Tạp chí Sông Hương - Số 450 (T.08-26)
Ngoài kia là bóng tối
14:23 | 28/08/2026

NGUYÊN NGUYÊN

1.
Khi âm nhạc đã tắt, tôi nhìn thấy chị nằm phủ phục trên sàn nhà, xung quanh vương vãi những chai rượu đã rỗng ruột. Đủ màu sắc xanh đỏ, phản chiếu trong ánh đèn neon ma mị.

Ngoài kia là bóng tối
Minh họa: Nguyễn Thiện Đức

Khi âm nhạc đã tắt, gã bartender mệt lả cũng gục xuống mặt quầy bar trong một tư thế hết sức kỳ dị. Dọc cánh tay rắn chắc xăm những hình thù không biết thuộc về một nền văn hóa nào, có một thứ chất lỏng màu tím đang dính chặt lên đó, chẳng mấy chốc cả thân hình của gã sẽ đột ngột chuyển sang màu tím và chỉ còn là một đống bầy nhầy. Gã sẽ bị biến thành một đống bầy nhầy nếu như không có ai kéo gã ra khỏi chỗ đó. Gã sẽ biến mất, không chút vết tích.

Tôi chạy sang phía chị, lúc này đang rên rỉ. Chị vẫn rên rỉ được. Tôi sợ chị sẽ chết. Ở đó, mềm như thân hình của một con bạch tuộc dạt vào trong một bờ biển. Hoang vắng. Không bóng người. Không tàu bè qua lại. Tôi trộm nghĩ. Nếu như không kéo chị ra khỏi đống bầy nhầy này, thì chị sẽ như họ, như gã bartender, như con bạch tuộc tội nghiệp, như tất cả những linh hồn nhỏ bé, cô độc trong thành phố rộng lớn này. Tôi kéo chị dậy, vẫn rên rỉ, hơi thở yếu ớt, cả thân người mềm oặt và tan chảy.

Tôi kéo chị ra ngoài bầu trời. Bầu trời đêm tháng ba, bị bao phủ bởi một lớp sương mờ mịt. Lất phất mưa. Mưa quất vào những gương mặt mỏi mệt đang chen chân trên những con phố. Họ vội vã về nhà - những linh hồn cô độc ấy. Nếu như tôi không thể tìm thấy một nơi chốn, bốn bức tường, phủ kín bởi những lớp xi măng dày, xám xịt, lạnh lẽo, thì chúng tôi sẽ bị bỏ lại, biến thành những linh hồn vất vưởng, lết thân thể nặng nề trên những đại lộ ẩm ướt. Không thấy gì. Không có chút ánh sáng khi vị thần của bóng đêm đang gõ cửa, dang rộng đôi cánh khắc nghiệt và đáng sợ của ngài, cuốn lấy chúng tôi. Tôi và chị. Chúng tôi không thể trở thành tín đồ của ngài. Không thể nào!

Tôi kéo chị trở về căn nhà của cha tôi, đúng hơn là một căn gác nhỏ, đã từng là của cha. Cha đã dành nhiều thời gian cuối cùng của đời mình, để viết ra những vần thơ đầy hoang mang và xuất bản chúng. Thi thoảng tôi vẫn thấy nó nằm đâu đó trên một kệ sách phủ bụi trong một hiệu sách nhỏ. Giờ ai thèm đọc chúng nữa, nhất là thơ. Chị đã từng nói với tôi như thế. Tôi nghĩ chị nói đúng, ít ra là chuyện đó.

Lúc này chị đang nằm ườn ra trên ghế sô-pha. Tôi thì ngồi phịch xuống nền nhà, lạnh ngắt, thở hồng hộc. Thời tiết tháng ba chưa bao giờ là dễ chịu, khi cái lạnh vẫn ngự trị, ít ra là trong căn phòng này.

