Tạp chí Sông Hương - Số 444 (T.02-26)
Hình ảnh con ngựa trong tâm thức của người Huế
08:51 | 13/02/2026


TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG

Hình ảnh con ngựa trong tâm thức của người Huế
Ngựa thờ ở chùa Ông, phường Hóa Châu

1. Tục thờ ngựa ở Huế

Ngựa là một trong những loài vật vốn thông minh, khôn ngoan, nhanh nhẹn cho nên nó thường được kề vai sát cánh cùng con người xông pha trận mạc. Hình tượng ngựa xuất hiện trong tâm thức của người Huế về mặt tâm linh từ việc thờ tự đã được lưu truyền. Vì họ quan niệm, ngựa thần là biểu tượng tài lộc, thành công, trung thành, kiêu hãnh, tự do, cho nên tục thờ ngựa ở Huế được thể hiện trên nhiều góc cạnh khác nhau, mang những giá trị tôn giáo khác nhau.

Ngựa được con người thuần hóa và sử dụng trong đời sống hằng ngày, vì ngựa có nghĩa với chủ cho nên được người đời tạc tượng ngựa bằng gỗ quý, bằng đá để thờ hoặc đứng chầu ở lăng tẩm, đền đài, cung điện. Khi tham quan các lăng tẩm ở Huế, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều tượng ngựa đá được dựng ở hai bên sân chầu, trước bi đình, ý nghĩa của việc làm đó được hiểu “Trung thành với chủ là phẩm chất cao quý nhất của loài ngựa. Cho nên trong làng xã dân gian Huế hiện còn bảo lưu tục thờ ngựa ở lăng mộ các ngài khai canh, khai khẩn, điện am, miếu chùa, đình, hội quán”1.

Trên các nẻo đường của làng quê xứ Huế như Phú Ốc, Vạn Xuân, Thủ Lễ, Xuân Hòa, Lại Ân, Công Lương vẫn còn tục thờ ngựa với miếu thờ thần Bạch Mã gọi là miếu Thái giám Bạch Mã. Dưới triều Nguyễn các vị vua đã phong tặng danh hiệu “Bạch Mã Thái giám tôn thần” cho làng thờ tự. Các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đều có sắc phong cho vị thần này. Ví như sắc phong thời vua Minh Mạng cho làng Lại Ân như sau “Gia tặng mỹ tự Lợi Vật cho Thần Thái Giám Bạch Mã vì đã có công bảo vệ nước, che chở dân, được phụng thờ ở làng Lại Ân, huyện Phú Vang”; hoặc “Gia tặng Lợi Vật Kiện Thuận Hòa Nhu Bổn Thổ Bạch Mã cho Thần Lợi Vật Kiện Thuận Bổn Thổ Bạch Mã vì đã có công bảo vệ đất nước, che chở dân, nhiều năm linh ứng, được phụng thờ ở làng Vạn Xuân, huyện Hương Trà”2. Và trong dân gian quan niệm đây là “một loại ngựa thần, để cho thần cưỡi có màu lông trắng và không có giới tính, thường linh hiển. Có làng còn thờ với một cốt tượng ngựa trắng”3.

Tại Huế, ở các khu phố của người Hoa như Chợ Dinh, Bao Vinh, Thanh Hà, Minh Hương, La Khê, Gia Hội vẫn còn lưu giữ tục thờ Quan Công và con ngựa Xích Thố của ngài. Bởi vì khi những lưu dân người

Hoa đến xứ Thuận Hóa họ đã “lập miếu thờ, vừa là nơi để tạ ơn và nơi để gửi gắm đức tin, tiếp tục cầu nguyện sự linh ứng của Ngài”4. Chính vì thế tục thờ Quan Công tại các hội quán và chùa Ông của người Hoa ở các phường Hóa Châu và Phú Xuân vẫn được duy trì và linh hiển, cũng là nơi hội tụ tình nghĩa đồng hương bao đời nay của cộng đồng người Hoa ở Huế.

