KÊ SỬU
Trong tiến trình nghiên cứu văn hóa Việt Nam, tục ngữ luôn giữ vị trí đặc biệt như một “kho ký ức” của cộng đồng - nơi kết tinh tri thức bản địa, kinh nghiệm ứng xử và thế giới quan dân gian qua nhiều thế hệ.
Từ góc nhìn nhân học - ngôn ngữ học, tục ngữ không chỉ phản ánh đời sống mà còn là tấm gương soi cấu trúc văn hóa của từng vùng, từng tộc người. Chính bởi vậy, việc khảo sát dấu ấn bản địa trong tục ngữ trở thành một hướng tiếp cận có ý nghĩa nhằm giải mã chiều sâu văn hóa của các cộng đồng cư dân.
Xứ Tà Ôi và xứ Huế - hai không gian văn hóa nằm trên dải Trường Sơn - Thuận Hóa - vốn vừa giao thoa, vừa dị biệt về môi trường sinh thái, cấu trúc xã hội, tín ngưỡng và lịch sử. Nếu người Tà Ôi đại diện cho văn hóa núi rừng nguyên hợp, đậm dấu ấn đa thần và tri thức sinh tồn, thì người Huế lại tiêu biểu cho văn hóa đồng bằng - cung đình - dân gian hòa quyện. Những khác biệt ấy in dấu sâu đậm vào tục ngữ, tạo nên hai hệ thống ngôn từ dân gian vừa thống nhất trong nền tảng văn hóa Việt, vừa đa dạng trong sắc thái địa phương.
Dựa trên hai nguồn tư liệu quan trọng: Tục ngữ dân tộc Tà Ôi (Kê Sửu, 2017)1 và Tổng tập Văn học dân gian xứ Huế - Tục ngữ (Triều Nguyên, 2021)2, nghiên cứu này tập trung khảo sát bốn phương diện biểu hiện của dấu ấn bản địa: (1) Hình ảnh tự nhiên; (2) Phong tục - tập quán; (3) Ngôn ngữ địa phương; (4) Triết lý sống. Qua đó, bài viết hướng đến việc chỉ ra những tương đồng mang tính căn cốt của văn hóa Việt Nam, đồng thời làm nổi bật những dị biệt thể hiện sắc thái độc đáo của hai cộng đồng cư dân.
Việc đối chiếu tục ngữ Tà Ôi (TNTO) và tục ngữ xứ Huế (TNXH) không chỉ góp phần nhận diện bản sắc văn hóa vùng miền mà còn làm rõ cơ chế hình thành, lưu giữ và chuyển hóa tri thức dân gian trong từng môi trường văn hóa cụ thể. Từ đó, có thể thấy rõ tục ngữ không chỉ là lời nói dân gian, mà là một dạng “bản đồ văn hóa” phản ánh cấu trúc xã hội, tâm lý tộc người và căn tính bản địa qua nhiều thế hệ.
Trong nghiên cứu văn hóa, khái niệm “văn hóa” được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra nhằm phục vụ cho đời sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” (Hội nghị Văn hóa toàn quốc, 1946)3. Câu nói này không chỉ mang tính định hướng mà còn là cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Trong đó, “văn hóa bản địa” được xem là những giá trị đặc trưng tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách và bản lĩnh của từng cộng đồng. GS.TS.KTS Phạm Hùng Cường (2017) cho rằng văn hóa bản địa chính là “những nét đặc trưng, những sắc thái riêng mà các vùng khác không có hoặc có nhưng không điển hình, không tiêu biểu”4. Ví dụ, văn hóa bản địa của người Tà Ôi thể hiện qua tín ngưỡng thần núi, thần suối, nghề dệt thổ cẩm; trong khi văn hóa bản địa Huế lại gắn với sông Hương, núi Ngự, chùa Thiên Mụ, và phong tục cung đình.
Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian ngắn gọn, súc tích, thường được cấu tạo bằng những câu có vần, dễ nhớ, dễ truyền. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005), tục ngữ là “một kho tài liệu về đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc, thể hiện tư tưởng lành mạnh của nhân dân lao động, đả kích thói hư tật xấu, chống bọn thống trị phong kiến, chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai.”5
Ví dụ, tục ngữ Việt phổ biến như: “Có công mài sắt, có ngày nên kim” phản ánh triết lý kiên trì; hay “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” thể hiện tinh thần đoàn kết. Những câu tục ngữ này vừa mang tính phổ quát, vừa có thể mang dấu ấn bản địa khi gắn với hình ảnh thiên nhiên, lao động của từng vùng miền.
Công trình Tục ngữ dân tộc Tà Ôi (2017) được sưu tầm và bình giải công phu, tập hợp 828 đơn vị tục ngữ của người Tà Ôi. Đây là nguồn tư liệu quý giá, bởi trước đó tục ngữ của các dân tộc thiểu số miền Trung ít được nghiên cứu một cách hệ thống. Công trình không chỉ ghi lại nguyên văn tục ngữ bằng tiếng Tà Ôi, mà còn dịch nghĩa, giải nghĩa, giúp người đọc hiểu rõ nội dung và giá trị văn hóa. Theo thống kê, 828 đơn vị tục ngữ Tà Ôi được phân thành năm nhóm lớn: Quan hệ con người - tự nhiên (68 đơn vị): phản ánh tri thức bản địa về thời tiết, khí hậu, muông thú, cây cỏ, địa danh tự nhiên. Ví dụ: “Chim kêu thì mưa, thú kêu thì nắng” - dự báo thời tiết dựa vào tiếng động vật. Kinh nghiệm lao động sản xuất (108 đơn vị): ghi lại kinh nghiệm săn bắt, hái lượm, trồng trọt, chăn nuôi, dệt thổ cẩm, dựng làng. Ví dụ: tục ngữ về chọn giống cây trồng theo mùa vụ, hay lời khuyên về cách chăm sóc vật nuôi. Đời sống vật chất (95 đơn vị): phản ánh ăn uống, ăn mặc, công việc, sức khỏe. Ví dụ: tục ngữ khuyên răn về việc ăn uống điều độ, giữ gìn sức khỏe. Đời sống gia đình - xã hội (213 đơn vị): phản ánh quan hệ thân tộc, hôn nhân, cộng đồng, giao thương. Ví dụ: tục ngữ khuyên con cái hiếu thảo với cha mẹ, hay nhấn mạnh sự đoàn kết trong làng. Đời sống tinh thần (344 đơn vị): phản ánh tình cảm, đạo lý, khôn - dại, may - rủi, số mệnh. Ví dụ: tục ngữ nhấn mạnh lòng nhân ái, sự kiên nhẫn, niềm tin vào thần linh. Tục ngữ Tà Ôi có cấu trúc đa dạng: câu ngắn, câu sánh đôi, sánh tư, nhiều vế. Thường có vần (vần chân, vần lưng), tạo nhịp điệu dễ nhớ. Ngôn ngữ giàu hình ảnh tự nhiên: núi, rừng, lửa, nước, muông thú. Đây là biểu hiện rõ nét của dấu ấn bản địa miền núi Trường Sơn. Tỷ lệ tục ngữ mang dấu ấn bản địa trong TNTO rất cao: 798/828 đơn vị (96,38%). Điều này cho thấy tục ngữ Tà Ôi gắn bó mật thiết với môi trường sống, phản ánh tri thức bản địa phong phú.