Đèn vẫn chưa bật, tôi tạm thời không biết công tắc ở đâu. Nguồn sáng duy nhất là từ phía bên ngoài, một nỗ lực phi thường của nó khi len qua những khe hở đang tồn tại trên những bức tường xám xịt, tưởng chừng như chỉ một tác động nhỏ cũng khiến mọi thứ đổ sụp. Nhưng không hề, bao năm qua cùng hàng loạt những sự kiện, nó vẫn tồn tại như thế, chỉ là hơi thở của cha không còn. Ông đã hoai mục. Tôi chẳng thể cảm nhận được một chút nào của ông từ nơi đây, những ký ức bị ngài cuốn lấy - vị thần của bóng đêm. Nghĩ tới đó, tôi chợt quay sang nhìn chị, tưởng chừng như hấp hối, tôi muốn cứu lấy chị, trước khi nghe thấy tiếng vỗ cánh của ngài, trước khi ngài dang rộng đôi cánh chết chóc ấy, thêm một lần nữa.

…và hơi thở của ngài, sẽ thổi bay tất cả, cho tới khi chỉ còn lại là đống phế tích.

Tôi bèn đứng bật dậy với một tốc độ không tưởng, lần mò trong không gian nhập nhoạng khi nỗ lực của thứ ánh sáng yếu ớt kia đang dần tuyệt vọng. Vụt tắt. Phải nhanh lên, tìm cho ra cái công tắc. Tiếng bước chân của ngài, rõ hơn. Ngài đã lướt qua những hành lang bẩn thỉu, toàn rác, mùi xú uế bốc lên mà không ai nghĩ tới chuyện dọn. Còn lũ chuột, đồng minh thân thích của ngài. Chúng hả hê khi được ngài chở che, ôm ấp và cưng nựng. Chúng sục sạo những cái mõm nhọn hoắt và tinh ranh của mình trong đống bẩn thỉu ấy. Chúng ngấu nghiến bất cứ thứ gì cho tới khi chỉ còn là một bãi hoang phế, đổ nát.

Ngài lướt nhanh qua hành lang và gõ cửa từng căn phòng. Gã bợm nhậu đã thôi không còn ê a nữa. Có thể gã đã chết, khi đang ngủ, không chừng. Ngài không bỏ sót bất cứ căn phòng nào. Phải nhanh lên, tôi thầm nhủ rồi cố gắng lần mò một lần nữa. Phía đối diện chị đang hấp hối, hoặc trông chị như thế, hoặc chỉ đang mơ một giấc mơ viển vông nào đó hồi còn đi học, bao mộng ước, nhưng sẽ nhanh thôi khi ngài đã tới để chiếm lấy tất cả, xóa sạch tất cả.

Tôi quờ quạng trên bức tường trong vô vọng, khi đồng hồ đã điểm tới một thời khắc định mệnh trong ngày, khi thứ ánh sáng yếu ớt cuối cùng bị hút tuột về phía cuối đường hầm tăm tối. Con đường của ngài đang trải rộng để cho những sinh linh tội nghiệp đi qua, như thực hiện một cuộc hành hương cuối cùng trước khi thế giới này kết thúc.

Và trong cái khoảnh khắc khi mọi thứ sắp kết thúc. Chị đang tan ra nhập vào với chiếc ghế sô-pha làm một, khi tôi cảm thấy đôi chân mình tê dại và những ngón tay như cứng đờ, chuẩn bị hóa đá. Một tiếng “tách” mơ hồ vang lên trong thinh không. Ngài đã dừng lại, bên thềm cửa; ngập ngừng, rồi quay về phía hành lang, nơi lũ chuột đã no nê, nơi những linh hồn vất vưởng đã tìm được nơi trú ngụ.

Tôi nhìn chị, đang ngủ ngon lành trên ghế sôpha. Giấc mơ đã tan đi và rất có thể, thay bằng một cảm giác yên bình ngắn ngủi khác, trước khi một cơn bão nữa tới.

