ĐỖ MINH ĐIỀN
Từ viên thông ngôn đến quan Thượng thư
Thái Văn Toản (蔡文瓚), hiệu Thiện Khê (善溪), pháp danh Như Cơ (如基), ông sinh vào ngày 27 tháng 12 năm 1885, nguyên quán tại làng Quy Thiện (Tri Lễ xưa), một vùng đất học có tiếng, thuộc xã Hải Quy, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị (nay là xã Vĩnh Định, tỉnh Quảng Trị). Sinh ra trong một gia tộc quan lại, thân phụ của ông là Thái Văn Bút (1865 - 1939)1, mẹ là bà Công Nữ Nhĩ Ty2, hậu duệ ngài Tùng Thiện vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm.
Thái Văn Toản từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, tính tình nhu hòa, điềm đạm, nên được song thân hết lòng tin yêu, giáo dưỡng một cách cẩn mật và toàn diện. Ban đầu ông theo học chữ Hán. Sau đó, nhận thấy việc học chữ Hán không còn đắc dụng lắm nên ngài thân sinh Thiện Xuyên Thái Văn Bút quyết định gửi ông theo học trường Thông ngôn ở Hà Nội (Collège des Interprètes à Hanoi). Cũng như nhiều quan lại tham gia trong bộ máy chính quyền Nam triều dưới hai triều vua cuối của nhà Nguyễn, Thái Văn Toản xuất chính không theo con đường khoa cử Nho học truyền thống. Ông tốt nghiệp Trường Thông ngôn (tức phiên dịch) và bắt đầu làm Phó Thư ký - Thông ngôn ở Văn phòng Thống sứ Bắc Kỳ3 theo một quyết định4 có hiệu lực kể từ ngày 20/6/1902.
Ngày 15/3/1910, Thái Văn Toản (Thông ngôn hạng 5) được chỉ định ra tòa Công sứ ở Quảng Trị thay cho Ưng Úy5. Ngày 13/3/1912, Thái Văn Toản (Thư ký - Thông ngôn hạng 4) đang công tác tại tòa Công sứ Thanh Hóa được điều vào làm việc tòa Công sứ ở Vinh6. Vào tháng 5 năm 1918, từ Tham tá Tòa sứ Nghệ An, ông được trao hàm Hồng lô Tự khanh, sung chức Ngự tiền Thông sự (thay cho Hồng Đề)7, phụ trách việc phiên dịch cho Hoàng đế Khải Định. Năm 1921, ông được vua Khải Định gia ân ban thưởng một chiếc áo chiến ngự dụng, với lời dụ rằng: “Ngự tiền Thông sự Thái Văn Toản từ mệnh thông đạt, ứng đối phân minh, thật là Tử Sản8 của Nam triều, lại có phong thể đại thần, rất nên khen thưởng”9.
Ngày 01 tháng 3 năm Khải Định thứ 7 (1922), theo nội dung Châu dụ, chuẩn cho “Thái thường Tự khanh hiện sung Ngự tiền Thông sự là Thái Văn Toản nay chuẩn cho Thự Tham tri nhưng sung Ngự tiền Thông sự”10 phụng mệnh cùng theo đoàn hộ giá vua Khải Định sang Pháp dự hội chợ thuộc địa ở Marseille. Vào năm 1923, ông được điều vào làm Bố chánh Quảng Nam, còn Nguyễn Khoa Tân được cử làm Tổng đốc11. Tiếp đó vào năm 1924, ông về Huế nhậm chức Phủ doãn phủ Thừa Thiên12. Ngồi ghế Phủ doãn được một thời gian, năm 1926, ông được điều ra làm Tổng đốc Thanh Hóa.
Đến tháng 01 năm 1930, ông Tôn Thất Quảng (lúc này đang giữ chức Phủ doãn phủ Thừa Thiên) được điều ra làm Tổng đốc Thanh Hóa thay cho Thái Văn Toản về kinh nhậm chức Thượng thư Bộ Hộ13, sung Hội đồng Viện Cơ mật (gồm Nguyễn Hữu Bài, Hồ Đắc Trung, Võ Liêm, Tôn Thất Đàn, Phạm Liệu, Thái Văn Toản, Cao Xuân Xang)14. Ngày 28/02/1931, ông được phong hàm Hiệp tá Đại học sĩ. Sau đó, vào tháng 5 năm 1932, Thái Văn Toản khâm mệnh triều đình Huế sang Pháp nghênh giá Hoàng đế Bảo Đại hồi loan.