Ngoài ra, trên địa bàn thành phố Huế, tục thờ Quan Công và ngựa Xích Thố được thờ ở các chùa Quy Thiện, Thiện Khánh, Quang Bảo, Phổ Quang, Phổ Tế, Đông Thuyền, Phước Duyên, Từ Hiếu, Sùng Hóa; thờ ở điện Hòn Chén; thờ ở Thánh thất Cao đài Vĩnh Lợi; thờ ở các làng Phú Ốc, Quy Lai, Khuông Phò, Công Lương, Phú Lễ, Đức Bưu và tại các tư gia “đã chứng minh sức ảnh hưởng và niềm tin mạnh mẽ đối với tục thờ này tại vùng Huế”5.

Đối với các tư gia ở Huế đều có lập am miếu để thờ, phổ biến nhất là miếu thờ các cậu, ông Chiêm Thành, ông Quận, đều có bài trí thờ ngựa gồm ngựa đỏ, ngựa giấy và ngựa gỗ với các màu sắc chủ yếu là đỏ, trắng và đen “người dân quan niệm khi các vị thánh còn sống thì dùng ngựa đó xuất quân ra trận, dẹp loạn, đem bình yên cho đất nước, nên khi chết họ vẫn dùng ngựa để đi lại, chầu hầu. Theo đó, ngựa dùng cho Tôn Ông ngự giá, chu du, hành; ngựa trắng để thờ các Cậu Ngoại Càng, và ngựa đỏ dùng cho các vị Chiêm Thành”6. Khi những am không dùng nữa hoặc những con ngựa thờ đã hết hạn tâm linh thì gia chủ đem đến các gốc cây cổ thụ, các am miếu, chùa, đình để ký thác hồn ngựa thờ vào đó, đợi đến khi nào các thân ngựa này tan biến coi như đã xong một kiếp trần và ngựa mới sẽ được thay thế.

Những tượng ngựa thờ, thân ngựa được tạo với chất liệu gỗ, đá, gốm, sành sứ có thể là đồ cổ với thời gian dài lên màu men màu nước rất đẹp. Và với trình độ trang trí của những nghệ nhân tạo tác ngựa thờ cũng là một sáng tạo mỹ thuật với những đường nét vẽ, khắc, chạm vào thân ngựa, yên ngựa, dây cương, bàn đạp, và các họa tiết phụ trợ khác làm cho người thờ cũng vui lòng và các vị thần cũng ưng ý. 

2. Hình ảnh con ngựa qua nghệ thuật dân gian và cung đình

Trong nghệ thuật hội họa có nhiều họa sỹ ở Huế lấy hình ảnh con ngựa làm cảm hứng sáng tạo như họa sỹ Bửu Chỉ nổi tiếng với các bức tranh Ngựa đá, Ngựa và hoa, Làm xiếc; họa sỹ Đặng Mậu Triết với bức tranh Nàng thơ và Ngựa đá; họa sỹ Dương Đình Sang với bức tranh Ngựa; họa sỹ Đặng Mậu Tựu với bức tranh Xiếc ngựa. Các bức ảnh chụp tranh ngựa đã được thể hiện trên các trang bìa của Tạp chí Sông Hương, Tạp chí Huế Xưa và Nay cùng nhiều trang bìa sách của nhiều tác giả.

Các đền am miếu điện làng xã dân gian xứ Huế, hình ảnh ngựa được tạc, đắp nổi ở các vách bên ngoài, vẽ trên các án thờ, nhằm thể hiện sự tôn trọng các vị thần linh vì ngựa là con vật mà các thần linh cưỡi xuống trần gian cứu nhân độ thế.

Trong cung đình, ngoài dân gian, hình ảnh con ngựa được các nghệ nhân, họa sỹ thể hiện bằng đôi bàn tay tài hoa của mình qua từng nét vẽ đã tạo nên thần thái của những con ngựa trong tranh vẽ, tượng, hình đắp nổi.

