NGUYỄN HỒNG LAM
(Sơ lược những chặng đường trưởng thành và chiến thắng của trung đoàn 101, Thừa Thiên Huế)
Cách mạng tháng 8 thành công. Ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cùng với nhiều đơn vị vũ trang được thành lập, ngày 5/9/1945, Chi đội Lê Lợi ra đời. Năm 1946, chi đội đổi tên là Trung đoàn Cao Vân và cuối năm 1946 chính thức mang danh hiệu Trung đoàn 101.
Đáp lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, đêm 19/12/1946, hòa trong tiếng súng kháng chiến toàn quốc của dân tộc. E 101 giật bom phá sập cầu Trường Tiền, mở màn cho cuộc tấn công vào Huế. Các chiến sĩ ta đã giật bom ở khách sạn Mo-Ranh, diệt 50 tên Pháp, thu 10 súng đốt cháy một kho xăng. Nhiều tiểu đội quyết tử quân đã xung phong mang bom vào các vị trí địch. Từ tháng 1/1947 ta rút lui khỏi thành phố, nhưng tiếng súng của E 101 phối hợp với đơn vị bạn ở Thừa Thiên vẫn nổ ở nội thành Huế, Lăng Cô, đèo Phước Tượng, Mũi Né, cửa Tư Hiền. Sau một thời gian củng cố lực lượng ở chiến khu Hòa Mỹ, đêm 24/3/1947, 20 chiến sĩ đã chia làm 2 mũi lập công xuất sắc ở Hộ thành cuối năm 1947 - thực hiện chủ trương c độc lập, d tập trung để phát động chiến tranh nhân dân rộng khắp làm chỗ dựa cho nhân dân đứng lên , trung đoàn đã lập công ở Nam Thừa Thiên đánh chìm ca nô ở thượng nguồn sông Hương. Năm 1948 trung đoàn tiêu diệt cứ điểm Câu Nhi và cứ điểm Đất Đỏ án ngữ chiến khu Hòa Mỹ mở đường tiến xuống đồng bằng Thừa Thiên. Nổi bật là d 319 đã lập công xuất sắc ở Hói Mít, diệt đoàn tàu 10 toa, thu toàn bộ vũ khí được tặng thưởng huân chương Quân công hạng III đầu tiên của E. Có thể nói trận Đất Đỏ và trận Hói Mít, một bằng hình thức kỳ tập cứ điểm, một bằng hình thức đánh giao thông, đánh dấu chặng đường trưởng thành đầu tiên của E trong hai năm 1950 - 1951, E tham gia các chiến dịch Lê Lai, Phan Đình Phùng. Cuối năm 1950, với âm mưu lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt, lợi dụng nạn lụt mất mùa, lúa gạo chôn dưới đất của quân và dân bị ngập thối hết, địch lấn đất giành dân, lấn chiếm hầu hết vùng tự do dồn bộ đội ta lên núi. Đảng ủy Mặt trận chủ trương mở đợt hoạt động "xây đà chiến thắng" đưa toàn bộ chủ lực và bộ đội địa phương xuống đồng bằng. Các cấp đảng ủy trực tiếp đi vận động lúa gạo khoai sắn còn lại trong dân để nuôi bộ đội. Sau trận công đồn bằng hình thức cường tập đầu tiên thắng lợi của d 436 ở cứ điểm Phổ Lại (có công sự với 4 b ngụy) và trận tấn công vận động của d 319 ở Uất Mậu đều trên đường Phú ốc Sịa - Tây phá Tam Giang, E 101 chuyển sang đóng quân trên dải đất hẹp dài giữa biển và phá, vùng Thanh Hương. Địch điều một lực lượng cơ động có không quân, pháo binh yểm trợ, nòng cốt là binh đoàn cơ động Buttin bao vây và định "cất vó" E 101. Toàn trung đoàn đã tập trung, kết hợp với vận động với tập kích tiêu diệt binh đoàn Pháp trong trận Thanh Hương ngày 11/3/1951. Đây là trận đánh tập trung cấp trung đoàn đầu tiên, đánh dấu chặng đường trưởng thành và chiến thắng thứ hai của E và là trận thắng lớn nhất trên chiến trường Trung bộ từ đầu kháng chiến. E được thưởng huân chương Quân công hạng II, được thư khen của Bác Hồ, của Tổng bí thư Đảng Trường Chinh, của Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ngày 11/3/1951 được lấy làm ngày thành lập Sư đoàn 325, sư đoàn cơ động chiến lược trực thuộc bộ Tổng Tư Lệnh. Sau đó E hành quân làm nhiệm vụ bảo vệ mùa