Nhìn ra thế giới
Taj Mahal - viên ngọc quí của Ấn Độ, một kỳ quan của nhân loại
15:56 | 08/04/2026

VÕ QUANG YẾN

Cách đây hơn 300 năm có một ông hoàng tên Khurram, cháu nội Akbar là ông vua lừng danh của dòng họ moghol, gốc tích Mông Cổ xa xăm lại chiếm đóng miền bắc Ấn độ.

Taj Mahal - viên ngọc quí của Ấn Độ, một kỳ quan của nhân loại
Ảnh: tư liệu SH

Thông minh, thanh lịch, phong nhã, có học thức, ông hoàng nay còn thạo cầm quân khiển lính. Khổ cái là tánh tình ngang chướng nên tuy là đứa con có thiên tài nhất của vua Jahangir, ông bắt đầu đời mình với một cử chỉ phi đạo: ám sát một người anh rồi sau đó gây hấn với vua cha vì bất bình trong một chuyện nối ngôi. Với những rắc rối gia đình như vậy, suốt thời trai trẻ ông phải rời khỏi triều đình lêu la khắp nước.

Tình yêu vô thủy vô chung

Năm 21 tuổi ông lấy vợ. Cô Arjmand Baru, trẻ hơn ông hai tuổi, đẹp đẽ, thông minh vừa lại hiếu học, cũng không phải con nhà tầm thường. Ông nội cô ta, Mirza Ghiyas, cũng như ông thân cô ta, Asaf Khan, đều là thị vệ đại thần. Cô của cô ta, nữ thi sĩ Nur Jahan, lại là vợ vua Jahangir. Arjmand yêu chồng, quí chồng, rời bỏ cha mẹ, lầu son cung cấm, theo chồng bôn ba xa chốn kinh thành, chia sẻ miếng ăn tấm áo thời buổi hàn vi. Khi vua cha Jahangir băng hà, nhờ sự tận tình, khéo léo của ông gia Asaf Khan, ông hoàng Khurram lên nối ngôi lấy niên hiệu Shah Jahan (nghĩa là Hoàng đế của thế giới). Hồi ấy ông mới 35 tuổi. Bà vợ Arjmand lên chức hoàng hậu, lấy chức Mumtaz Mahal (tức là Con cưng của hậu cung). Số mệnh long đong, chưa hưởng thụ được cuộc sống vàng son bao lâu thì bốn năm sau, theo chồng đi chinh phạt miền Deccan, bà từ trần sau khi sinh hạ đứa con thứ 14 (có tác giả chỉ nói đến số 9, cũng đã là nhiều rồi). Vua Jahan đau đớn vô cùng, mất ăn, mất ngủ, bỏ đèn, bỏ sách, hết còn nghe nhạc, hết chịu tẩm hương, bần thần mất trí cho đến lúc quyết định xây ngay ở kinh đô Agra một nhà mộ để lưu truyền lại mãi kỷ niệm của người vợ yêu. Đặt tên nhà mộ là Taj Mahal (Vòng hoa cung điện), ông muốn nó lộng lẫy như nhan sắc bà vợ xấu số đã qua đời. Ông xây dựng thành công một công trình vô cùng tuyệt diệu ngày nay được sắp vào hàng các cung điện đẹp nhất thế giới, một viên ngọc quí mà hằng ngày khách thập phương đông đúc lại xếp hàng dài đằng đẵng để vào ngưỡng mộ.

Cũng nên biết thêm là nhà vua còn có ý định xây bên kia bờ sông Yamuna, trước ngay Taj Mahal, một nhà mộ cho chính mình bằng cẩm thạch đen thay vì cẩm thạch trắng và cho nối liền hai nhà mộ qua một chiếc cầu hai màu đen trắng, tượng trưng cho một mối tình bất diệt. Nhưng cuộc sống đã dành cho ông một cuối đời đau khổ: chưa kịp xây cất thì một đứa con ông, Aurengzeb, truất phế ông để chiếm ngôi. Ông bị giam giữ tám năm cho đến lúc chết trong một đồn ải gọi là Hồng Đài (Red Fort), cũng ở kinh đô Agra, không quá xa để qua cửa sổ, ngày ngày ông có thể ngồi ngắm nhà mộ của bà vợ và mặc sức tưởng niệm đến quá khứ xa xăm. Khi ông qua đời, Aurengzeb, một ông vua háo chiến, vô nhân, chỉ dành cho ông một chỗ nhỏ cạnh mả bà vợ trong nhà mộ Taj Mahal. Âu cũng là một chút an ủi cho mối tình tuyệt vọng.