Trong khi đó, “Trên các công trình kiến trúc của Huế đều có ngựa trang trí, ở các lăng vua, mỗi bái đình đều hai hàng tượng quan viên văn võ và voi, ngựa chầu hầu. Trong đó, ngựa đứng bậc thứ 3 sau quan văn quan võ và trên những tượng lính”7.  Ở các lăng vua Khải Định, Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, các hình nề đắp nổi về ngựa được điểm tô sắc nét, giữ độ bình dị nhưng rất oai phong và trường tồn qua thời gian:

Ở điện Khải Thành của lăng vua Khải Định, “Hình tượng con ngựa xuất hiện trên các ô hộc trang trí nơi tiền điện cùng với mười con vật khác. Ở đó, ngựa được đắp bằng sành sứ và thủy tinh”8.

Bộ Cửu đỉnh Huế đặt trước Thế Miếu, cũng có hình ảnh con ngựa được khắc trên Anh đỉnh là một tác phẩm mỹ thuật đặc sắc của công nghệ đúc đồng Việt Nam vào thế kỷ XIX.

Ngựa trên Anh đỉnh


Trong kho tàng Tục ngữ xứ Huế, hình ảnh con ngựa được ví von bằng những câu từ ngắn gọn cũng không nằm ngoài mục đích giáo dục đạo đức, đạo lý của con người như9: Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn; Ngựa hay có chứng/ Ngựa tốt thường có chứng tật; Ngựa hay, chạy đường dài mới biết; Ngựa loong coong ngựa cũng đến bến/ Voi trẹm trện voi cũng đến đò; Ngựa non háu đá; Ngựa quen đường cũ; Ngựa chạy bốn chân còn vấp, huống chi người.

Trong tranh làng Sình, hình ảnh con ngựa được thể hiện ở bộ tranh 12 con giáp với đường nét in từ mộc bản, đơn giản, màu đen, thanh thoát nhưng lại rất mãnh liệt. Trong tranh cúng dâng lễ thành của người phụ nữ, cũng phải có bức tranh voi ngựa bên cạnh những bức tranh mang nhiều đề tài khác như đồ vật, ghe thuyền để dâng cúng.

Một giá trị khác của yếu tố mỹ thuật liên quan đến hình tượng con ngựa ở Huế đó là sự xuất hiện của hình tượng Long mã trong hệ thống kiến trúc cung đình lẫn dân gian. Long mã là hóa thân của kỳ lân, là sự kết hợp đặc biệt giữa rồng, lân và ngựa. Đó là một linh thú có sừng và bờm của rồng, mình của con hươu xạ, thân có vảy của kỳ lân, chân và móng của ngựa. Theo truyền thuyết, “Long mã xuất hiện trên sông Hoàng Hà, dưới thời Phục Hy. Mình xanh, vằn đỏ, trên lưng có mang bức Hà đồ (hay Mã đồ), là sách trời ban cho vua để trị nước. Ngoài ra, Long mã còn là linh vật của Phật giáo, bởi nó thường cõng trên lưng Luật Tạng một trong ba phần cốt tủy của kinh sách nhà Phật (Tam Tạng Kinh)10. Bình phong Long mã ở Trường Quốc Học Huế là “biểu hiện tinh hoa và cốt tủy của đất văn vật, nói lên quốc hồn quốc túy tức hồn nước của giang sơn cẩm tú này.”11.

Ở Huế hình ảnh Long mã còn xuất hiện nhiều tại các công trình kiến trúc, bình phong, trên tai các tam quan hay đường diềm án thờ và một số ô hộc nề vữa khảm sành sứ, các cổng gạch từ trong cung đình ra ngoài dân gian.

