PHONG LÊ - NGUYỄN HOA BẰNG
Có lẽ không phải cho đến bây giờ, sau khoảng lùi hơn 80 năm, mà còn lâu, rất lâu về sau, chiến tranh vẫn cứ là một đề tài lớn, một kho chất liệu không thể nào vơi cạn còn nằm sâu trong ký ức của con người.
Bởi, có dân tộc nào trên thế giới trong thế kỷ XX vừa qua, phải sống trong bom đạn chiến tranh hoặc trong khí hậu của chiến tranh gần suốt bốn mươi năm (từ đầu thập niên bốn mươi đến hết thập niên tám mươi) như dân tộc Việt Nam? Và các vấn đề của thời hậu chiến với sự tàn phá và các di hại của nó thì biết đến bao giờ cho hết được! Điều dễ hiểu, sau tất cả những gì đã được viết trước 1975, với âm hưởng hào hùng và quy mô sử thi tương ứng và tương xứng với cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc, cuộc sống và số phận con người gắn với số phận đất nước vẫn cần được viết tiếp trong mọi khoảng lùi thời gian. Kể từ cuối thập niên bảy mươi, đầu tám mươi, một số ký và tiểu thuyết đã dần dần chuyển được vào quỹ đạo mới này như Ký sự miền đất lửa (1978) của Vũ Kỳ Lân và Nguyễn Sinh, Đất trắng, 2 tập (1974-1984) của Nguyễn Trọng Oánh, Đất miền Đông, 2 tập (1984) của Nam Hà, Lửa từ những ngôi nhà (1977), Những người đi từ trong rừng ra (1982) và Cỏ lau (1989) của Nguyễn Minh Châu... Đó là sự soi rọi vào nhiều góc khuất của đời sống mà trước đây do yêu cầu lịch sử người viết phải lảng tránh hoặc lướt qua. Là một âm điệu khác, không chỉ là hào hùng, thậm chí là rất ít dấu ấn hào hùng mà là bi tráng hoặc bi thống. Thế giới nhân vật vẫn cứ là hai tuyến, nhưng đã thay đổi cả hình hài và cốt cách để thực hơn, đời hơn và do thế mà đúng hơn. Bên cái được lớn là chiến thắng của dân tộc, đó là những thương tích, những mất mát và khổ đau của nhân dân như là cái giá phải trả... Một chân dung đầy đặn hơn, nhiều chiều cạnh hơn, và do vậy mà chân thực hơn của những con người thuộc về phía chiến thắng, trong bao bất hạnh và bi kịch của nó - đó là hướng viết sẽ được tiếp tục dồi dào hơn với các thế hệ đến sau.
Thế nhưng bước chuyển động này sau khi kết thúc cuộc chiến chống Mỹ là có khác với thời kết thúc chống Pháp hơn hai mươi năm về trước, sau chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève - 1954. Với tiểu thuyết chống Pháp, những sáng tác tiêu biểu, có quy mô và sức bao quát cao về chiến tranh, phải sau 1954, thậm chí phải chờ đến cuối thập niên năm mươi, đầu sáu mươi mới xuất hiện như Đất nước đứng lên (1955) của Nguyên Ngọc, Vượt Côn Đảo (1956) của Phùng Quán, Người người lớp lớp (1956) của Trần Dần, Một truyện chép ở bệnh viện (1959) của Bùi Đức Ái, Hoa hướng dương (1960) của Đoàn Giỏi, Trước giờ nổ súng (1960) của Lê Khâm, Cao điểm cuối cùng (1961) của Hữu Mai, Sống mãi với thủ đô (1961) của Nguyễn Huy Tưởng... Còn văn học chống Mỹ thì bước ngoặt đó là không thật rõ rệt, thậm chí có lúc dường như còn bị che khuất trước mênh mông biết bao nhu cầu mới của người đọc gồm miền Bắc đang trong những thử nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội không mấy thành công, và miền Nam vừa thoát ra khỏi chế độ Mỹ - ngụy còn ngổn ngang trong bao nỗi ly hợp. Bối cảnh hậu chiến và việc đi tìm một mô hình phát triển xã hội sao cho hợp quy luật, trong tình thế bối rối của dân tộc và trong khủng hoảng của phe xã hội chủ nghĩa khiến cho yêu cầu Đổi mới trở thành mối quan tâm hàng đầu và bao trùm kể từ Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp... Một lý do khác, dường như các cây bút chủ lực của thời chống Mỹ, số lớn đều đã để lại những trang hay nhất trong thời gian 1960 - 1975. Nguyễn Thi, hy sinh năm 1968, sau khi vào chiến trường được 6 năm, đã để lại những kiệt tác như Người mẹ cầm súng (1965) và Ở xã Trung Nghĩa (1966) mà nhiều chục năm sau hiếm có tác phẩm nào sánh bằng. Nguyên Ngọc với Rừng xà nu (1969) và Đất Quảng, Tập I (1971) dường như đã đạt được trọn vẹn một phong cách viết tiêu biểu nhất cho phong cách thời đại; thế nhưng sau 1975 ông đã không thể viết tiếp Đất Quảng Tập II. Phan Tứ bám rất chắc cục diện và chuyển động của chiến trường để có Gia đình má Bảy (1968), Mẫn và tôi (1972), như là một người viết sử số 1, không ai hơn được, hoặc thay thế được ở dải đất miền Trung lúc ấy, sau 1975 ông viết tiếp bộ ba tiểu thuyết Người cùng quê (1985 - 1995 - 1997) nhưng mọi nỗ lực mở rộng quy mô phản ánh vẫn với âm điệu sử thi quen thuộc của nhà văn lại không đáp ứng được những mong đợi mới của công chúng.
Như vậy là việc khẳng định sự hiện diện của đề tài chiến tranh như là một đề tài lớn trong bất cứ hoàn cảnh nào cần có thêm sự lưu ý đến những cảm hứng mới, những cách thức tiếp cận mới, những cách viết mới, chứ không phải là sự nối dài của quá khứ - dẫu là một quá khứ đã thực hiện trọn vẹn, và có thể nói là tối ưu yêu cầu lịch sử của mình. Bởi, viết về chiến tranh ở thời điểm hôm nay, nếu như người viết chỉ đơn thuần mong muốn nhờ vào khoảng lùi thời gian mà trở lại một sự tái hiện kỹ lưỡng hơn, đầy đủ hơn gương mặt chiến tranh trong tâm nguyện “trả nợ” hoặc “đền ơn đáp nghĩa” cho những người đã khuất... thì quả không dễ đem lại được cái gì mới hơn trong mong mỏi của người đọc.