ở Nam Thừa Thiên bằng các trận Thanh Lam Bồ diệt gần hết một d địch, bắt sống tên chỉ huy và cơ quan d ở đình Thanh Lam, E lại được Hồ Chủ Tịch gửi thư khen lần thứ hai và được thưởng Huân chương Quân công hạng II. Sau đó d 319 lên Dương Hòa tiêu diệt một C địch, d 436 quay ra Bắc Thừa Thiên diệt vị trí Sơn Trùng và Hương Cần. E cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích Thừa Thiên đã buộc địch co lại các vị trí, bảo vệ vụ mùa thắng lợi, giải quyết được nạn đói cuối 1950 đầu 1951. Sang năm 1952 do chủ quan trước những thắng lợi dòn giã và thiếu cảnh giác nội bộ để tên Xuân tham mưu phó E và một số tên gián điệp chui vào nội bộ cơ quan K.C, dẫn hải, lục, không quân địch bất ngờ bao vây và tập kích E tại Thanh Hương. Bị tổn thất Trung đoàn trưởng Nguyễn Thuyết mưu dũng song toàn bị hy sinh, một số cán bộ khác bị hy sinh và bị bắt. Nhưng nhiều đơn vị đã tự động đánh giải vây và đến tối đưa được hàng nghìn dân và trâu bò vượt sang bờ tây phá Tam Giang để củng cố. Trong đó có công của Nguyễn Xuân Lực đưa được 500 đồng bào và 76 thương binh vượt qua bến đò Vân Trình bằng cách cho bộ đội và một số thanh niên trong dân biết bơi sắp hàng trong nước rồi ôm bụng nhau làm thành một cầu người dài 80m để dìu đồng bào và hàng trăm trâu bò qua phá thoát vây. Sau nửa tháng củng cố, E đã tiêu diệt 1 C Âu Phi trên đường số một để trả thù cho đồng bào, đồng chí, khôi phục lại khí thế đơn vị và lòng tin của đồng bào đồng chí địa phương.
Cuối năm 1952 E 101 hành quân ra Thanh Nghệ Tịnh, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954. Phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, từ Nghệ An, E (gồm d 319, d 328 và d 274 từ E 18 chuyển thuộc qua thay d 436 đã thọc sâu xuống Hạ Lào) nhận lệnh cùng với E66 F304 vượt Trường Sơn tiến sang Lào. E đã chiến đấu thắng lợi diệt gần hết một d địch, thu 4 pháo 105 ở Khăm Ma và Khăm He, tiến về giải phóng Thà Khẹt, phần lớn tỉnh Khăm Muộn và một phần Savannakhet, buộc địch phải rút một phần lực lượng ở chiến trường Bắc Đông Dương về gửi căn cứ Sênô và Savannakhet.
Trước đó, ngày 23/11/1953, từ làng Sen quê Bác, d 436 tách khỏi E, trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh, bí mật luồn rừng, vượt suối băng ngàn hàng nghìn cây số dọc Trường Sơn, thọc xuống Hạ Lào. "Để tới được Hạ Lào, cán bộ chiến sĩ d đã thực hiện một cuộc hành quân đường dài vô cùng gian khổ, vượt qua miền rừng núi hiểm trở phía tây Nghệ Tịnh, Bình Trị Thiên, Quảng Nam, Tây Nguyên. Đúng 5 giờ sáng ngày 3/2/1954 (tức là mồng 1 tết Giáp Ngọ) ta nổ súng tấn công cứ điểm Poui có công sự vững chắc. Tuy địch ngoan cố chống cự nhưng d 436, với khả năng đánh công kiên khá thành thạo đã diệt gọn địch sau 30 phút. Chiến thắng Poui làm chấn động địch ở Attôpơ từ tối 2/2/1954, đơn vị Pathét Lào đã bao vây thị xã. Sáng 3/2/1954, bạn chưa tấn công, nhưng bị tác động mạnh mẽ bởi đòn tiêu diệt gọn ở Poui, địch ở thị xã Attôpơ rối loạn. Nhân thời cơ có lợi, bạn thắt chặt vòng vây, đồng thời vận động nhân dân đòi chồng con. Trưa ngày 3/2/1954 tiểu đoàn Pháp định rút lui về Paksé. Nhưng d 436 đã đến kịp diệt d địch đó, giải phóng thị xã Attôpơ. Quân ta tiếp tục truy kích và tiêu diệt trong hành tiến các đồn lẻ, trong đó có các căn cứ phỉ quan trọng như Nhá Hớn, Keng Say, Huội Koòng, Vcateng, Lào Ngam v.v... giải phóng toàn bộ cao nguyên Bôlôven và Nam Saravan.