![]() |
| Ảnh 2: Trích nội dung bản Dụ số 29 (02/5/1933) về việc cải tổ Nội các. Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 184 (mai - 1933). |
Ngay sau khi về nước, vua Bảo Đại tuyên bố chấp chính và công bố kế hoạch cải cách của mình thông qua bản Dụ vào ngày 10 tháng 8 năm Bảo Đại thứ 7 (tức ngày 10/9/1932). Sau đó, vào ngày 08 tháng Tư năm Bảo Đại thứ 8 (02/5/1933), đạo Dụ số 29 được ban hành, với việc thay thế 5 vị Thượng thư uyên thâm Nho học bằng những vị quan “Âu - Á kiêm thông”. Đây được xem là cuộc cải cách lớn nhất về nhân sự trong thời gian ông trị vì. Nói về mục tiêu cải cách của mình, ông vua thứ 13 nhà Nguyễn cho biết rằng: “Trong lúc mới cũ đổi thay này, chánh quyền phải cho thống nhất, ta định tự ta ra cầm quyền chủ trương việc nước. Vậy chức Cơ Mật Viện trưởng đình bãi và từ nay về sau chỉ đặt có năm bộ: Bộ Lại, Bộ Quốc dân Giáo dục, Bộ Tài chính và Xã hội Cứu tế, Bộ Tư pháp, Bộ Công tác, kiêm Mỹ thuật và Lễ nghi”15.
Với quyết định mới này, 5 vị Thượng thư, gồm Nguyễn Hữu Bài (Viện trưởng Viện Cơ mật, Thượng thư Bộ Lại); Võ Liêm (Thượng thư Bộ Lễ); Tôn Thất Đàn (Thượng thư Bộ Hình); Phạm Liệu (Thượng thư Bộ Binh) và Vương Tứ Đại (Thượng thư Bộ Công) sẽ được cho về hưu trí.
Theo nội dung của bản Dụ, Bộ Binh chính thức bãi bỏ, toàn bộ công việc của bộ này sẽ tạm giao cho Bộ Lại kiêm lý. Người đứng đầu các bộ đều sung làm đại thần Cơ Mật viện, không phân biệt phẩm cấp, đều bình đẳng như nhau, định hạn bổ dụng là 3 năm16. Cũng theo nội dung bản Dụ, nhân sự mới của 5 bộ được bổ nhiệm như sau: Thái Văn Toản, hàm Hiệp tá Đại học sĩ, bổ Thượng thư Bộ Công tác kiêm Mỹ thuật và Lễ nghi; Phạm Quỳnh bổ làm Thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục, kiêm sung chức Ngự tiền Văn phòng Tổng lý đại thần; Hồ Đắc Khải, hiện làm Tổng đốc Bình Định, bổ về làm Thượng thư Bộ Tài chính và Xã hội Cứu tế; Ngô Đình Diệm, hiện lãnh Tuần phủ Bình Thuận, nay đặc cách thăng hàm Thượng thư, bổ Thượng thư Bộ Lại; Bùi Bằng Đoàn, hiện làm Tuần phủ Ninh Bình, đặc cách thăng hàm Thượng thư, bổ làm Thượng thư Bộ Tư pháp.