Để tiếp tục đề tài chiến tranh trong khả năng đón nhận những vấn đề hôm nay của thời cuộc, sẽ có một thế hệ khác, nối tiếp và trẻ hơn. Trong số họ, số lớn hoặc hầu hết đều có tham gia chiến tranh như một chiến binh thực thụ, và sự nghiệp viết của họ chỉ bắt đầu sau khi chiến tranh kết thúc nhiều năm, thậm chí hàng chục năm. Trẻ hơn, họ không bị ràng buộc bởi những nhận thức cũ, những thói quen và kinh nghiệm cũ. Họ được tự do hơn trong mọi lựa chọn. Được sống và viết trong bối cảnh mới, không còn đối mặt với chiến tranh, mà là đối mặt với nhu cầu đổi mới và phát triển đất nước trong một thế giới tan băng đang dần dần chuyển vào kỷ nguyên giao lưu và hội nhập. Đón nhận bầu không khí mới của dân tộc và thời đại, lớp người viết mới này sẽ có một cách nhìn, cách nghĩ, cách thể hiện hiện thực chiến tranh khác hơn. Đề tài chiến tranh, với họ, không còn là một sự cô lập với các mặt sống khác của thời bình, của tâm lý và khát vọng con người trong thời bình. Không phải chỉ còn là sự giải tỏa ký ức của quá khứ hoặc sự trang trải những kỷ niệm dồn chứa của một thời... Đề tài chiến tranh, với họ, là gắn với sự sống nguyên khối gồm rất nhiều mặt sống khác, đang diễn ra và ràng buộc với nhau trong muôn mặt của cuộc đời. Tìm được cách đối thoại, cách tâm sự, cách hỏi đáp, cách giãi bày với những người đồng thời - đó là lối tránh những con đường cũ, và cũng là dấu hiệu đổi mới trong cách viết của một thế hệ trẻ hơn, kể từ Nguyễn Trí Huân với Chim én bay (1988), Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh (1991), Chu Lai - từ Ăn mày dĩ vãng (1992) đến Khúc bi tráng cuối cùng (2004), Trung Trung Đỉnh với Lạc rừng (2000), Xuân Đức với Bến đò xưa lặng lẽ (2004), Nguyễn Bảo với Thượng Đức (2005), Khuất Quang Thụy với Những bức tường lửa (2005), Trần Văn Tuấn với Rừng thiêng nước trong (2004), Bùi Thanh Minh với Cõi đời hư thực (2007), Nguyễn Quang Hà với Vùng lõm (2008), Từ Nguyên Tĩnh với Truyền thuyết sông Thu Bồn (2008), Đình Kính với Sóng chìm (2008), Đỗ Kim Cuông với Phòng tuyến sông Bồ (2009)... Trên đây chỉ là sự lược kể những tên tuổi chính trong tiếp nối, gần như không ngừng nghỉ thuộc thế hệ từng có trải nghiệm chiến tranh trong tư cách người lính, số lớn nay đã vào tuổi trong ngoài sáu mươi... Một thế hệ lớn tuổi hơn, thuộc lớp đàn anh trong tư cách người lính và người viết, với binh nghiệp và văn nghiệp từ chống Pháp hoặc đầu chống Mỹ vẫn tiếp tục viết những tác phẩm có thể là sự tiếp tục hoặc là sự tổng kết cho cả một đời văn của mình, để làm nên sự gắn nối xuyên suốt hành trình ba mươi năm chiến tranh cách mạng của dân tộc như Nam Hà với Ngày rất dài - 2 Tập (2004), Hồ Phương với Những cánh rừng lá đỏ (2005), Dũng Hà với Sông cạn (2006), Bùi Bình Thi với Xiêng Khoảng mù sương (2006), Nguyễn Chí Trung với Tiếng khóc của nàng Út (2008)...
Tôi thực sự áy náy về sự liệt kê mà không dừng lại, đi sâu vào bất cứ tác phẩm nào trong danh mục kể trên, vì đó là việc lớn cần cả một công trình chuyên sâu mới mong nói được đóng góp của mỗi tác giả, dường như ai cũng dốc cả vốn liếng và tâm huyết của mình cho những gì đã viết. Các tác phẩm trên số lớn đều đã được nhận các Giải thưởng, hoặc vào chung khảo các cuộc thi lớn về tiểu thuyết của Hội Nhà văn hoặc của Bộ Quốc phòng - điều đó nói lên sự trân trọng đón nhận của người đọc hôm nay về một đề tài dường như không bao giờ cũ. Và nếu chú ý đến sự xuất hiện khá dồn dập của tiểu thuyết chỉ trong dăm năm, và với sự tiếp tục của đội ngũ viết, ta cũng có thể thấy cái kho ký ức về chiến tranh gần như không hề vơi cạn, và đang được chuyển dần cho các thế hệ sau như Đỗ Tiến Thụy với Màu rừng ruộng (2006), Nguyễn Đình Tú với Nháp (2008), Nguyễn Thế Hùng với Họ vẫn chưa về (2009)... Ở các cây bút thuộc thế hệ 7X này, chiến tranh không phải là vốn sống trực tiếp, là kỷ niệm, do vậy mà không còn hiện ra trong nguyên khối, hoặc trong gắn bó với các sự kiện lớn của một thời đã qua, qua cách nhìn của một người viết sử, mà là sự giao thoa, xen cài với những mảng sống khác của thời bình, nhất là trong sự hình thành nhân cách một thế hệ trẻ, ở tư thế là chủ nhân hoặc là nạn nhân, hoặc là cả hai, đang hoặc sẽ là gương mặt chính của cái thời hôm nay, gọi là cái thời của họ - thì cũng được.
