Nghiên Cứu & Bình Luận
Chết, đừng sợ!
08:58 | 31/03/2026

HOÀNG ĐĂNG KHOA

“Sống hay chết cũng chỉ là cách nói” (Du Tử Lê).

Chết, đừng sợ!
Ảnh: tư liệu

Jonathan Lockwood Huie - tác giả của những cuốn sách về nhận thức bản thân - từng ví cuộc sống giống như cú nhảy khỏi một chiếc máy bay mà không có dù: cái chết chỉ đến ở vài giây cuối cùng nhưng hầu hết mọi người đều sợ chết trong suốt quá trình rơi xuống.

Người ta sợ chết, nhưng lại quên mất, rằng cái chết luôn ở cạnh, bình thản, không hề vội vàng, chỉ đợi đúng thời điểm của nó.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng nhận xét, rằng người nghĩ nhiều về cái chết là người quá yêu cuộc sống. Đúng vậy chăng: người ta sợ chết chính vì họ ham sống đến mức không muốn rời xa nó. Họ muốn được thấy thêm một hoàng hôn, uống thêm ngụm cà phê, đọc thêm một trang sách, nghe thêm một bản nhạc, yêu thêm một lần nữa. Họ sợ cái khoảnh khắc tất cả những điều ấy vụt tắt.

Nhưng có thật cái chết đáng sợ đến thế không? Hay chính nỗi sợ mới làm con người mù mịt? Và liệu có thể nào ta nhìn cái chết bằng một lăng kính khác - một lăng kính bớt ám ảnh hơn, an nhiên hơn, dịu dàng hơn, giống như cách ta nhìn một buổi chiều tàn đẹp đẽ?

Tiểu luận này nỗ lực gom nhặt, khảo xét cách mà các triết gia, văn nghệ sĩ luận bàn về cái chết, để thử đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên: không phải để tụng ca cái chết, mà để thấu suốt hơn cuộc sống; không phải để triệt tiêu nỗi sợ, mà để biến nó thành một phần của sự minh triết. “Chết, đừng sợ!” là một lời nhắc, rằng hãy sống sao cho ngay cả cái chết cũng không làm ta kinh hoàng.

Người ta sợ chết vì họ yêu cuộc sống quá nhiều - điều này hiển nhiên. Tuy nhiên, nỗi sợ ấy còn bị khuếch đại bởi một thực tế lạnh lùng khác: cái chết đến bất ngờ. Đột tử. Bất đắc kỳ tử. Tai nạn tai ương. Phải, cái chết, đúng nghĩa đen, luôn bất ngờ.

Nhà văn người Mỹ Paul Auster có lần viết: một người khỏe mạnh, không bệnh nền, vẫn có thể chết ngay khi đang ngồi trên ghế. Không báo trước. Không kịch tính. Một hơi thở hụt. Một cú ngã. Một sự im lặng đột ngột. Cái chết không cần lý do, chỉ cần cơ hội. Và khi đến, nó không để lại thời gian cho ta sắp xếp, không cho phép ta tìm cách an ủi chính mình.

Đây chính là sự phi lý của cái gọi là kiếp người.

Nhà báo người Belarus Svetlana Alexievich (Nobel Văn chương 2015), trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ, đã ghi lại một câu ngạn ngữ đau lòng: “Viên đạn thì ngu xuẩn, số phận thì gian ác...”, và bồi thêm: “Con người giống như một chiếc lông vũ, một chiếc lông nhỏ của con chim sẻ. Không ai biết được tương lai của nó”. Nhà thơ Du Tử Lê, trong Trên ngọn tình sầu, cũng bày tỏ sự hoang mang về tình thế bị làm người: tôi lớn lên biết mỗi điều duy nhất/ sao khi không ta lại phải làm người. Tại sao con người lại bị sinh ra, “lại phải làm người”, để rồi lại thường trực canh cánh một nỗi sợ chết, bởi cái chết có thể đến với họ bất cứ lúc nào?

Nỗi bất định bất an ấy khiến con người vừa sợ chết, vừa phải đối mặt với trách nhiệm sống. Marc Anthony, trong Một ngày đẹp trời để chết, viết: “Tất cả chúng ta đều là những kẻ có tội, những kẻ chấp nhận địa ngục của cuộc đời mình ngay cả khi đang còn hiện hữu trên mặt đất này”. Haruki Murakami trong Rừng Na Uy nhấn mạnh, rằng sự phi lý này chính là “chân lý”: “Bằng cách sống cuộc đời của mình, chúng ta đang nuôi dưỡng sự chết. Hiển nhiên là như vậy, nhưng đó lại là một chân lý duy nhất mà chúng ta phải học mới biết được”. 