![]() |
| Ảnh 3: Nội dung bản Dụ số 50 (22/7/1933) về việc bổ nhiệm Thái Văn Toản làm Thượng thư Bộ Lại. Nguồn: Bulletin administratif de l’Annam, Année 1933 - N0 14 (02 septembre 1933), p. 1256, 1257. |
Đến tháng 7 năm 1933, sau khi Ngô Đình Diệm đệ đơn từ chức, Thái Văn Toản được vua Bảo Đại hạ chỉ bổ làm Thượng thư Bộ Lại (Đạo dụ số 50, 22/7/1933). Cùng lúc đó, Tôn Thất Quảng (đang làm Tổng đốc Thanh Hóa) được triệu về kinh lĩnh chức Thượng thư Bộ Công tác kiêm Mỹ thuật, Lễ nghi17. Vào ngày 22 tháng 12 năm 1935, Thái Văn Toản phụng mệnh phối hợp phụ trách thực hiện lễ nhập Huyền cung (lễ Ninh lăng) an táng đức Khôn Nguyên Thái hoàng thái hậu (tức bà Thánh cung) và sau đó là làm lễ đề Thần chủ.
Vào ngày 04 tháng 02 năm Bảo Đại thứ 13 (05/3/1938), vua Bảo Đại ký chuẩn y bản Thượng dụ tấn phong tước Nam cho Thái Văn Toản. Bản Thượng dụ này sau đó được tờ báo Tràng An đăng tải trên số ra 304 (18/3/1938) với nội dung như sau: “Hiệp tá Đại học sĩ, quản lãnh Lại bộ Thượng thơ, sung Cơ Mật viện đại thần Thái Văn Toản là một trọng thần có học thức rộng, lịch duyệt nhiều và có tiết tháo trung thành. Ngày trước, đã được đức Tiên đế giản tri. Giúp việc nhà nước hơn ba mươi năm. Đã từng giữ những chức trọng yếu. Ngày trước làm Tổng đốc Thanh Hóa chăm lo cho nhơn dân trong tỉnh ấy được yên ninh và thạnh vượng. Từ ngày sung Cơ Mật viện đại thần, lại giúp được nhiều việc quốc chánh, ban [bang] giao, thiệt có huân vọng. Lại hai lần sung Như Tây hộ giá và Nghinh giá, đã từng có lần gặp sự gian lao. Từ ngày trẫm hồi loan thân chánh, lại cùng các Cơ Mật viện đại thần đồng tâm giúp Trẫm trong việc quốc chánh, có được nhiều hiệu quả. Nay xét những huân nghiệp đặc biệt ấy, chuẩn tấn phong tước Quy Thiện nam, để tỏ ý Trẫm thể tất huân thần. Các sự nghi tấn phong trước do bộ sở quan chiếu lệ tuân hành. Khâm thử. Ngày mồng 4 tháng 2 năm Bảo Đại thứ 13 (5 mars 1938)”18.
Đến ngày 08/4/1938, tại Bộ đường của Bộ Lại, triều đình long trọng tổ chức nghi thức tuyên phong tước Quy Thiện nam19. Cũng trong dịp này, vua Bảo Đại ký sắc ban tặng cho Thái Văn Toản 2 cái áo gấm: Một cái sắc tía, thêu Viên long bằng kim tuyến và một cái áo sắc xanh, thêu chữ Thọ bằng kim tuyến.
![]() |
![]() |
| Ảnh 4: Nội dung bản Dụ số 31 (12/5/1942) về việc chuẩn y quyết định hồi hưu của Thái Văn Toản. Nguồn: báo Tràng An, số 16 (Bộ mới, 19/5/1942). |
Ngày 28 tháng 3 năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Bảo Đại năm thứ 17 (tức ngày 12 tháng 5 năm 1942), sau khi Thái Văn Toản dâng sớ xin về nghỉ, vua Bảo Đại ký ban bố bản Dụ số 31 (12/5/1942) chuẩn y quyết định cho “Hiệp tá Đại học sĩ, Quy Thiện nam Lại bộ Thượng thư, Cơ mật viện đại thần Thái Văn Toản” về trí sự. Do có nhiều huân công, nên đặc biệt chuẩn cho ông thăng thụ Đông Các Đại học sĩ trí sự20. Sau ngày hồi hưu, ông lui về an dưỡng tại tư dinh của mình ở địa chỉ số 36 đường Ngô Đức Kế (thành phố Huế).