Qua 10 ngày chiến đấu, d 436, đơn vị tình nguyện và quân dân Hạ Lào đã giành được thắng lợi to lớn: loại khỏi vòng vây chiến đấu trên 3000 địch, giải phóng trên 2 vạn Km2 với 30 vạn dân. Như vậy, nhờ có phương hướng chiến lược đúng đắn của Trung Ương Đảng, có sự hợp đồng chặt chẽ, sự giúp đỡ chí tình của quân dân nước bạn, có bộ đội được xây dựng tinh nhuệ, có chỉ huy chủ động, dám mạnh dạn thọc sâu, nhắm chỗ địch hết sức sơ hở và có cách đánh hiểm, bất ngờ, 1 d ta đã có sức tiến công rất mạnh, có hiệu lực chiến đấu rất cao, tiêu diệt nhiều lực lượng quan trọng của địch, giải phóng một địa bàn có ý nghĩa chiến lược. Tướng Nava phải điều một binh đoàn cơ động từ Bắc Bộ và binh đoàn 51 từ Sênô xuống lập 2 cứ điểm: một ở Paksé và một ở Saravan để đối phó với cuộc tấn công của ta và bạn(1).
Tiểu đoàn được Bộ Tổng Tư lệnh tặng thưởng Huân chương Quân Công hạng III. Cuối tháng 4/1954, d gặp lại trung đoàn từ Trung Lào xuống tại vùng giải phóng Lào-ngam (Saravan). Mấy ngày sau, toàn E được lệnh tiến xuống Cao Miên, d 319 giải phóng tỉnh Chăm-bassắc. Sau đó quay về giải phóng huyện Siêm Pặng (tỉnh Stung-teng) rồi tiến theo hướng Compong-Thom cùng d 328, d 436 sau khi tiêu diệt cứ điểm và 1 c xe bọc thép (6 chiếc) ở quận lỵ Vơn-say (tỉnh Rathanakhiri) trong đêm 1/5/1954. Sáng 2/1/1954 1 d Pháp từ Phnompenh của một trung đoàn do Pháp xây dựng, Mỹ trang bị hoàn toàn mới, tiến gần đến huyện ly Voensay. Ta phục kích sẵn nổ súng đồng loạt xung phong, chận đầu khóa đuôi. Ta tiêu diệt gần hết d, thu 14 xe Mỹ nguyên vẹn (có 2 xe đàm thoại lớn 60W) và phá hủy những xe khác. Đây cũng là lần đầu tiên ta thu hồi số xe vận tải nhiều nhất, d 436 được thưởng thêm một huân chương chiến công hạng 1. Sau đó d tiến xuống đồng bằng Kratiê đông dân nhiều của. Ngày 19/5/1954 phục kích trên đường 13 tiêu diệt một đoàn xe bọc thép chở đoàn sĩ quan và hạ sĩ quan từ Pháp mới sang, bắt sống 35 tên Pháp; tiểu đoàn được lệnh tiến xuống Kompôngchàm và cử người đi bắt liên lạc với Bộ Tư lệnh Nam Bộ ở Mỏ-vẹt thì được lệnh đình chỉ chiến đấu và chuẩn bị tập kết về nước.
Hoạt động của E 101 trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 đánh dấu chặng đường trưởng thành thứ 3 của E. Không chỉ đánh được cấp E tập trung cùng đơn vị bạn giải phóng được hai thị xã Thakhẹt và Attôpơ, mà còn tạo được 2 mũi thọc sâu và vu hồi chiến lược, buộc địch phải kéo bớt lực lượng cơ động sang giữ phần còn lại của Trung Hạ Lào, trọng điểm là Sênô, Paksé và Saravan, Savannakhét. Không những tiêu diệt nhiều lực lượng địch, thu nhiều phương tiện chiến tranh nhất từ trước đến nay trong một đợt hoạt động của E, mà còn giải phóng được 1 hành lang Đông Lào. Đông Bắc Miên rộng lớn, nối liền vùng tự do Thanh Nghệ Tịnh ra Việt Bắc, Tây Bắc xuống Nam Đông Dương. Nếu tiếp tục kháng chiến, thì đó là một vùng căn cứ để các lực lượng cách mạng Việt-Lào-Miên phát triển và cơ động lực lượng đẩy mạnh phản công chiến lược trên toàn Đông Dương. Trung đoàn được thưởng huân chương quân công hạng II.