Trịnh Công Sơn nhẹ nhàng hóa sự phi lý bằng cách coi cái chết như một sự đùa cợt của sự sống: “Cái chết chẳng qua cũng chỉ là một sự đùa cợt sau cùng của sự sống. Khi sự sống bất lực thì cái chết đến. Và cái chết hình như cuối cùng cũng chỉ là một sự ngộ nhận bất đắc dĩ của sự sống mà thôi”. Song nhiều khi tính chất phi lý hiện hữu trần trụi khiến người ta khó bề nói giảm nói tránh. Nhà viết kịch người Pháp gốc Romania Eugène Ionesco từng khẳng quyết, rằng sự tồn tại đã phi lý, cái chết cũng phi lý không kém. Nhà văn người Pháp Jean Teulé phóng đại điều này trong Cửa hiệu tự sát, nơi con người tìm cách dùng cái chết để “thành công”, khi cuộc sống đã quá thất bại. 

Nhưng có đúng như vậy không? Đời có hoàn toàn phi lý không? Lần lại lịch sử tư tưởng nhân loại, ta nghe văng vẳng câu nói của triết gia người Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel: Cái gì tồn tại là hợp lý, cái gì hợp lý sẽ tồn tại. Nếu thế, có lẽ cái tính chất phi lý mà ta tâm niệm chẳng phải là yếu tính của đời sống, mà chỉ là giới hạn của khả năng tri nhận. Thay vì than khóc vô nghĩa, con người buộc phải sống hết phần đời của mình, phải hát vang bài ca “độc bản” đời mình.

Ý niệm này được nữ nhà văn người Úc Colleen McCullough soi chiếu trong Tiếng chim hót trong bụi mận gai. Bà viết: “Trong mỗi chúng ta đều có một cái gì mà dù có gào khóc thế nào đi nữa ta cũng không vượt qua được nó. Chúng ta là như thế, và không làm thế nào được”. Và để khắc họa điều bất khả cưỡng ấy, bà gợi nhắc truyền thuyết cổ: con chim lao ngực vào chiếc gai, cất lên tiếng hót đẹp nhất khi trái tim bị xuyên thủng, rồi chết dần. Nó không thể làm khác được; số phận của nó là như thế. Cũng như con người, cho dù biết rằng mình sắp sảy chân - thậm chí biết trước từ bước đầu tiên - vẫn không ngăn họ bước tiếp. Mỗi người đều hát bài ca riêng và tin rằng thế gian chưa từng nghe một bài nào hay hơn. Lời dạy các con của Thượng Quan Lỗ Thị trong Báu vật của đời của nhà văn người Trung Quốc Mạc Ngôn (Nobel Văn chương 2012) cũng gặp gỡ tư tưởng ấy: “Chết thì dễ, sống mới khó, càng khó càng phải sống! Càng sợ chết lại phải càng cố mà sống”. Xem ra, sự phi lý của cái chết chỉ thực sự trở nên đáng sợ khi con người chưa sống trọn vẹn.

Nói cách khác, với con người, sống là lựa chọn duy nhất, ngay cả khi lựa chọn ấy chất chứa đau đớn. Nữ thi sĩ Dạ Thảo Phương viết trong Sen, chiều nay: sống, là nở/ dù biết nở là lụi tàn/ tỏa hương là đau/ nhưng có lựa chọn khác không anh. Chính vì không có lựa chọn khác, nên con người - đã sinh ra ở đời - buộc phải sống, và càng không sợ chết bao nhiêu thì lại càng sống mãnh liệt bấy nhiêu. Nhà văn người Mỹ William Faulkner, trong diễn từ nhận giải Nobel Văn chương 1949, quả quyết: “Tôi từ chối chấp nhận sự tàn lụi của con người… Ngay cả khi tiếng chuông cuối cùng của ngày tận thế đã vang lên và tắt lịm, vẫn còn một âm thanh: tiếng nói yếu ớt, không biết mệt mỏi của con người vẫn tiếp tục trò chuyện…”. Tư tưởng này nâng câu chuyện lên một tầng mới: sống không chỉ là bổn phận với chính mình, mà còn là lời tuyên bố chống lại sự tiêu vong.