Hỗn hợp hài hòa nghệ thuật

Yêu vợ tha thiết và xây nhà mộ cho vợ là chuyện thường tình ở thời buổi ngày nay. Nhưng đây là ở giữa thế kỷ 17: hồi ấy Hồi giáo không có tục lệ xây mộ, nhất là cho một người đàn bà, và nghệ thuật tang lễ cũng hoàn toàn bị cấm đoán. Ta phải tìm kiếm nguyên do ở dân tộc Thổ nhĩ kỳ. Lúc bị Mông-cổ đô hộ, họ đã có bắt đầu xây dựng nhà quanh mộ. Vua Tamerlan, đầu thế kỷ 15, có nhà mộ của mình, tuy nhỏ nhưng đã thành hình. Đến lượt người Thổ qua chinh phục miền bắc Ấn độ. Trong số con cháu của Tamerlan, gần một thế kỷ sau, có Babur lại đóng đô ở Dehli, dựng lên vương triều moghol sáng chói, hùng mạnh, tồn tại hơn một trăm năm cho đến đời Aurengzeb. Cháu nội Babur chính là Akbar. Ông vua này tuy là người Hồi giáo, vẫn còn tiêm nhiễm tục lệ miền Trung Á và rất khoan hồng về mặt tôn giáo: đây là một đức tính cần thiết để cai trị một vùng đầy dẫy tín ngưỡng, đạo giáo rất khác nhau. Ông có lẽ là ông vua siêu việt nhất cua Ấn độ. Tuy vậy, chỉ ba đời sau, vào triều đại Aurengzeb, khi toàn thể lãnh thổ Ấn độ thu về một mối, đất nước thống nhất, cũng chính là lúc bắt đầu một cuộc suy đồi: đấy chỉ vì Aurengzeb là một ông vua Hồi giáo cực đoan, hết còn khoan hồng độ lượng như các vua trước, người hiền lần lượt rời bỏ triều đình...

Có thể nói là trong thời vương triều moghol, Ấn độ thịnh vượng nhất dưới hai triều vua Jahangir và Shah Jahan: dân giàu, nước mạnh, văn hóa nghệ thuật đạt đỉnh tối cao. Nghệ thuật Hồi giáo, nhập cảng từ phương tây, đem vào Ấn độ nhiều ý tưởng mới lạ: vườn tược, nóc bằng, vật liệu cẩm thạch, tòa lầu ở bốn góc,... Đi ngang qua Ba tư, nhiều tượng ý lại ghép thêm vào: cửa tò vò iwan nội tiếp trong những khoảng hình chữ nhật, vườn có kênh chia ra làm bốn phần để cấu thành tchakar bagh (bốn vườn), mộ bia hai tầng có tám phòng bao quanh tạo ra hacht behecht (tám thiên đường),... các nghệ sĩ hấp thâu tài tình mọi chi tiết và thể hiện các chi tiết thật là khéo léo tài tình.

Một điều đáng chú ý là đến nay nhà mộ chỉ được xây cho mấy ông. Trong phong tục Hồi giáo, người vợ luôn phải phục tùng chồng, khi chồng không vừa ý, liền bị đuổi về ngay, khi có chia gia tài chỉ được nhận phần nhỏ, đi ra ngoài luôn phải có khăn che mặt, trong khuê phòng tất nhiên mất hết tự do,... Ta phải đợi đến triều đại moghol mới thấy mặt mũi người phụ nữ được đưa ra ánh sáng. Điển hình nhất là trường hợp nữ thi sĩ Nur Jahan, người cô của Arjmand trở thành Mumtaz Mahal, vợ của vua Jahangir. Đẹp đẽ, thông minh, và có học thức, bà lại còn khéo léo, duyên dáng, biết giúp chồng cai trị khi ông nầy rơi vào vòng rượu chè, trụy lạc. Tên bà còn để lại, ghi tạc trên các đồng tiền cạnh tên chồng. Sau này, khi Aurengzeb lên ngôi, ông ta giết rất nhiều người trong gia đình, nhưng đối với Nur Jahan thì luôn trọng vọng.