Trong suốt bốn thập kỷ công tác, qua hai triều vua (Khải Định, Bảo Đại), với tài năng và sự mẫn cán của mình, Thái Văn Toản từ một viên chức Thông ngôn, lần lượt đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng, như Ngự tiền Thông sự, Bố chánh, Phủ doãn, Tổng đốc rồi Thượng thư của 3 bộ: Bộ Hộ, Bộ Công tác kiêm Mỹ thuật và Lễ nghi, Bộ Lại. Nếu tính từ thời điểm ông đảm trách Thượng thư Bộ Hộ vào năm 1930 cho đến khi về hưu (1942), Thái Văn Toản có gần 13 năm ngồi ghế Thượng thư.
Sau khi vua Bảo Đại thoái vị (1945), ông đi theo cách mạng. Ngày 19/02/1946, theo Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông lên đường tham gia kháng chiến cứu quốc. Năm 1947, ông làm Chủ tịch hội Liên Việt ở Khu Bốn và đến năm 1950, ông làm Cố vấn Ủy ban Mặt trận Liên Việt của Liên Khu IV21. Ông mất ngày 20 tháng Giêng năm Nhâm Thìn (15/02/1952), tại Bạch Ngọc (Anh Sơn, Nghệ An) vì căn bệnh Parkinson. Hiện nay, phần mộ hai ông bà được đưa về cải táng trong khuôn viên tổ đình Quy Thiện.
![]() |
| Ảnh 5: Phần mộ ông Thái Văn Toản và bà Công Tôn Nữ Lương Cầm trong khuôn viên chùa Quy Thiện. Nguồn: Đỗ Minh Điền (ảnh chụp ngày 23/02/2025). |
![]() |
| Ảnh 6: Tam quan Tổ đình Quy Thiện. Nguồn: Đỗ Minh Điền (ảnh chụp ngày 23/02/2025). |
Về gia quyến, Thái Văn Toản có tất cả 3 người vợ. Vị phu nhân đầu tiên là bà Công Tôn Nữ Như Nguyện, sinh năm 1890, pháp danh Như Cầu, tự Diệu Trí. Bà là trưởng nữ của Tri huyện Công Tôn Hường Thương và bà Nguyễn Thị Túy. Bà mất năm 1976, mộ táng trong khuôn viên Tịnh thất Hoàng Mai. Hai ông bà sanh hạ 3 người con gái: Thái Thị Thể Tần, vợ ông Trương Quang Du; Thái Thị Nghĩa, pháp danh Không Thúy và Thái Thị Hậu (về sau chính là Ni sư Thích Nữ Thể Quán, 1911 - 1982, vị tổ khai sơn Tịnh thất Hoàng Mai, Huế)22.
Vị phu nhân thứ hai của Thái Văn Toản là bà Công Tôn Nữ Lương Cầm (1894 - 1988), pháp danh Thanh Thiện, con gái của ông Nguyễn Phúc Ưng Đồng, phòng Tuy Hòa quận vương. Hiện nay, phần mộ ông Ưng Đồng được an táng kế cận mộ ông bà Thái Văn Toản. Bà Lương Cầm là chị gái ông Bửu Bành. Theo thứ tự di ảnh hiện đang được ký tự phụng thờ tại gian hữu ở khu vực hậu tổ chùa Quy Thiện và thông tin trong sách Lịch sử chùa Quy Thiện thì hai ông bà lần lượt hạ sinh tất cả 7 người con (6 gái 1 trai): Thái Thị Như Phiên (1914 - 1999), vợ ông Nguyễn Văn Đĩnh (1907 - 1998); Thái Văn Vượng (1917 - 11/11/1993), pháp danh Trừng Quang; nữ sĩ Minh Châu Thái Thị Hạc Oánh, sinh năm 1922; Thái Thị Thu Ngoạn (29/10/1923 - 21/4/2020), vợ bác sĩ Trần Văn Du; Thái Thị Như Lý, Thái Thị Như Ngọc và Thái Thị Như Mai.
Vị phu nhân thứ ba của ông là bà Lê Thị Cát, pháp danh Tâm Tường, sinh quán ở làng Quy Thiện. Ông Thái Văn Toản với bà Lê Thị Cát sinh hạ 3 người con: Thái Thị Diệu Ẩn (tức thế danh của Ni trưởng Tâm Nhẫn Diệu Thành, khai sơn Ni tự Tịnh Đức, Huế); Thái Thị Hiến và Thái Văn Liệu23.