Ý chí sống không chỉ vang lên trong những “đại tự sự”, mà còn thấm thía trong những lời ca nhỏ nhẹ, thân mật. Nhạc sĩ Phạm Duy, trong Nắng chiều rực rỡ, viết những ca từ thật giản dị mà quặn thắt: chớ lịm người nghe anh sắp qua đời/ anh chỉ còn bên em giây phút thôi/ nếu phải lìa xa thế gian này/ còn một ngày vui muôn nỗi vui. Ở đây, cái chết không bị bi kịch hóa, mà được nhìn bằng đôi mắt của người còn yêu, còn muốn sống thêm chỉ để có “một ngày vui muôn nỗi vui”. Câu hát gợi ra một chân lý mềm mại: con người bám vào sự sống không phải vì sợ hãi mà vì tình mến thương. Từ sự âu yếm ấy, câu nói của nhà văn người Séc gốc Do Thái Franz Kafka đã nối thêm một vế: “Anh ấy sợ chết khủng khiếp vì anh ấy chưa được sống”.

Nếu không có cái chết, có lẽ con người sẽ sống lơ đãng, buông trôi. Nghịch lý thay, chính cái chết - sự hữu hạn - lại trở thành động cơ lớn nhất để ta sống.

Trong khi nhiều người xác định “phải sống”, thì cũng không ít người cổ xúy cho quyền tự quyết cái chết cá nhân.

Một bộ phận xem tự sát như một lối thoát khỏi mọi bế tắc. Jean Teulé, trong Cửa hiệu tự sát, dựng nên một thế giới đậm màu bi hài: một cửa hiệu bé nhỏ không bao giờ có ánh nắng vui tươi lọt vào, nơi treo lơ lửng khẩu hiệu tàn nhẫn mà châm biếm: “Quý khách đã thất bại trong cuộc sống? Đến với chúng tôi, quý khách sẽ thành công trong cái chết”. Cách mở đầu ấy là một cú đập thẳng vào tâm trí: khi đời sống trở nên cùng đường tuyệt lộ, cái chết có thể bị lầm tưởng thành một “dịch vụ”, một “giải pháp”. Ý niệm “chết là giải thoát” này không phải mới. Nhà văn người Pháp Victor Hugo, trong Những người khốn khổ, đã để cho nhân vật Jean Valjean thốt lên trước lúc lìa đời: “Chết có sao đâu, không sống được mới thật là đau đớn”. Nhân vật của kịch tác gia người Séc Karel Čapek trong R.U.R thì lại đặt câu hỏi nhẹ đến “khôn kham”: “Có khi nào em thấy, Helena ạ, rằng chết có thể tốt hơn không? Nó cũng như là mình chỉ ngủ thôi”. Những tín điều này chưa hẳn cổ vũ cái chết, nhưng chạm vào một thực tế: con người nhiều khi xem cái chết như một chốn yên nghỉ, đối lập với sự lao tâm lao lực khi sống.

Một bộ phận khác lại đi xa hơn khi quan niệm: nên chết giữa kỳ rực rỡ để cái đẹp được lưu giữ, bất tử hóa. Nhà văn người Nhật Bản Yukio Mishima - tác giả Kim Các tự - nổi tiếng với lối suy nghĩ này: sự hủy hoại một vẻ đẹp đang ở giữa đỉnh cao là cách duy nhất để giữ cho nó được tồn tại vĩnh viễn. Nhà văn người Mỹ Ernest Hemingway (Nobel Văn chương 1954) cũng không giấu nỗi hoài cảm tương tự: “Tốt hơn biết bao khi chết trong thời gian hạnh phúc của tuổi trẻ còn chưa nản chí, sống hết mình trong ánh sáng rực rỡ còn hơn là nhìn thể xác kiệt quệ và già nua, vỡ mộng”. Ở đây, cái chết trở thành một lựa chọn thẩm mỹ - một cú chấm câu để giữ nguyên vẻ huy hoàng, như thể thời gian không bao giờ kịp làm tan hoang.