3. Chuyện ngựa chôn chung với chủ

Trong truyền thuyết dân gian xứ Huế, đã có những câu chuyện kể về việc ngựa và chủ gắn bó với nhau trong trận mạc, rồi cùng chết chung, chôn chung một mộ nhằm biểu thị đức tính thủy chung của loài ngựa đối với con người. Mỗi câu chuyện có ý nghĩa và giá trị văn hóa, lịch sử riêng của nó.

Câu chuyện thứ nhất: Ở làng Thạch Bình, xã Quảng Điền, thành phố Huế có câu chuyện kể về vị thượng tướng quân họ Nguyễn như sau: “Vị thượng tướng người họ Nguyễn, trên đường đánh giặc trở về đã đánh chết cọp ba chân gây hại cho cả một vùng. Sau đó, ông và con ngựa của ông cũng kiệt sức mà chết. Dân làng đem ông, ngựa và cọp đem chôn ngay tại nơi ông mất thuộc địa phận làng Thạch Bình. Ngày nay, vẫn còn dấu tích đó là mộ ba tầng vẫn được nhân dân làng Thạch Bình và Thủ Lễ thờ phụng.”12. Cũng là chuyện kể về vị tướng họ Nguyễn nhưng lại có thêm vài chi tiết khác: “Vị tướng quân dõng dạc nói với con cọp: Ta đang gấp việc nước, hẹn ngươi khi nào xong việc trở lại sẽ cùng giao đấu. Y hẹn, khi vị tướng quân trở lại cọp liền ra nghinh đấu. Nhưng mãnh hổ gặp mãnh tướng, sau nhiều hiệp giao đấu bất phân thắng bại, cuối cùng thì cọp kiệt sức và đói khát, người và cọp cùng gục chết bên nhau. Con ngựa của vị võ tướng bị cột chặt sau đó cũng chết theo chủ vì đói khát. Khi xác của cả ba được phát hiện, cám cảnh, người ta đã chôn ngay tại chỗ người, cọp và ngựa chung một nấm mộ, biểu tượng bởi ba tầng.”13.

Câu chuyện thứ hai: Ở làng An Nông (nay thuộc xã Hưng Lộc, thành phố Huế) người dân còn lưu truyền câu chuyện kể về Người khai canh làng An Nông như sau: “Nguyễn Đà người làng An Nông, là một võ tướng tài danh. Ông cầm quân đánh giặc ở phía nam. Khi thắng trận trở về thì không ngờ ông bị địch phục binh, chém đứt đầu.

Ông Đà nhặt đầu lên, lắp vào cổ chạy tiếp đến La Sơn thì ngã xuống chết. Ngựa vẫn tiếp tục chạy về làng, báo tin cho dân làng biết, và dẫn họ đến chỗ ông ngã ngựa. Mọi người đến nơi, thấy mối đùn lên vùi xác ông. Con ngựa đau buồn, đã nhảy xuống sông gần đó mà chết. Dân làng thấy con ngựa có nghĩa nên đã chôn ngựa bên cạnh ngôi mộ của chủ nó. Hiện nay hai ngôi mộ ấy vẫn còn.

Ông được tôn là ngài khai canh của làng, được sắc phong Dực bảo trung hưng linh phò chi thần. Trong hai ngày lễ hội vào tiết Đông chí, để tưởng niệm ngài khai canh Nguyễn Đà, có đám rước nghênh thần kéo dài đến hai cây số, từ ngôi mộ đến đình làng, bắt đầu là đội đi đầu, gọi là tiền quân, có cáng võng và một con ngựa gỗ đi sau, tiếp theo là trung quân, sau đó là một đội hậu quân gồm cờ xí bài vị của ông và lam ba, lỗ bộ. Cuối đoàn là các bô lão.

Dịp tế lễ này, để tỏ sự uy nghiêm, làng có lệ các thợ rèn, thợ hàn không được hành nghề”. Nhân dân trong vùng còn kể thêm rằng, thỉnh thoảng Ngài vẫn cưỡi ngựa trắng bay trên trời; anh linh phù trợ cho con cháu.