Một lòng canh tân, một đời “quy thiện”
Trưởng thành từ môi trường giáo dục Tây học, lại sớm tiếp nhận các trào lưu, tư tưởng tiến bộ, chính vì vậy, ông là một trong những vị quan Nam triều nhiều lần thể hiện rất rõ quan điểm trong việc ủng hộ các hoạt động canh tân về văn hóa, giáo dục. Vào năm 1903, Thái Văn Toản cùng với Nguyễn Đình Hòe, Bùi Thanh Vân tích cực vận động thành lập hội Quảng Tri (Société d’Enseignement Mutuel de l’Annam) ở Huế24. Ông là một trong những thành viên có công sáng lập hội, đồng thời là hội viên gắn bó lâu dài và có nhiều đóng góp đối với sự phát triển của hội Quảng Tri.
Trên cơ sở nội dung bản tấu của Viện Cơ mật ngày 10 tháng 10 năm Bảo Đại nguyên niên (1926), vào ngày 23 tháng 10 năm 1926, J. D’Elloy - quyền Khâm sứ Trung Kỳ, duyệt y bản thể lệ chương trình, cho phép thành lập hội Như Tây Du học, với tên gọi đầy đủ: An Nam Như Tây Du học Bảo trợ hội (安南如西遊學保助會, Société d’Encouragement aux Études Occidentales Hué, viết tắt S.E.E.O). Hội Như Tây du học là một tổ chức bảo trợ du học, do Thượng thư Nguyễn Hữu Bài và các quan lại Nam triều thành lập với mục tiêu quyên góp tiền bạc để hỗ trợ “thuyền phí” cho các du học sinh xuất sắc sang Pháp du học. Sau ngày Nguyễn Hữu Bài mất (1935), một thời gian dài, Thái Văn Toản được Đại hội đồng suy cử làm Chánh Hội trưởng. Ông giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động của hội, góp công rất lớn trong việc bồi dưỡng và đào tạo lớp thế hệ trí thức Tây học xuất sắc.
Trong thời gian giữ chức Thượng thư Bộ Công tác kiêm Mỹ thuật và Lễ nghi, ông là người đề xuất việc cải đổi một số nghi thức tế lễ cung đình, như hạn chế lễ cúng tam sanh, nhằm giảm bớt gánh nặng chi phí hàng năm; bãi bỏ hoặc giảm đi các ngày lễ không thực sự cần thiết (lễ Đông chí, Hạp hưởng, Thượng tiêu, Trừ tịch, Hàn thực, Thất tịch, Trung thu, Trùng cửu...); thay đổi triều phục quan lại và hạn chế tục lệ đốt vàng mã, đồng cốt.
Đối với quê hương bản quán, Thái Văn Toản có công rất lớn trong việc vận động xây dựng đập thủy lợi Quy Thiện. Con đập này chính thức được khánh thành vào ngày 07/10/1942, với sự hiện diện của Hoàng đế Bảo Đại, Khâm sứ Trung Kỳ, cùng các quan lại cấp cao ở Trung Kỳ lúc bấy giờ. Công trình này sau khi đưa vào sử dụng góp phần giải quyết tình trạng “đất ruộng phần nhiều khô ráo, nước nôi lắm lúc thiếu khan, thành thử gặp khi đại hạn năng bị mất mùa”25, mang lại lợi ích to lớn trong việc tưới tiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp của người dân ở 5 làng: Thạch Hãn, Long Hưng, Trí Bưu, Trâm Lý, Quy Thiện (Quảng Trị).
![]() |
| Ảnh 7: Di dung bà Công Tôn Nữ Lương Cầm hiện thờ tại Tổ đường chùa Quy Thiện. Nguồn: Tống Kim Đính |
Xuất thân trong một gia đình quyền quý, Nho phong nền nếp, thân thích nội ngoại đều thuộc dòng dõi danh gia vọng tộc, nhiều đời thân tín Tam bảo. Duyên lành hội đủ, vào năm 1923, hai ông bà quyết định mua một sở đất nằm kế cận đàn Nam Giao, đối diện bên kia đường là Nghĩa trang chùa Ba Đồn, lập nên ngôi chùa nhỏ để tĩnh tâm tu tập. Ngôi chùa đó về sau chính là Tổ đình Quy Thiện.