Sau chiến thắng Đông Xuân 1953-1954, tập kết ra Bắc, E được nhận một trong ba lá cờ quyết chiến quyết thắng của Hồ Chủ Tịch tặng ba E trong toàn quân. Nguyễn Xuân Lực và Cao Thế Chiến được phong danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Sau mấy năm xây dựng chính quy, giữa năm 1959, E 101 cùng E 18 lên xây dựng đường ô tô địa đầu đường Trường Sơn sau này từ thôn Bang (huyện Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình) lên làng Ho là trạm dừng chân của tất cả các đơn vị và đoàn cán bộ đi vào Nam theo đường dây 559. Trạm này ở trong vùng sâu chân núi 1001 trong khu phi quân sự đã được d 6 E 95 cũ tăng cường cho lữ đoàn bảo vệ giới tuyến lên khai phá từ đầu năm 1959. Đến năm 1961, E tiến sang Lào giải phóng huyện lỵ Tchépôn mở hành lang cho đoàn 559 xây dựng đường ở tô vào phía Nam đường 9.
Truyền thống kháng chiến của E được phát huy cao độ. Kháng chiến chống Mỹ, E phát triển thành 4 E (trong đội hình của 4 F 325 A,B,C,D lúc mới thành lập), đánh dấu chặng đường trưởng thành thứ tư của E.
Chiến công đầu tiên của E 101 A là tiêu diệt Đắc Năm, giải phóng quận lỵ Tumơrông, tiêu diệt Đắc Tô, Đắc Xút, bắt sống 1 d, 2 c ngụy, phá hủy 18 xe quân sự, bắn rơi 8 máy bay chọc thủng phòng tuyến bảo vệ phía tây Tây Nguyên của quân ngụy. Đây là những trận đánh công sự vững chắc lớn nhất miền Nam lúc bấy giờ, buộc sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ vốn chuyên làm nhiệm vụ đổ bộ lên bờ để bảo vệ quân cảng và thành phố Đà Nẵng phải bò lên vùng núi rừng hiểm trở Pleyme để cứu quân ngụy, dẫn đến trận đụng đầu lịch sử đầu tiên năm 1966 giữa quân đội ta và quân đội Mỹ ở Tây Nguyên. E được tặng thưởng huân chương quân công hạng II. Năm 1967 E đã cùng các đơn vị bạn bẻ gãy cuộc hành quân Attenborơ và Jean-son-City, tiêu diệt căn cứ Đồng Rùm, Nhà Đỏ Bông Trang...
Mậu Thân 1968, E 101 (đổi tên là Q 16), đã bám trụ Củ Chi nhiều năm trước đây, tấn công vào Tây Bắc Sài Gòn tiêu diệt địch ở Phú Hoà Đông, Xóm Mới, Sân bay Tân Sơn Nhất rồi phát triển đánh vào khu hậu cần Gò Vấp. E 101 B (đổi tên là E 33) và E 101 C tiến xuống Tây Nam bộ đánh địch mở vùng, đã phát huy tốt truyền thống bám đất, bám dân, tự lực tự cường mấy năm liền ở vùng sau lưng địch.
Năm 1972 E 101 D được giao nhiệm vụ đánh địch ở Triệu Phong, phối hợp với đơn vị bạn giữ thành cổ Quảng Trị. Khi địch lấn chiếm Cửa Việt, E cùng đơn vị bạn giải phóng và bảo vệ Cảng Cửa Việt. Trong 10 ngày từ 21/1 đến 31/1/1973, E đã cùng đơn vị bạn đập tan cuộc hành quân Hỏa Sơn của địch, bắt sống 13 xe tăng còn nguyên vẹn góp phần bảo vệ vững chắc Cảng Cửa Việt. Đây là đợt chiến đấu phòng ngự đầu tiên quy mô lớn trong lịch sử E 101. Cũng là đầu tiên E 101 thực hành chiến đấu hợp đồng binh chủng của chiến dịch phòng ngự Bắc Quảng Trị trong đội hình binh đoàn Hương Giang, đánh dấu chặng đường trưởng thành và chiến thắng thứ 5 của E. Không chỉ giỏi tấn công mà còn biết phòng ngự quy mô trung đoàn tập trung trong chiến dịch phòng ngự binh chủng hợp thành lớn nhất lịch sử quân đội nhân dân ta.
