có sức ánh ảnh to lớn đối với thị giác. Nó mang chức năng nối kết giữa huyền thoại và hiện tại, giữa khởi nguyên hồng hoang và bây giờ. Trăng ở đây hiện diện bởi nhiều hình dạng, màu sắc. Là trăng xanh, trăng hồng, trăng vàng, trăng đen… Trăng ở đây là trăng mang thứ bản nguyên âm tính, trăng khiến không gian lạnh, cái lạnh tỏa ra từ sắc xanh như vẫy gọi chúng ta đi về thời hồng hoang thoạt kỳ thủy để bấu víu vào những vết tích lưu truyền của tiền nhân. Trăng trong Không đề, Tự do cuối cùng, hòa bình cuối cùng, Nội chiến… là trăng của những giấc mơ không bao giờ hoàn kết. Trăng chứa chấp bản mệnh của cái chết. Nơi tái sinh những xung năng không được thỏa mãn. Con người đối diện với trăng như đối diện với nơi chốn thoát thai những ý hướng sáng tạo huyền bí. Chốn huyền bí này chính là nơi tác động tới những vùng mờ ảo của tâm linh và cao hơn nữa nó trở thành những tiên đoán khả giải cho sự bất ổn của văn minh. Trăng là nơi chứa chấp những xung động sự chết, là nơi thâu nhận sự huyền bí của thần thoại. Trăng đen trong họa phẩm Nội chiến chính là thông cáo về một tương lại chết chóc, một địa cầu tạm bợ. Trăng đen là nơi lưu giữ bản năng ưa gây hấn của loài người. Và rồi sự tận kết của văn minh sẽ đến vì con người đang bị dẫn đi bởi bản năng và sự gây hấn dựa trên xung động bản năng hướng tới những nguyên tắc khoái lạc mang tính tức thời của chứng điên rồ tập thể.

L.M.P
(SĐB 7/12-12)

 

 ------------------------

 (*) Nhan đề này chúng tôi lấy từ tên một tác phẩm của Bửu Chỉ.

1 Xem thêm, Phạm Thị Chỉnh, Lịch sử mỹ thuật thế giới, Nxb Ðại học Sư phạm 2010, tr176

2 Xem Bernard Berenson, Mỹ học hội họa, in trong Nghệ thuật hội họa của Jacques Charpier & Pierre Seghers, Thanh Lộc dịch, Nxb Trẻ, 1996, tr323.

3 Trong bài Nghệ thuật đứng về phía nước mắt (trả lời phỏng vấn của Ðại Dương in trên Tạp Chí Sông Hương số 170, tháng 04 năm 2003) Bửu Chỉ chia sự nghiệp sáng tạo của mình làm hai thời kỳ. Từ 1970 đến 1974, chủ yếu là tranh bút lông, bút sắt, trong thời kỳ này tranh ông luôn thể hiện cái không gian chật chội, tù túng, khát vọng hòa bình, tự do của những thân phận trong chiến tranh. Thời kỳ thứ hai là sau 1975, thời kỳ này ông chủ yếu vẽ bằng sơn dầu.

4 Xem thêm Cynthia Freeland, Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật, Như Huy dịch, Nxb Tri thức 2010.

5 Xem Nguyễn Ước, Ðại cương triết học Tây phương, Nxb Tri thức 2009, tr309.

6 Xem, E.A. Bennet, Jung đã thực sự nói gì?, Bùi Lưu Phi Khanh dịch, Nxb Văn hóa thông tin 2002, tr74.

7 Xem, E. M. Meletinsky, Thi pháp của huyền thoại, Trần Nho Thìn, Song Mộc dịch, Nxb ÐHQG Hà Nội 2004, xxii.

8 Dẫn theo Phan Quang Ðịnh, Toàn cảnh triêt học Âu Mỹ thế kỷ XX, Nxb Văn học 2008, tr380.

 

 

 

Các bài mới
Cenerentola (03/01/2013)
Các bài đã đăng