Chị hỏi, đang ở đâu. Câu đầu tiên khi tỉnh lại. Gương mặt xinh đẹp, thê thảm dưới ánh đèn vàng đục, trong căn phòng tồi tàn. Chị không nghe thấy tôi. Nhà của cha tôi. Tôi bảo với chị như vậy. Đầu chị ngoái nhìn về phía kệ sách của cha. Hầu như toàn sách cũ. Những cuốn sách dày cộm, cả trăm trang, phủ bụi. Đâu đó, dưới gầm bàn là một vài cuốn khác, tôi đã nhìn thấy nhưng chẳng buồn nhặt lên.

Của cha tôi, tất cả. Tôi bảo với chị. Lúc này, chị quay sang nhìn tôi, mặt ngạc nhiên, như thể tôi vừa thông báo điều gì quan trọng lắm.

Đây là nhà của cha cậu. Giờ chị mới nhận ra. Tôi gật đầu. Khi đó, tôi đang ở trong bếp, lấy khay trứng còn lại trong tủ lạnh mini, tôi không nhớ rõ mình đã bỏ vào đó từ khi nào.

Trứng ốp la. Tôi nói với chị. Im lặng, cái đầu bù xù bèn quay sang kệ sách lần nữa. Tôi tự hỏi, ma lực nào đã thu hút chị đến như thế. Tôi rất muốn hỏi chị, nhưng thiết nghĩ mình cần phải làm trứng ốp la. Tôi quay lại vặn bếp, đổ dầu vào trong chảo, đánh trứng.

Chúng tôi ăn trong im lặng. Chị có vẻ hơi đói. Chị ngấu nghiến, như thể chưa bao giờ ngon miệng như thế. Chị có nhớ chuyện gì đã xảy ra vào đêm qua hay không? Nhưng có vẻ như, lần nào cũng thế, chỉ một câu trả lời, chị chẳng nhớ gì cả.

Với chị, hẳn ký ức là một chứng viêm nhiễm đã ăn sâu vào trong từng tế bào.

2.

Tôi đang ngồi chờ ở một trạm dừng, khi ấy, chị đã về. Chị vẫy một chiếc xe taxi. Chị chui đầu vào trong cái hộp sắt màu vàng ấy và nói “Gặp sau”. Dĩ nhiên, tôi sẽ còn gặp lại chị, để cứu chị, khỏi đôi cánh của ngài. Nhiều khi tôi tự nhủ, nếu vào một ngày, trong cái thời khắc định mệnh ấy, khi đôi tay ghê tởm của ngài đương bốc mùi hôi thối như lũ chuột, thò tay vào ổ khóa… còn tôi thì chỉ đứng đó. Bất lực. Hệt như tôi nhìn thấy cả thân thể của cha mình đang lún sâu vào vũng bùn của bóng tối. Mất hút.

Tôi đã ngồi lên một chuyến xe, cuối ngày. Vào tháng ba, ở thành phố này, không thể phân biệt được các khoảng thời gian trong ngày. Chúng đều giống nhau. Lớp sương mờ ẩn hiện len lỏi qua những khối bê tông trơ cứng và xám xịt, trát lên gương mặt của những người đi đường sự mỏi mệt. Họ đều cảm thấy thiếu ngủ vì chuyện gia đình, chuyện công việc, chuyện yêu đương, chuyện chiến tranh, chuyện biến đổi khí hậu, chuyện ô nhiễm môi trường, chuyện lai tạo một giống lúa mới… Tôi cảm thấy chán nản. Cơn đau đầu hiện hữu như muốn nhắc nhở tôi hãy dừng lại trước khi quá muộn.