Nhưng, nhiều người lại đưa ra phản biện, rằng sống mới là nghĩa vụ trước Trời Đất. Nhà văn người Pháp Albert Camus (Nobel Văn chương 1957) có lần nói: “Nhưng đến cuối cùng một người cần can đảm để sống hơn là tự giết anh ta”. Nhà văn Bảo Ninh trong Nỗi buồn chiến tranh để nhân vật tự tin với chân lý khó biện minh: “Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ...”. Điều này cộng hưởng với lời nhắc nhủ chân thành của Trịnh Công Sơn: “Mình không có quyền cho phép ai chết cả… Ngay cả giải quyết số phận một ngọn cỏ cũng phải suy nghĩ, ngắt đi một bông hoa bên vệ đường cũng phải suy tư huống chi số phận con người quá lớn và chúng ta không có quyền quyết định số phận con người”.

Xem ra, đời thực không phải là sân khấu để ta tùy ý viết kịch bản sinh tử. Cái chết, bất luận triết lý gì bao bọc quanh nó, vẫn là sự đoạn tuyệt quyền hiện tồn của một sinh thể. Và quan trọng hơn, cái chết không bao giờ là câu chuyện của chỉ một cá nhân. Nó là mất mát không thể đong đếm đối với người ở lại - đặc biệt là đấng sinh thành. Nhân vật của Murakami trong Rừng Na Uy phản tỉnh: không chân lý nào làm dịu được nỗi đau khi mất người mình yêu thương. Nhà văn người Thụy Điển Fredrik Backman trong Người đàn ông mang tên Ove thì thẳng thắn hơn: “Chúng ta sợ chết, nhưng đa phần chúng ta sợ nhất là khi nó đem một ai đó đi mất chứ không phải chính chúng ta… Nỗi sợ lớn nhất khi đối mặt với cái chết là việc nó sượt qua chúng ta. Và bỏ lại chúng ta một mình”. Nghĩa là, con người không chỉ sống cho bản thân mà còn sống cho người yêu thương mình, nhất là cho người đã sinh ra mình.

Và vì sống là một cam kết, không phải một trạng thái, tay bút “đa năng” người Anh Bertrand Russell (Nobel Văn chương 1950) mới viết: “Quan trọng không phải chữa lành, mà là đem theo nỗi đau và tiếp tục sống”. Sống - với toàn vẹn thì hiện tại của nó, không né tránh, không phó thác cho một kiếp sau mơ hồ. Sống là phần việc ở thế giới này, ngay lúc này. Nữ nhà văn người Mỹ Harper Lee cảnh tỉnh tinh tế trong Giết con chim nhại: “Có những loại người… họ quá bận lo về thế giới bên kia đến độ không hề hay biết cách sống trong thế giới này”. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi, bằng giọng điềm tĩnh hơn, từng phát biểu: “Khi sống, ta đừng để cho đến nỗi vì sợ chết mà cuộc đời của ta phải ám mờ… Ta cũng không nên chuộng đời sống mai sau của linh hồn hơn đời sống hiện tại, và khinh bỉ cuộc đời ta đang đem cả linh hồn lẫn thân thể ra sống đây”. Có nghĩa, giữa quyền được chết và nghĩa vụ phải sống, lựa chọn nghiêng về sống không phải vì đạo lý áp đặt, mà vì đời là một cơ hội độc bản, và ta không thể chối bỏ nó chỉ vì bất như ý.

Vậy, sống sao để không còn quá sợ chết?

Một trong những gợi ý về cách sống bình thản trước cái chết được Bertrand Russell đưa ra: khi lớn tuổi, con người nên buông bớt những ham thích, khiến hứng thú mất dần tính cá nhân, làm cho bức tường cá tính lùi xa dần, đem cuộc sống của bản thân hòa điệu với cuộc sống của vũ trụ. “Cuộc sống của một con người nên như là một dòng sông. Lúc đầu do hai bờ còn hẹp, tuổi xuân ào ạt như sóng vỗ, băng qua thác ghềnh, lao xuống như thác đổ, rồi dần dần dòng sông rộng hơn, đôi bờ xa nhau hơn, dòng nước bình lặng dần, rồi cuối cùng hòa nhập vào biển lớn, không có bến bờ, không đau khổ gì vứt bỏ cái tôi của mình. Một người già hình dung được như thế sẽ không còn bị giày vò bởi cái chết”. Khi cái tôi bớt nặng, cái chết cũng nhẹ theo.