Mùa Xuân 1975, E 101 đánh Tây Nam Huế, sau đó đánh chiếm căn cứ Long Điền, cắt đường số 1 từ Huế đi Đà Nẵng. Ngày 24/3/1975, E phát triển truy kích địch ở La Sơn, Truồi, Nong về Phú Bài. Trưa 23/5/1975, các mũi tiến công địch, tiến về cố đô Huế. Tiểu đội trưởng Nguyễn Tri Phương trinh sát tiểu đoàn 2 do tiểu đoàn phó Nguyễn Văn Xuân chỉ huy đã kéo lá cờ cách mạng lên cột cờ Phu-Văn-Lâu trước Ngọ Môn, báo tin thành phố Huế đã hoàn toàn giải phóng. Lúc ấy là 12 giờ 30 phút ngày 25/3/1975.
Trong hai ngày 26 và 27/3/1975 E đã tiến công địch ở Vinh Lộc, cửa Tư Hiền, bắt sống hàng ngàn tên địch. Đơn vị được tặng huân chương quân công giải phóng hạng II.
Đêm 15/4/1975, trong đội hình binh đoàn Hương Giang, E hành quân tham gia giải phóng Sài Gòn. Cùng đơn vị bạn, E đập nát tuyến phòng thủ Phan Rang, làm tan rã 12000 địch. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử E tham gia tiêu diệt căn cứ Long Thành, tiến vào giải phóng quận I và quận 9 Sài Gòn (nay thuộc quận IV). Với những chiến công xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. E 101 D được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 3/6/1976.
Từ tháng 2/1976 đến tháng 3/1979 E 101 D lại sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào diệt hàng trăm tên phỉ, giúp bạn bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng. E 101 A (tức Q 16) trong đội hình F5 quân khu 7 sau năm 1978 sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Miên, vẫn phát huy truyền thống anh hùng tham gia giải phóng nhiều vùng rộng lớn ở Kratié, Siêm Riệp, Ôđô-Miên Chay, Battămbăng... Đến tháng 1/1979 Q 16 tiến lên biên giới Miên Thái. Khi rút quân về nước, Q 16 được phong anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Ngày nay E 101 D trong đội hình F 325 binh đoàn Hương Giang được trang bị hiện đại, cùng sư đoàn là đơn vị xây dựng điểm của toàn quân: đánh dấu chặng đường trưởng thành thứ 6 của E 101 trong suốt quá trình gần 50 năm xây dựng và chiến đấu, để trở thành một đơn vị chính quy, tinh nhuệ, và từng bước hiện đại.
Từ một E 101 thời chống Pháp, phát triển thành 4 E 101 thời chống Mỹ và làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Miên, E đã xây dựng nên truyền thống anh dũng kiên cường quyết chiến quyết thắng, tự lực tự cường, dân tin dân phục, dân yêu trên chiến trường ba nước Đông Dương.
Hôm nay, giữa những năm 1994-1995 có nhiều ngày hội lịch sử này, lòng mỗi chiến sĩ E 101 lại rạo rực niềm vui, niềm tự hào. Lớp chiến sĩ trẻ, đội ngũ chỉnh tề, hiên ngang nhìn lá cờ quyết thắng lấp lánh huân chương. Trong ánh mắt họ, có những ngọn lửa truyền thống của lớp lớp cha anh đã rừng rực quyết tâm làm đẹp mãi truyền thống giải phóng và bảo vệ Tổ Quốc. Mùa thu Trung đoàn (5/9/1945 đến 5/9/1995) sắp tròn 50 tuổi. Điệp khúc ấy như một khúc quân hành giục giã thôi thúc. Mùa thu Trung đoàn, bài ca chiến thắng viết bằng máu các thế hệ 50 năm, khi cuộn trào như thác lũ dưới thời đạn bom, khi hiền hòa êm nhẹ trôi xuôi dưới thời hoà bình, như dòng Hương giang, cội nguồn Trung đoàn tuổi ấu thơ, và cả đến lúc trưởng thành 1975, mang ngọn cờ chiến thắng về lại Cố đô, rồi sau đó lại hành quân giải phóng miền Nam, đi làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và Miên. Dòng sông cội nguồn và ngọn cờ chiến thắng hòa nhịp vào biển cả mênh mông bất tận của nhân dân đang xây dựng và bảo vệ tổ quốc làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh.
Bốn mươi năm kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/1994) và 19 năm giải phóng miền Nam, giải phóng Huế (30/4/1975 - 30/4/1994).
N.H.L
(TCSH62/04-1994)
----------------------
(*) Ký hiệu viết tắt: F: sư đoàn, E: Trung đoàn, D: tiểu đoàn, C: đại đội v.v...
(1) Trích từ cuốn "Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 của Đại tướng Hoàng Văn Thái trang 60-61, nhà xuất bản Q.Đ.N.D.