Chùa Quy Thiện hiện nay tọa lạc ở địa chỉ số 20 đường Tam Thai (phường An Cựu, thành phố Huế), đó là ngôi phạm vũ uy nghiêm, cổ kính. Thế nhưng, hơn 100 năm về trước, sơ khai đây là một ngôi “thảo am” đúng nghĩa, kiến trúc giản đơn, chỉ toàn là tranh tre nứa lá. Thời gian đầu, do công vụ bận rộn thường xuyên, nên việc chăm nom chùa đều do một tay bà Lương Cầm đứng ra lo liệu. Bà cần mẫn, sớm hôm công phu không bỏ, tinh tấn tu học, tụng kinh lạy Phật siêng năng. Đến năm 1927, theo đề nghị của đại diện Bộ Lễ, chùa được triều đình ân ban Sắc tứ Quy Thiện tự (勅賜歸善寺) và năm 1928, điện Ứng Huệ cũng được xây dựng. Vào năm 1937, Thái Văn Toản cùng phu nhân cung thỉnh ngài Chơn Đạo Chánh Thống26 (đạo hiệu Bích Phong, cao đồ của tổ sư Ngộ Tánh Phước Huệ) làm trụ trì chùa Quy Thiện. Trong lời Tựa của tác phẩm Thủy nguyệt tòng sao (水月叢抄), do chính thiền sư viết vào năm 1953, có đoạn nhắc đến sự kiện này: “Đến năm Đinh Sửu (1937), thời gian thấm thoát tính đốt tay thì đã 38. Mùa đông năm đó vị hội chủ khai sáng chùa Quy Thiện là nam tước Đông Các Đại học sĩ Thái tướng công cùng phu nhân vâng ý chỉ của Khôn Nghi Thái hoàng thái hậu mời ta làm tọa chủ của chùa ấy”27.
Công đức sáng lập tổ đình Quy Thiện của hai ông bà vẫn còn lưu lại trên đại hồng chung được đúc vào ngày 19 tháng 02 năm Bảo Đại thứ 14 (1939), trong đó có đoạn: Sắc tứ Quy Thiện tự sáng lập chủ Lại bộ, Hiệp biện đại thần Quy Thiện nam Thái tướng công phu nhân Tuy Hòa quận vương phòng Công Tôn Nữ pháp danh Thanh Thiện cung chú (勅 賜 歸 善 寺創 立 主 吏 部 協 辦 大 臣 歸 善 男 蔡 相 公 夫 人 綏和 郡 王 房 公 孫 女 法 名 清 善 恭 鑄). Linh vị của ông được tôn trí tại tổ đường chùa Quy Thiện khắc dòng chữ: Việt Nam quốc, Lại - Binh bộ Thượng thư sung Cơ Mật viện đại thần, cáo thụ Đặc tiến Vinh Lộc đại phu, Hữu Trụ quốc, Quy Thiện nam Thái Thiện Khê, thụy Văn Nghị tướng công chi linh vị (越 南 國, 吏 兵 部 尚 書 充機 密 院 大 臣, 誥 授 特 進 榮 祿 大 夫 ,右 柱 國, 歸 善男 蔡 善 溪, 謚 文 誼 相 公 之 靈 位).
Với 40 năm tận tụy phụng sự triều chính, nhờ tài năng, uy tín của mình, ông được chính quyền Nam triều rất mực trọng dụng, bổ nhiệm hàng loạt các chức vụ trọng yếu. Không chỉ nổi tiếng là thanh liêm, chính trực, Thái Văn Toản còn được biết đến là vị quan hết lòng yêu nước thương dân. Ông để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân tại các tỉnh Quảng Nam, Thanh Hóa, Quảng Trị, xứng danh là bậc “dân chi phụ mẫu”. Đối với Phật giáo Huế nói riêng, tên tuổi và công đức của ông trong việc kiến tạo ngôi chùa Quy Thiện sẽ mãi lưu danh muôn đời.