Tư tưởng “buông bỏ” này gặp gỡ với chủ trương sống “biết đủ” của nhiều nhà văn hiện đại. Câu nói cửa miệng của nhà văn người Nhật Bản Fujisawa Shuhei là “Cuộc sống bình thường là tốt nhất”. Nhà văn người Nhật Bản khác là Itsuki Hiroyuki đặt cho một cuốn sách của mình cái tên “Chỉ sống thôi là đã đủ tuyệt vời”. Những diễn ngôn tưởng như giản dị này hé mở bí mật về sự bình an, một khi con người biết tự bằng lòng. Thật vậy, nếu vô minh bất tri túc thì càng sống càng thở than. Dĩ nhiên, sẽ tuyệt vời biết bao nếu ta xác định được mục đích hay mục tiêu trong đời và rồi từng bước chinh phục được nó. Nhưng dù không đạt được bất cứ thành tựu nào đi chăng nữa, sự tuyệt vời của sự sống cũng vẫn vẹn nguyên. Chỉ riêng việc “sống” đã có nghĩa là con người đang kiên cường đấu tranh với rất nhiều thứ, đang nỗ lực để bảo vệ chính mình, đồng thời đang thích nghi, hòa hợp cùng thiên nhiên và môi trường xung quanh. 

“Con người ta chỉ nợ Chúa một lần chết. Người đã chết năm nay thì năm sau không còn chết nữa” - câu nói của nhà viết kịch người Anh William Shakespeare giúp chúng ta bình thản hơn khi đã quán chiếu được lẽ vô thường cũng như quy luật sinh tử.

Thời đại ngày nay là thời đại của từ khóa cô đơn. “Nỗi cô đơn của các số nguyên tố”. “Cô đơn trên mạng”… Và đôi khi chính cô đơn là nguyên nhân kéo người ta đến bờ tự hủy. Cửa hiệu tự sát của Jean Teulé chỉ ra điều ấy: nỗi tuyệt vọng tập thể. Nhưng cái chết không thể là phương án. Cách khả dĩ để chống lại nỗi sợ sống phải chăng là kiến tạo tính cộng thông, cộng đồng: quan tâm lắng nghe thấu hiểu nhau, nâng dìu nhau, tiếp truyền cho nhau niềm vui sống.

Nhà văn người Áo Stefan Zweig, trong Ánh sáng và bóng tối trên châu Âu, từng gợi nhắc: chỉ ai trải qua cả sáng lẫn tối, cả thịnh lẫn suy, người ấy mới thực sự đã sống. Và một người thực sự đã sống, thường không còn quá sợ chết.

Lúc này, cái sống và cái chết trở nên song tồn, cùng nhẹ nhàng như “hơi thở”. Nữ thi sĩ Ly Hoàng Ly, trong Ký ức, viết: khi sống tới đâu chết tới đó/ chết tới đâu sống tới đó/ là khi chạm đến tận cùng của buông bỏ/ tử sinh là hơi thở. Nhà thơ người Ireland Oscar Wilde mô tả cái chết đẹp đến mức làm người đọc bình tâm: được nằm trong lòng đất nâu êm ái, cỏ rung rinh trên đầu, không còn hôm qua hay ngày mai - một trạng thái thanh thản bình yên mà sự sống nhiều khi không thể cho ta. Nhà thơ, nhà phê bình người Mexico Octavio Paz (Nobel Văn chương 1990) nói: “Hiện tại là chỗ gặp gỡ của cả ba hướng thời gian. Sự chết cũng là một trái cây của hiện tại. Không thể chối từ nó, bởi chính nó cũng là một phần của đời sống. Chết an lành hàm ý sống an lành. Ta phải học cách ngó thẳng vô mặt sự chết…”. Nghĩa là, khi ta sống an nhiên an lành, cái chết trở thành một phần tự nhiên của đời sống, không phải sự cắt đứt mà là sự tiếp nối.

Với chủ thể sống đồng thời là chủ thể viết, thì viết cũng là sống, viết chính là cách lý tưởng để nối dài cái sống. Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Hưng Quốc xác quyết: giữa sống và chết/ tôi chọn cái ở giữa/ viết. Viết là một hành động sáng tạo: sáng tạo ra tác phẩm, sáng tạo ra thế giới, sáng tạo ra chính người viết. Văn chương, theo cách nói của Hoài Thanh, là tấm lụa bạch hứng linh hồn của bao nhiêu thế hệ văn nhân. Nhờ văn chương mà ta vẫn thấy sự hiện diện của “những người muôn năm cũ”.