Câu chuyện thứ ba: Ở làng Bồ Điền, phường Phong Thái, thành phố Huế có câu chuyện kể về Người khai khẩn làng Bồ Điền rằng: “Đời Hậu Lê, trong một trận đánh nhau giữa nhà Lê và nhà Mạc, quân nhà Lê bại trận, tướng sĩ tan tác mỗi người một ngả. Một vị tướng của Lê triều họ Phạm bị chém ngang cổ, đầu gần lìa nhưng một tay vẫn nắm sợi dây cương, một tay giữ đầu phi ngựa tìm đường lánh nạn. Cùng phóng chạy với tướng Phạm còn có hai người dưỡng tử. Cả ba người chạy nhiều ngày đêm, cuối cùng đến địa phận làng Bồ Điền. Đến đây, tướng Phạm ngã ngựa. Trẻ chăn trâu quanh đấy liền chạy đến. Tướng Phạm hỏi bọn chúng rằng:

- Đầu ta sắp rơi rồi, ta có sống được nữa chăng?

Bọn mục đồng nhìn đầu và khóc.

- Ngài không thể sống được rồi!

Vị tướng thở dài, biết khí số mình đã hết, nên bảo bọn chúng:

- Hãy về gọi tất cả người trong làng lại đây cho ta!

Khi dân làng tề tựu đông đủ, tướng Phạm kể cho họ nghe lai lịch của mình, kể xong thì ông chết. Dân làng cúi rập đầu trước thi hài vị tướng, khóc lóc thảm thiết. Một dưỡng tử tự vẫn. Con ngựa tướng Phạm cưỡi cũng hí lên một tiếng rồi chết luôn. Người dưỡng tử còn lại theo lời trăng trối của cha nuôi về báo với triều đình. Vua Lê hay tin, cử đại thần đến làng Bồ Điền làm tang lễ cho vị tướng. Nhiều người thuộc dòng họ Phạm của ngài cũng theo đoàn triều đình đến làng Bồ Điền sinh sống. Từ đó khai sinh ra họ Phạm ở đất này.

Về sau, tướng Phạm được con cháu tôn làm thủy tổ dòng họ Phạm ở Bồ Điền, với tên Phạm quý công, được dân làng tôn làm ngài khai khẩn. Đến nay, ngôi mộ táng ngài ngày xưa vẫn còn, được nhân dân địa phương hương khói quanh năm”.

Câu chuyện thứ tư: Ở làng Hương Lâm, (nay thuộc phường Phong Thái, thành phố Huế), cũng có câu chuyện liên quan đến ngựa và chủ, đó là chuyện Người khai khẩn làng Hương Lâm, chuyện kể rằng: “Ngày xưa, có một vị tướng họ Nguyễn, quê ở vùng sông Hồng, đã chỉ huy binh lính khai khẩn một vùng đất rộng lớn trải dài từ Đông Nam hạ qua Đồng Dạ và đến tận Đồng Lâm (thuộc phường Phong Thái, thành phố Huế ngày nay).

Sau gần ba mươi năm đi khai hoang vỡ hóa, ông tướng Nguyễn về quê hương để thăm viếng tổ tiên. Khi trở lại vùng đất Phong Điền, nơi ông đã dày công khai khẩn, đã có rất nhiều người từ làng quê, dòng họ ông xin đi cùng để được định cư trên vùng đất mới.