Đ.M.Đ
(TCSH59SDB/12-2025)
----------------------
1 Thái Văn Bút (蔡文筆), hiệu là Thiện Xuyên (善川), ông nguyên là Tri huyện Vũ Tiên (Thái Bình), ngạch quan Bắc Kỳ, phong là Đô úy Hữu đô Ngự sử (tòng nhị phẩm). Sau khi ông mất được truy thụ Thượng thư Lễ bộ, cáo thụ Tư Thiện đại phu, thụy Trang Lượng. Ông mất vào buổi sáng ngày 05 tháng 4 năm Kỷ Mão (23/5/1939) tại chùa Quy Thiện (Huế), hưởng thọ 74 tuổi. Theo tâm nguyện của ông lúc sinh tiền, tang lễ được tổ chức khá giản đơn, chỉ có hoa tươi, hương trầm, tang quyến không nhận phúng điếu bằng đối trướng, vòng hoa bằng cườm hoặc bằng sắt. Xem thêm:
- Annuaire général de l’Indo-Chine: 1906 (Partie administrative), Imprimerie F.H. Schneider, Hanoï, 1906, p. 376.
- Báo Tràng An, Tang lễ cụ Lễ bộ Thượng thơ Thái Văn, số 424 (02/6/1939), tr. 2.
2 Gouvernement général de l’Indochine, Souverains et Notabilités d’Indochine, Imprimerie I.D.E.O, Hanoï, 1943, p. 93.
3 Gouvernement général de l’Indochine, Souverains et Notabilités d’Indochine, Sđd, p. 93.
4 Bulletin administratif du Tonkin, Année 1902 - N0 13 (07 juillet 1902), p. 433.
5 Bulletin administratif de l’Annam, Année 1910 - N0 7, p. 164.
6 Bulletin administratif de l’Annam, Année 1912 - N0 5, p. 158.
7 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên, đệ thất kỷ, Bản dịch Cao Tự Thanh, Nxb. Văn hóa Văn nghệ, 2012, tr. 204.
8 Tử Sản là một đại phu nước Trịnh thời Xuân Thu, ông nổi tiếng có tài trị quốc.
9 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên, đệ thất kỷ, Sđd, tr. 314.
10 Nguyễn Cao Tiêu, Ngự giá như Tây ký, Imprimerie Đắc Lập, Huế, 1923, tr. 10.
11 Annuaire général de l’Indo-Chine: 1924 (Partie commerciale), Imprimerie d’Extrême-Orient, Hanoï-Haiphong, 1924, p. 305.
12 Đỗ Minh Điền, Huế và triều Nguyễn, theo dấu thời gian, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2024, tr. 47.
13 Hà Thành ngọ báo, Ông Tôn Thất Quảng, Phủ doãn Thừa Thiên sẽ thay ông Thái Văn Toản lĩnh chức Tổng đốc Thanh Hóa, số 733 (15/01/1930), tr. 1.
14 Annuaire administratif de l’Indochine: 1930, Imprimerie d’Extrême-Orient, Hanoï, 1930, p. 340.
15 Hà Thành ngọ báo, Cuộc cải cách lớn trong chánh phủ Nam triều, số 1701 (04/5/1933), tr. 1.
16 Sau đó, vào ngày 20 tháng 3 năm Bảo Đại thứ 11 (11/4/1936), vua Bảo Đại ký bản Dụ số 29, về việc bổ dụng không kể kỳ hạn đối với các quan Thượng thư. Nội dung bản Dụ có đoạn: “Các quan Thượng thư sung Cơ Mật Viện đại thần do Dụ số 29 ngày mồng 8 tháng 4 năm Bảo Đại thứ 8 (02/5/1933), Dụ số 50 ngày 30 tháng 5 nhuận năm Bảo Đại thứ 8 (22/7/1933) và Dụ số 16 ngày mồng 7 tháng 02 năm Bảo Đại thứ 10 (11/3/1935) bổ dụng, đều chuẩn cho nhưng lưu, không kể kỳ hạn. Khâm thử”. Xem thêm: Báo Sao Mai, Hoàng thượng đã hạ Dụ giữ lại cả sáu quan Thượng thư, số 115 (17/4/1936), tr. 1.