Trên chuyến xe cuối ngày, Janis Joplin đang rên rỉ từ hệ thống loa trên xe. Tôi đã từng rất thích những lời ca của bà, nhưng rõ ràng, vào lúc này, bà đang rên rỉ. Tôi nhìn ra phía bên ngoài khung cửa kính. Trời bắt đầu mưa. Những vệt mưa cắt ngang qua lớp kính chắn trong suốt thành vô số những vết sẹo. Những vết sẹo tuyệt đẹp. Những vết sẹo ấy khác hẳn so với những vết sẹo chằng chịt nơi cánh tay trái của chị. “Chị đã cắt đấy. Dùng dao lam. Vào năm chị mười sáu tuổi.” Những vết sẹo không thể xóa đi. Những vết sẹo trên cửa kính thì có thể xóa đi. Giá như có thể xóa sạch đi những vết sẹo, trên cánh tay trái ấy của chị.

“Có đau không?” Tôi nhớ có lần tôi đã hỏi chị như thế. Nhưng chị không nói gì. Chị im lặng. Thăm thẳm. Như màn đêm. Tôi bảo chị. Đừng như thế! Đừng như thế, sẽ khiến ngài đạt được mục đích của mình. Ngài thích những vết sẹo ấy. Ngài thích những nỗi đau len lỏi sâu trong con người. Ngài thích sự viêm nhiễm ăn sâu vào trong cơ thể, từng tế bào. Và ngài ghét ký ức. Thứ duy nhất ngài ghét. Ngài muốn xóa sạch chúng.

Xe băng qua một cánh đồng rộng lớn. Đêm buông. Tháng ba. Mưa vẫn rơi. Những vết sẹo trên tấm kính đọng lại, chúng nặng, rồi nhỏ xuống, vạch thành những con đường. Không có ánh đèn. Thảng hoặc, một thứ gì đó, thứ ánh sáng dị kỳ, có lẽ là ma trơi, nháng lên trên cánh đồng tối thẫm, khô cằn. Chúng đã từng là những cánh đồng trù phú, nơi mà người ta đã từng trồng bắp cải. Cha đã nói với tôi như thế, vào một khoảnh khắc nào đó trong đời, trong cơn mộng mị, tôi thấy những cây bắp cải lăn tròn trong giấc mơ của mình. Tôi nghĩ rằng, đó là những ký ức hiếm hoi, và rất đẹp.

3.

Xe dừng lại. Trong một khoảnh khắc không xác định, khi đôi chân yếu ớt, tê dại và run lẩy bẩy của mình chạm vào nền đất bụi đỏ. Tôi không thể xác định được nơi mình đang đứng. Dù cha tôi nói, nơi đây đã sinh ra chúng ta.

Họ đưa tôi về một khách sạn tồi tàn, trong thị trấn nhỏ. Họ nói, gần biển. Từ khoảng cách này chúng ta có thể đi tới biển, ngửi thấy mùi biển. Có ai đó đã hỏi tôi như thế, có ngửi thấy mùi biển không. Tôi lắc đầu.

Họ nói, có một căn nhà, trong thị trấn đã từng thuộc sở hữu của cha tôi. Họ nói, cha tôi nổi tiếng ở thị trấn này. Những vần thơ của ông được khắc lên ghế đá, trong công viên, lên những bức tường chắn sóng bên bờ biển. Họ tôn thờ cha. Nhưng khi ấy, tôi chẳng nghĩ được gì. Tôi chỉ nghĩ tới biển, cố gắng ngước mặt lên bầu trời đêm đen tối, thách thức ngài, để được ngửi thấy mùi biển. Tôi đã từng muốn đi biển, với chị. Chị nói, chị thích biển. Chị muốn hòa thân thể mình với biển, làm một, để cái vị mặn chát kia có thể gột rửa, để dịu đi những nỗi đau trên cánh tay trái, chằng chịt những sẹo là sẹo. Khi ấy, tôi rất muốn gọi cho chị. Tôi muốn nghe thấy giọng chị.

“Đi với em. Em đang ở rất gần biển rồi.”

4.