Có lẽ do đường sá xa xôi, đi lại vất vả, lại phải quán xuyến một đoàn người đông đảo, nên vừa về đến vùng quê mới, tướng Nguyễn lâm bệnh và ngã ngựa tại Hương Lâm. Khi ông ngã xuống chết, con ngựa của ông bỗng hí lên một tiếng đau đớn rồi gục xuống bên chủ mà chết theo. Những người trong đoàn cố gỡ xác ngựa ra khỏi vị tướng nhưng không được. Đêm hôm đó, đất bỗng đùn thành nấm mồ chôn cả tướng Nguyễn lẫn con ngựa của ông.”14. Về sau, tướng Nguyễn được nhân dân tôn làm ngài khai khẩn của làng. Ngôi mộ của ngài vẫn còn ở chỗ cũ, cạnh đường quốc lộ 1A, phường Phong Thái, thành phố Huế. Đó là một ngôi mộ đất to, với tấm bia lớn do nhân dân dựng lên. Tấm bia ghi rõ công lao của ngài khai khẩn, đồng thời cũng nói lý do vì sao không xây lăng được. Lý do ấy là: từ xưa đến nay chưa có nơi nào xây lăng chung cho cả người và ngựa.

Từ truyền thuyết kể trên ta thấy có những truyền thuyết liên quan đến người anh hùng xông pha chiến trận dưới thời nhà Lê - nhà Mạc tranh giành quyền lực. Cho nên, vùng đất Thuận Hóa là nơi diễn ra nhiều cuộc đụng độ đao binh nội chiến vì vậy các vị tướng phải lo toan việc nước, cứu dân. Xứ Thuận Hóa lúc đó lại là miền biên viễn của Đại Việt thì trọng trách của các vị lại càng nặng nề hơn, chống thù trong giặc ngoài.

Riêng truyện Người khai khẩn làng Hương Lâm có ý nghĩa khác là ngài chết vì bệnh chứ không phải ở trận mạc. Và mô tip người và ngựa cùng chết thậm chí còn gắn chặt vào nhau đến nỗi đoàn người đi theo cố gỡ ngựa ra khỏi ngài nhưng không được; hoặc chi tiết đất bỗng đùn lên như nấm mộ chôn người lẫn ngựa. Chi tiết này gợi lên sự chuyển hóa đan xen giữa hình tượng người anh hùng chiến trận sang hình tượng người anh hùng chinh phục, khẩn hoang vùng đất mới. Đây là điều thú vị ghi dấu công lao của các bậc tiền hiền khai canh, khai khẩn trong quá trình hình thành làng xã xứ Huế.

4. Vĩ thanh

Ngoài những dấu ấn về ngựa trong đời sống văn hóa của người Huế thì vẫn còn những câu chuyện xoay quanh con ngựa mà mỗi người Huế thế hệ trước vẫn còn nhắc đến, đó là Ngựa Thượng Tứ, với cách hiểu Ngựa Thượng Tứ là ngựa mà vua ban cho văn quan hay võ tướng có công phụng mệnh giữ trọng trách với dân với nước. Chính vì thế mà ở trong văn học dân gian xứ Huế có câu:

Mê gì như mê tổ tôm

Mê ngựa Thượng Tứ mê nôm Thúy Kiều.

Hoặc mỗi khi chúng ta đi ngang qua di tích Phu Văn Lâu, đây là lầu biểu tượng cho nền văn hiến của nước nhà, quay mặt về hướng nam để cầu hiền. Nơi đây nhà vua dùng để dán các sắc, dụ và treo bảng cho khoa thi thường gọi là bảng Hổ, cho khoa thi Hội gọi là bảng Rồng. Ngày nay, phía hai bên tả hữu Phu Văn Lâu người ta đã phục hồi dựng lại 2 tấm bia đá đề bốn chữ KHUYNH CÁI HẠ MÃ, nghĩa là nghiêng lọng xuống ngựa. Để tỏ ý tôn trọng tinh hoa việc học và tôn trọng người hiền tài đã thi đỗ thời xưa.

Dưới thời Mạc, làng Khúc Ốc nay là làng Phú Ốc, phường Hương Trà là địa phương có nuôi nhiều trâu ngựa, Dương Văn An đã viết “Khúc Ốc thổi ngựa, trâu ra bãi”15. Địa danh mang dấu ấn ngựa thì ở Huế có địa danh Bạch Mã với các tên gọi Vườn Quốc gia Bạch Mã, núi Bạch Mã, dãy Bạch Mã, Thiền viện Trúc Lâm - Bạch Mã, v.v.