17 Xem thêm:
- Bulletin administratif de l’Annam, Année 1933 - N0 14 (02 septembre 1933), p. 1256-1257.
- Hà Thành ngọ báo, Sau khi quan Thượng Bộ Lại Ngô Đình Diệm từ chức, quan Thượng Bộ Công Thái Văn Toản thăng thiên Lại bộ Thượng thư, số 1769 (27/7/1933), tr. 2.
18 Báo Tràng An, Đạo Thượng dụ tấn phong tước Nam cho quan Thượng thơ Thái Văn Toản, số 304 (18/3/1938), tr. 1.
19 Báo Tràng An, Một khánh lễ rất trọng thể cử hành tại Bộ đường Bộ Lại, lễ tuyên phong tước Quy Thiện nam cho cụ lớn Thái Văn Toản Thượng thơ Bộ Lại, số 311 (12/4/1938), tr. 1-2.
20 Cũng trong ngày 12/5/1942, vua Bảo Đại ký tiếp bản Dụ số 32, về việc phê chuẩn quyết định hồi hưu (đến hạn) đối với Tôn Thất Quảng (Thượng thư Bộ Công tác kiêm Mỹ thuật và Lễ nghi) và Nguyễn Khoa Kỳ (Thượng thư Bộ Xã dân Kinh tế). Sau đó, tại bản Dụ số 33, chuẩn cho Phạm Quỳnh (Hiệp tá Đại học sĩ, lãnh Thượng thư Bộ Giáo dục, sung Tổng lý Ngự tiền Văn phòng, Cơ Mật viện đại thần) cải lãnh Thượng thư Bộ Lại, kiêm chưởng Binh bộ sự vụ; Ưng Úy (Tổng đốc Thanh Hóa) cải thọ làm Thượng thư Bộ Công tác kiêm Mỹ thuật và Lễ nghi, sung Cơ Mật viện đại thần; Trần Thanh Đạt (Tuần phủ Bình Thuận) thăng thọ Thượng thư Bộ Giáo dục, sung Cơ Mật viện đại thần và Trương Như Đính (Tuần phủ Phú Yên) thăng thọ Thượng thư Bộ Kinh tế, sung Cơ Mật viện đại thần. Xem thêm: Báo Tràng An, Một cuộc thăng thưởng lớn trong chính phủ Nam triều, số 16 (Bộ mới, 19/5/1942), tr. 1,2.
21 Thích Trung Hậu, Thích Hải Ấn, Chư tôn Thiền đức và Cư sĩ hữu công Phật giáo Thuận Hóa, Tập 3, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2016, tr. 475.
22 Lịch sử chùa Quy Thiện, Huế, 2012, Tài liệu lưu hành nội bộ, tr. 18.
23 Lịch sử chùa Quy Thiện, Huế, 2012, Tài liệu lưu hành nội bộ, tr. 18-19.
24 Ngày 29/9/1905, Khâm sứ Trung Kỳ, ông Moulié, chấp bút ký chuẩn y quyết định cho phép thành lập hội Quảng Tri.
25 Báo Tràng An, Chung quanh cuộc ngự du ở Quảng Trị, Chúc từ của cụ Đông Các Quy Thiện đọc vào dịp khánh thành đập Quy Thiện ngày 7 octobre 1942, số 72 (Bộ mới, 15/10/1942), tr. 1.
26 Hòa thượng Chơn Đạo Chánh Thống sinh vào ngày 18/02/1901, người làng Trung Kiên, huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Văn bia trên tháp mộ thiền sư tại chùa Quy Thiện khắc: Tự Lâm Tế tứ thập thế trùng hưng Quy Thiện tự trú trì, húy Chân/Chơn Đạo, tự Chánh Thống, hiệu Bích Phong hòa thượng bảo tháp (嗣 臨 濟 四 十 世 重 興 歸 善 寺 住 持 諱 真 道 字 正 統 號 碧 峰 和 尚 寶 塔).
27 Lê Mạnh Thát, Toàn tập Chân Đạo Chánh Thống, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2004, tr. 111.