Họ tổ chức một buổi tưởng niệm nhân ngày mất của cha. Cha mất vào tháng ba. Trời mưa tầm tã. Không giống như tháng ba bây giờ. Khi ấy, trong nhà nguyện, chẳng có mấy người. Tôi đến muộn. Họ vẫn chờ. Tang lễ diễn ra một cách lặng lẽ. Lặng lẽ hệt như cách ra đi của ông. Không ai biết. Trong căn phòng bừa bộn. Toàn sách là sách. Tôi tưởng cha đang ngủ. Thi thoảng khi đang đọc một cuốn sách, thì ông tự nhiên lăn ra ngủ. Tôi cứ nghĩ là ông đang ngủ thật. Tôi đã cố ý thực hiện một số cử chỉ gây tiếng động đủ lớn để đánh thức ông. Nhưng ông vẫn nằm đó. Bất động. Ông nằm mãi cho tới khi ánh chiều tàn lọt qua khe cửa, đậu xuống chỗ ông đang nằm, phủ lên thân thể còm cõi thứ ánh sáng nhờn nhợt, tương đồng với gương mặt cha.

Tôi lại gần, lay khẽ cha. Không có phản ứng. Tôi đưa tay lên mũi ông. Hơi thở đã không còn, từ lâu. Ánh chiều tà vụt tắt trên gương mặt ông. Và ngài đến, dang rộng đôi cánh như màn đêm, phủ lấy thân thể ông. Hệt như một cây bạch đàn đã chết, bên sườn đồi thoai thoải, trơ trụi lá.

Họ đang đọc những vần thơ của ông, trên sân khấu. Một vài khách mời, có lẽ, trong số đó có bạn của ông. Tôi không quen ai. Họ đều là những người xa lạ. Họ đang đọc cha. Say sưa. Những vần thơ ông viết về quỷ dữ. Những vần thơ ông viết về ngài. Ngài hiện ra, chết chóc và dịu dàng. Ngài không hề đáng sợ như thường nghĩ. Ngài hiện ra, dang đôi cánh rộng như những phi trường bỏ hoang trở thành nơi cư trú cho lũ chuột.

Mắt tôi díu lại. Hơi thở gấp. Khó thở. Tôi cần hít một chút khí trời. Nếu tôi ở đây thêm một phút nào nữa, tôi sẽ không đủ sức kháng cự lại ngài. Từ bao giờ, tôi mê cái chết chóc và dịu dàng ấy. Từ bao giờ. Không biết được. Tôi chỉ cần hít một ít khí trời.

Tôi băng ra phía bên ngoài. Đêm đổ xuống. Không trăng, nhưng vẫn có thể nhìn rõ con đường mòn. Họ nói, đi theo nó, một lúc là ra được phía biển. Tôi men theo mùi gió, mùi sóng, mùi cát, mùi của những cây phi lao…

Tôi đang đứng trước biển. Biển vĩ đại, còn tôi thì bé nhỏ. Tôi lấy điện thoại ra gọi chị. Không liên lạc được, ngoài vùng phủ sóng. Chị đã bị ngài bắt rồi cũng nên.

Cha từng viết về biển, những con thuyền bị sóng đánh, dạt vào một hoang đảo, không bóng người. Những con thuyền sống dậy thành người, thành những hình người kỳ quái. Đó là bài thơ duy nhất mà tôi đọc, của cha. Tôi không hiểu hết dụng ý của ông. Trong một khoảnh khắc hiếm hoi nào đó trong đời, tôi nhận ra mình không hề giống ông. Không một chút kết nối nào. Những ký ức, vỡ vụn dù tôi đã cố gắng hàn gắn. Tôi là ai, khi tôi không giống ông. Ai là người đã thực sự sinh ra mình?

Tôi than thở với biển. Biển đáp lại bằng tiếng sóng vỗ ì ạch bên vách đá. Những con sên đang thực hiện chuyến du trình vĩ đại của đời mình, lên phía trên mỏm đá, để kịp đón ánh bình minh.