Địa danh liên quan đến ngựa ở vùng đồng bằng thì có các địa danh Mã Hợp là tên xứ ruộng của làng Triều Sơn Tây, phường Hương An; Mã Vôi là xứ đất ruộng của làng Tri Lễ và làng Thạc Lại, phường Hương An và Mã Trường là xứ ruộng của làng Dương Xuân, phường Thủy Xuân, thành phố Huế16.

Nhân dịp Tết đến xuân Bính Ngọ 2026 đã về, lan man vài mẩu chuyện nhỏ về ngựa và ngựa trong đời sống tâm thức của người Huế để hiểu rằng, hình ảnh ngựa đã đi sâu vào đời sống vật chất và đời sống tinh thần, tâm linh từ lâu của người Huế. Từ thuở khai phá đất đai để mở ấp, lập làng. Nghĩ đến ngựa chúng ta cũng nhớ đến các bậc khai canh, khai khẩn ở một số làng quê ở Huế, chính họ đã mất đi để có được những làng mạc trù phú như ngày hôm nay. Chúng ta cùng tri ân họ và tôn thờ ngựa ở các đền, am, miếu ở các làng quê mà các bậc tiền nhân của chúng ta đã tạo dựng.

T.N.K.P
(TCSH444/02-2026)

----------------------
1 Lê Quang Thái: Hình ảnh con ngựa trên đất Thuận Hóa. Tạp chí Sông Hương số 40, 1/1990, trang 58.
2 Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Thư viện Tổng hợp Thừa Thiên Huế, Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh: Thư mục đề yếu sắc phong triều Nguyễn ở Thừa Thiên Huế. Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2018, trang 45 và 101.
3 Trần Đại Vinh: Tín ngưỡng dân gian Huế. Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1995, trang 91.
4 Nguyễn Hữu Phúc: Vài nét về tục thờ Quan Thánh Đế Quân ở vùng đất Huế. Tạp chí Sông Hương, số 417, 11/2023, trang 80.
5 Nguyễn Hữu Phúc: Vài nét về tục thờ Quan Thánh Đế quân ở vùng đất Huế, Sđd, trang 79.
6 Nguyễn Hữu Phúc: Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ trong dòng chảy văn hóa Huế. Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2024, trang 272.
7 Nguyễn Văn Tưởng: Ngựa trên cổ tích xứ Huế. Tập san Văn hóa Huế, số 26/2014, trang 61.
8 Nguyễn Văn Tưởng: tlđd, trang 61.
9 Triều Nguyên: Tục ngữ Thừa Thiên Huế. Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006, trang 314, 315, 316.
10 Trần Huyền: Những linh thú đất Việt. Tập Nghiên cứu Văn hóa dân gian Thừa Thiên Huế, tháng 12/2014, trang 8.
11 Lê Quang Thái: tlđd, trang 58.
12 Ban chấp hành Đảng bộ thị trấn Sịa: Lịch sử Đảng bộ thị trấn Sịa (1930 - 2015). Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2017, tr.19.
13 Huỳnh Văn Mỹ: Xây mộ cho cọp ở làng Thủ Lễ, Huế. https://phathocdoisong.com/xay-mo-cho-cop-lang-thu-lehue.html.
14 Triều Nguyên (Biên soạn): Tổng tập văn học dân gian xứ Huế. Tập 1: Thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn. Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2012, các trang 158, 160, 161, 163, 164.
15 Dương Văn An: Ô Châu cận lục. Trần Đại Vinh hiệu đính, dịch chú. Nxb. Thuận Hóa, Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, 2015, trang 81.
16 Trần Thanh Tâm, Huỳnh Đình Kết: Địa danh thành phố Huế. Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2001, trang 240.

 

 

Các bài mới
Tuổi ngựa (13/02/2026)
Các bài đã đăng