Như vậy đây là một sự tiếp tục, không phải như một nối dài của lịch sử, mà là một chuyển đổi của lịch sử. Đây là cách viết về chiến tranh sau chiến tranh. Viết về chiến tranh trong bối cảnh và yêu cầu của thời bình. Viết về chiến tranh cho một đối tượng đọc mới, với số đông, và ngày càng đông hơn là những thế hệ sinh ra trong hòa bình. Chính các thế hệ bạn đọc này sẽ quyết định gương mặt mới của văn học. Vấn đề không phải chỉ là trang trải, là dốc hết bản thân cho một món nợ phải trả; mà còn là, hoặc chủ yếu là tìm đến, là đón đợi một giao thoa và đồng cảm với các thế hệ bạn đọc mới; là đọc được ở họ những gì họ đang mong đợi...
Hy vọng đề tài chiến tranh trong sự kế tục của nhiều thế hệ viết sẽ còn hứa hẹn nhiều bất ngờ cho văn học trong những mùa màng tương lai. Hy vọng đó xem ra có được các tín hiệu lạc quan trong sự xuất hiện gần đây của một số tiểu thuyết mới nhận được sự đón đợi tích cực của công chúng, như Suối Cọp (Nxb. Hội Nhà văn, 2023) của Hữu Ước, và Khắc tinh với Thần Chết (Nxb. Văn học, 2023) của Lê Hoài Nam - cả hai tác giả đều thuộc thế hệ viết đầu 5x; cùng một nữ tác giả trẻ sinh 1979 là Phan Thúy Hà, với những tập truyện viết theo lối phi hư cấu: Đừng kể tên tôi (Nxb. Phụ Nữ, 2017), Tôi là con gái của cha tôi (Nxb. Phụ Nữ, 2019), Những trích đoạn của các anh (Nxb. Phụ Nữ, 2021), được tái bản nhiều lần trong hai năm 2020 và 2021. Nhìn ra văn học thế giới tôi muốn dẫn ra hai trường hợp quen thuộc để minh chứng cho lòng tin này. Một là M. Sholokhov (1905 - 1984), trong Thế chiến thứ hai, sau bộ sử thi trường thiên Sông Đông êm đềm (1925 - 1940), ông viết tiếp Họ chiến đấu vì Tổ quốc, và Khoa học căm thù trong tư cách một phóng viên chiến trường; 12 năm sau khi chiến tranh kết thúc mới có tiếp Số phận một con người (1956), một tiểu thuyết chỉ dăm sáu chục trang mà có một sức chứa ghê gớm để có thể thu lại rất nhỏ bao nhiêu là đau đớn, mất mát, thống khổ, cùng sức chịu đựng và vượt lên, trong tư cách một Con Người viết hoa ở một người lính Nga bình thường... Hai là L. Tolstoy (1828 - 1910), 14 năm sau kết thúc chiến tranh Nga - Pháp mới ra đời; thế mà trong khoảng lùi hơn năm mươi năm đối với sự kiện ông đã có thể viết Chiến tranh và hòa bình nhiều nghìn trang về một cuộc chiến như một thử thách cao nhất lòng yêu Tổ quốc Nga và sức mạnh của nhân dân Nga, về tính cách Nga và tâm hồn Nga... Như vậy, không chỉ những người sống trong chiến tranh như Sholokhov mà cả những người sinh ra sau chiến tranh như L. Tolstoy ai cũng có thể viết rất hay về Tổ quốc và Nhân dân trong một tương quan bình đẳng. Thu lại cho thật nhỏ đến chỉ còn hơn 1 nhân vật như Số phận một con người, hoặc mở ra cho hết độ rộng đến trên 500 nhân vật như Chiến tranh và hòa bình - cả hai đều có chung khuôn hình tiểu thuyết với tất cả sự sống mênh mông, kỳ diệu của nó, một sự sống chỉ với tư duy tiểu thuyết trong tính năng động khôn cùng của nó mới có thể đạt được sự chuyển tải.