5.

Họ gửi lại tôi một vài kỷ vật, của cha. Ai đó nói tôi có quyền sở hữu tất cả, nhưng họ chỉ đưa lại tôi một vài kỷ vật. Cây viết và cuốn sổ ghi chép đã cũ kỹ của ông.

Tôi quay lại thành phố để gặp chị. Tôi muốn gửi lại những kỷ vật này, trong căn phòng của cha. Đó là nơi chúng thuộc về. Tôi không muốn ra đi mà mang theo những thứ này. Tôi không có một chút ký ức nào về chúng cả.

Khi tôi tới, thì chị đang ngồi đó, bên chiếc ghế sô-pha cũ kỹ mà bữa đó chị đã nằm chờ ngài. Bằng một cách thần kỳ nào đó chị đã vào được đây. Khi thấy tôi, chị không tỏ vẻ ngạc nhiên. Chị nhìn tôi, mỉm cười, rồi lại chăm chú nhìn vào cuốn sách đang lật giở trên tay. Đó là một cuốn sách của cha tôi, xuất bản cách đây nhiều năm về trước.

6.

Bây giờ, chúng tôi đang ngồi trên sân thượng của tòa nhà. Cuối tháng ba, trời quang mây. Tôi nói với chị, tôi thích mùa hè hơn thảy. Chị cười bảo, nóng lắm, trên tay vẫn cầm những vần thơ của quỷ dữ. Không quan trọng, đêm nay, ngài sẽ không thể nào tìm thấy chúng tôi.

Tôi kể với chị về chuyến đi của mình. Chị bảo với tôi, chị thích những vần thơ của cha. Chúng vô cùng hàm súc. Cha tôi đã tạo nên thứ ngôn ngữ tuyệt đẹp, thứ ngôn ngữ của Chúa, của tuổi trẻ, của đớn đau… Chị cứ thế, liệt kê một tràng dài bất tận.

Tôi bảo với chị, chị cũng có thể viết. Tại sao lại không viết. Gương mặt chị chực cúi xuống, đượm buồn.

Chị phải viết, bằng một cách nào đó. Chúng ta không thể mất đi tiếng nói của mình. Và bằng một cách kỳ diệu nào đó, bằng ký ức, bằng nỗi đau, bằng mất mát… chúng ta đều có thể viết.

Rồi chị cười, rằng chị sẽ viết, sớm thôi. Khi viết xong chị sẽ cho tôi đọc đầu tiên. Tôi nói với chị, thật lấy làm vinh dự. Tôi cũng chưa nói về chuyến đi của mình, nó là chuyện của ngày mai. Tôi có thể sẽ đi, có thể không, có thể phải ở lại thành phố này thêm vài năm nữa, để tìm lại những ký ức về cha, về nhân dạng của mình.

Tôi khui chai bia, rồi tợp một ngụm lớn. Vị bia đắng và lạnh, trôi tuột qua cuống họng tôi.

Cuối tháng ba, trời không còn âm u nữa. Dù ngài sẽ tới, vào một ngày nào đó, trong đời mình. Rất có thể khi ấy, tôi bằng với tuổi cha, tôi hơn tuổi cha. Ngài dang rộng đôi cánh được dệt bằng bóng đêm của mình, phủ lấy tôi, bên chiếc ghế sô-pha cũ nát. Rất có thể, khi ấy, tôi đã sẵn sàng, để ngài ôm lấy tôi, vuốt ve tôi, biến đổi tôi.

Nhưng giờ đây, tôi chỉ nghĩ tới chị. Nghĩ tới những vần thơ mà chị sẽ viết. Viết về chúng tôi. Viết về những vết sẹo. Viết về ánh sáng. Viết về cả bóng tối…

N.N
(TCSH450/08-2026)

 

 

Các bài mới
Các bài đã đăng
Dưới ánh trăng (24/08/2026)