Cái chết, suy cho cùng, không phải kẻ thù của con người. Nó chỉ là sự tiếp nối tự nhiên của dòng sông đời sống: từ khe núi hẹp đến khi mở ra biển lớn. Nỗi sợ chết không biến mất, nhưng khi ta biết “sống đầy đủ và mãnh liệt” (chữ của Hàn Mặc Tử), cái chết sẽ không còn làm ta run rẩy nữa.

“Cái chết là một điều đáng gờm nhưng không ai tránh khỏi được. Ðể có được một sức mạnh chống lại nó thì hãy yêu và hãy biết yêu như thế nào đó để cái chết chỉ còn là một tồn tại viển vông, chẳng cần thiết” - Trịnh Công Sơn đã nói như thế. Cõi đời ơi, khi tôi đã chết rồi/ thì trong cõi vắng lặng của người/ chỉ một lời này còn lại/ “tôi đã từng yêu” - thi sĩ người Ấn Độ Rabindranath Tagore (Nobel Văn chương 1913) đã nói như thế. Phải, yêu là cách tối ưu để ta đóng con dấu hữu hạn đời mình lên cõi đời vô hạn. Yêu với nghĩa rộng nhất, không chỉ giới hạn trong tình yêu nam nữ mà nới giãn ra thành tình yêu quảng đại: yêu bản thân, yêu tha nhân, yêu cuộc sống này.

Đời mỗi người là một câu chuyện. Điều quan trọng không phải là dài hay ngắn mà là hay hay dở. Hai câu thơ của thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo trong Đồng dao cho người lớn khiến ta giật mình: có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi/ có con người sống mà như qua đời. Cái chết vừa là phi lý, vừa là nghĩa lý để con người thường xuyên biết phản tư, biết tự tra xét, rằng mình đang sống hay chỉ là đang tồn tại. Nhờ đó, thay vì ngồi đợi cái chết rất lâu trước khi nó tới, người ta tranh thủ dọn dẹp, “quy hoạch” lại cái sống của mình, từ đó lại tiếp tục kiên cường sống, tuyệt nhiên không khuất phục thần chết, bởi dẫu thế nào, sống vẫn là đặc ân, cuộc đời vẫn tươi đẹp. Nhà văn người Canada Yann Martel xem ra đã không quá cường điệu hóa điều này khi viết trong Cuộc đời của Pi: sự sống đẹp đến nỗi sự chết đã phải lòng nó, một mối tình tư vị đầy ghen tị. Nhưng đây chỉ là “mối tình” đơn phương: mặc kệ sự chết bám riết, sự sống cứ bứt thoát, không thỏa hiệp. Paul Auster - tác giả Khởi sinh của cô độc - viết: “Cho đến khi cái chết xảy ra, luôn có khả năng là sẽ không có cái chết, và cơ hội đó, dù chỉ mong manh, vẫn phải được chờ đợi”. Tinh thần hoan ca sự sống ấy cũng vang lên trong bài thơ Nếu của nhà thơ người Anh gốc Ấn Rudyard Kipling (Nobel Văn chương 1907): nếu mỗi phút giây con có được trong đời/ không để phí hoài mà luôn luôn đặt trên đường chạy/ thì thế giới này sẽ là của con, cùng tất cả những gì trong đấy/ và - quan trọng hơn - con trai, con là một Con Người. Những câu thơ như một lời nhắc: sống đúng nghĩa là làm chủ cuộc đời mình, đối mặt với cái chết bằng cách biến mỗi khoảnh khắc thành giá trị sống.

Ernest Hemingway nói: “Con người nào cũng sẽ kết thúc cuộc đời bằng cái chết. Chỉ có cách sống, cách ra đi là đặc điểm khiến người này khác biệt so với những người còn lại”. Nhà phê bình người Mỹ gốc Pháp George Steiner còn gợi nhắc rằng mỗi chúng ta nên là một vị khách ở đời: khách đến lịch sự, khách đi cũng lịch sự, và để lại dấu vết nhỏ khiến đời này đẹp hơn một chút. Phải, nói như triết gia người Đức Friedrich Nietzsche thì, điều quan trọng với con người không phải là sống mãi mãi mà là sống động mãi mãi.

H.Đ.K
(TCSH445/03-2026)

 

 

Các bài đã đăng