Linh hồn nhà mộ đêm trăng

Trong bối cảnh ấy, ta dễ hiểu hơn tình yêu của Shah Jahan và nhà mộ Taj Mahal. Không biết ai đã điều khiển cuộc xây cất, có lẽ nhà vua tự tay đốc suất. Cũng không biết tên các kiến trúc sư: nhiều đề nghị đã được đưa ra nhưng chẳng có một bằng chứng. Rất có thể Ustad Ahmad và em là Ustad Amid đã vẽ hoành đồ; Geronimo Veroneo từ Venise xa xăm lại lo về kế hoạch hòa hợp tòa nhà và vườn tược; một kiến trúc sư người Thổ nhĩ kỳ, Austin de Bordeaux, mà vua Jahangir đã ban cho chức "người sáng tác nghệ thuật", cũng đóng góp nhiều trong cuộc xây dựng và nhất là về trang hoàng... Vua Jahan rất thích cẩm thạch trắng, nhất là lại để diễn tả vẻ ưu nhã, yêu kiều của một phụ nữ, thì không nề hà bắt chở về từ mỏ đá Djodhpur bên xứ Radjasthan. Tuy nhiên ông không quên tài nguyên địa phương là sa thạch đỏ thường dùng để xây dựng các đồn ải. Hòa hợp hai loại đá này đã được thực hiện rất hài hòa. Cũng nên nghĩ đến tổ chức của một công trường khoảng 20.000 thợ thuyền ăn, ở, làm việc trong hơn 16 năm trời!

Tôi được đưa đến trước Taj Mahal một sáng mùa đông, sương mù đang còn vướng víu làm cho cảnh vật thêm mờ ảo, thần tiên. Sau khi vượt qua nhà cổng đồ sộ bằng sa thạch đỏ hoe, khách giật mình trước một bể nước dài soi bóng nhà mộ nằm ở đằng xa, trắng xóa và nổi bật như viên ngọc quý bày trong tủ kính. Lại gần hơn, một bể nước thứ nhì chắn ngang bể thứ nhất, chia vườn làm bốn phần. Vượt khỏi bể nước này còn phải bước nhiều nữa mới đến chân nhà mộ xây trên một cái nền khá cao, thành thử khi khách lại xem dù có đông bao nhiêu cũng chỉ lúc nhúc ở dưới, không che lấp chút nào nhà mộ chính thức. Đây là một lâu đài hình tám cạnh, cao hơn 60 mét, rộng cũng xấp xỉ cỡ ấy, trên cùng là một cái trần hình củ giống như một quả cầu mà phía dưới bị cắt ngang. Ở bốn góc là bốn cái lầu minaret thấp hơn nhà mộ chính nhưng lại thanh thon nên nhìn rất thoáng mắt.

Tất cả các bộ phận này đều bằng cẩm thạch trắng, chạm trổ trang hoàng với đủ loại các thứ đá quý, không cầu kỳ mà lại có vẻ đơn sơ, kín đáo làm cho thoát ra một ý tưởng tận thiện tận mỹ, gợi nên một phản ảnh thần linh, một vẻ đẹp cao cả của sự chết. Đứng trước Taj Mahal, ta có cảm tưởng như linh hồn đã thật lên đến chốn cực lạc vì chính ngay ở nhà mộ cùng vườn tược xung quanh, mọi cách sắp đặt, trang trí đều được đắn đo để tạo ra một thế giới thiên đường.

Người ta thường đồn rằng vào buổi chiều, khi mặt trời sắp lặn thì nhà mộ nhuộm màu hồng đẹp. Chiều hôm ấy, tôi đã trở lại xem Taj Mahal dưới ánh chiều tà. Nhà mộ không có trở nên hồng nhưng, nhất là sau khi mặt trời đã khuất bóng, dưới bầu trời thắm đỏ, ngôi nhà cẩm thạch trắng đã nhuộm đủ màu sắc, tím, xám, xanh, vàng, có khi mường tượng cả phản ảnh của những viên ngọc bích, hồng bảo... Tôi chỉ tiếc không có dịp trở lại xem Taj Mahal dưới ánh trăng thanh vì nghe nói khi ấy ta mới cảm nhận nổi linh hồn nhà mộ.

Không phải tình cờ mà Unesco đã ghi Taj Mahal vào danh sách các tài sản thế giới như cung điện, lăng tẩm thành phố Huế của chúng ta. Cái khác nhau là ở Huế, các đế vương khi còn sống đã lo xây cất nơi mình yên giấc ngàn thu, bên này là kỷ niệm một tình yêu mà một ông vua muốn dành cho vợ. Rút cuộc, cái may của bà hoàng hậu Mumtaz Mahal là có được một ông chồng độc đáo, cái may của vua Shah Jahan là xây cất được một nhà mộ tuyệt diệu đến nỗi người đời đã tha thứ những tội lỗi của ông, và cái may của ta là nhờ có cuộc gặp gỡ các nghệ thuật Hồi giáo, Ba tư, Ấn độ để ngày nay ngắm được một bảo vật như Taj Mahal.

Hắc ký ni sơn, đầu năm 1994
V.Q.Y
(TCSH62/04-1994)

 

 

Các bài đã đăng
Tôi không tin (24/03/2026)