Nhiều vạn trang và hàng trăm tiểu thuyết về chiến tranh đã ra đời; cùng nhiều chục vạn trang tư liệu đã được chuẩn bị qua các nhật ký, bút ký, ghi chép trên chiến trường hoặc hậu phương của những người viết chuyên hoặc không chuyên đã đến với bạn đọc nhiều thế hệ trong hơn hai phần ba thế kỷ qua. Như vậy là mọi ký ức về chiến tranh luôn luôn được trân trọng lưu giữ, và vẫn còn tiếp tục được bổ sung, đôi khi nhờ vào những may mắn đến bất ngờ như hai cuốn nhật ký của Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thùy Trâm năm 2005 cùng nhiều cuốn khác - trước và sau thời điểm này. Đó là điều không một chiến thắng nào của dân tộc trong lịch sử có thể sánh được. Và cũng chưa thể hình dung hết hiệu quả sự soi sáng tầm vóc của chiến thắng từ nhiều phía, với rất nhiều cự ly của không gian và thời gian, như nhật ký Đặng Thùy Trâm, sau hành trình 35 năm, qua nửa vòng trái đất, làm gắn nối thân thiết những con người từng là “kẻ thù” ở “phía bên kia” qua bộ phim Đừng đốt được nhận Giải Bông Sen Vàng trong Liên hoan phim Việt Nam 2009 của đạo diễn Đặng Nhật Minh. Tôi tin rằng: tất cả các thế hệ người viết đến sau sẽ không thiếu tư liệu, chất liệu cho sự khai thác qua tất cả những gì đã có, vẫn không ngừng được bổ sung thêm để có được tác phẩm lớn, nếu mỗi người trong họ vẫn nguyên vẹn một trái tim thiết tha với Tổ quốc, một gắn bó xương thịt với nhân dân; nếu số phận của nhân dân và Tổ quốc luôn luôn là niềm khắc khoải lớn, không bao giờ vơi cạn trong tấm lòng của họ.
Tôi nhớ nhà văn Hữu Mai (1926 - 2007), tác giả Cao điểm cuối cùng, Vùng trời, Ông cố vấn, từng nói một ý khiêm nhường là - ông cùng thế hệ ông chỉ mong làm được việc ghi chép sao cho thật nhiều, thật trung thực những gì mình đã sống, đã trải, còn việc xây dựng nên các tác phẩm lớn thì phải dành cho các thế hệ sau. Nhà văn cao niên Tô Hoài (1920 - 2014), có hành trình viết ngót bảy mươi năm cũng có một ý tương tự là thế hệ ông không mong có tác phẩm lớn vì nền văn xuôi Quốc ngữ của ta chỉ mới có một lịch sử ngắn so với nhiều nền tiểu thuyết trên thế giới. Nếu hai ý kiến này được sự đồng tình hoặc công nhận của nhiều người viết thì điều đó rất nên là một thông điệp gửi đến các thế hệ hôm nay và mai sau - như là một sự gửi gắm niềm tin cậy. Và như một cuộc bàn giao thế hệ.
P.L - N.H.B
(TCSH59SDB/12-2025)