Tác phẩm Tổng tập Văn học dân gian xứ Huế - Tục ngữ của Triều Nguyên (2021) là một công trình đồ sộ, tuyển chọn 2252 đơn vị tục ngữ Huế. Đây là kết quả của quá trình sưu tầm, đối chiếu với “Kho tàng tục ngữ người Việt”, kết hợp với tư liệu mới. Công trình phản ánh sự phong phú và đa thanh của tục ngữ Huế, đồng thời khẳng định vị trí của Huế trong văn hóa dân gian Việt Nam. TNXH cũng phản ánh năm nhóm nội dung tương tự TNTO, nhưng ở mức độ phong phú và đa dạng hơn. Đặc biệt, nhiều tục ngữ cùng nói về một sự việc nhưng đưa ra cách nhìn khác nhau, thậm chí trái ngược. Ngôn ngữ TNXH đậm đặc sắc thái địa phương, nhiều từ ngữ Huế được sử dụng với tần suất cao. Ví dụ: từ “bàu” (ao nước lớn) là từ đặc trưng của miền Trung, xuất hiện trong tục ngữ Huế. Cấu trúc ngôn từ phong phú, nhiều câu ngắn gọn, giàu tính triết lý. Trong tổng số 2252 đơn vị tục ngữ, có 890 đơn vị mang dấu ấn bản địa (39,52%). Tỷ lệ này thấp hơn TNTO, nhưng phản ánh sự giao thoa giữa văn hóa dân gian và văn hóa cung đình, giữa bản sắc địa phương và ảnh hưởng toàn dân tộc. Công trình của Triều Nguyên khẳng định sự phong phú và đa thanh của tục ngữ Huế, đồng thời cung cấp nguồn tư liệu quý giá cho nghiên cứu văn hóa miền Trung.
Biểu hiện của dấu ấn bản địa trong tục ngữ Tà Ôi và tục ngữ xứ Huế
1. Hình ảnh tự nhiên
1.1. Khái quát
“Hình ảnh tự nhiên” trong tục ngữ là một biểu hiện nổi bật của dấu ấn bản địa, phản ánh môi trường sinh thái, hệ động thực vật, cảnh quan đặc trưng và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên ở từng vùng văn hóa.
Với người Tà Ôi, tự nhiên là không gian sinh tồn - rừng, suối, núi là mái nhà, là bạn đồng hành trong lao động và tín ngưỡng.
Với người xứ Huế, tự nhiên lại là bối cảnh quen thuộc của đồng bằng ven phá, sông Hương - núi Ngự, ruộng đồng, cây cối, chim cá - tất cả trở thành hình ảnh mang sắc thái duyên dáng, tinh tế của miền Trung.
1.2. Hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ Tà Ôi
Các hình ảnh tự nhiên xuất hiện dày đặc, thể hiện vốn tri thức bản địa về môi trường sống. Người Tà Ôi quan sát kỹ lưỡng sự biến đổi của thời tiết, sinh thái rừng núi, sông suối, cây cỏ và muông thú.
Ví dụ:
Ivơâch ikooh iyoók dông kos talleau, Ivơâch itoóm idak dông kateau katúng - “Đi rừng rú thì mang giáo, mác; Đi suối sông thì mang lưới, đơm” (TNTO 120) > Phản ánh tri thức sinh tồn miền núi, nơi rừng, suối là không gian sống.
Kaching kât khong dak, Alén apeéh kât toóm dak - “Cá chình nước sông, cá bóng nước suối” (TNTO 38) > Hình ảnh sinh thái sông suối miền Trường Sơn.
Tulíq tring aling parlang - “Mai hồng phong lan đỗ quyên.” (TNTO 66) > Gắn bó với cảnh quan núi rừng và thực vật địa phương.
Tada arus, tada ting chong… - tục ngữ về giá trị rừng, suối. (TNTO 156) > Biểu tượng của tài nguyên tự nhiên thiêng liêng.
Các ví dụ tương tự khác: Abur abear tear itee - “Trắm, kiếm, bớp, vược”. (TNTO 4); Abur aka ata tumum pilees - “Trắm, gáy, mỏ vịt, bông lau, hồng”. (TNTO 5); Achíq avăk patdăng pla, Ala aho patdăng tong - “Dao rựa hướng chuôi, lá trúc hướng cán”. (TNTO 78); Akut idău, klo klău ingăi - “Ếch đêm, ốc ngày”. (TNTO 80); Arang i-oóm aro, Apo itê abíh - “Lúa sảy bằng nẻn, gạo sàng bằng mẹt” (TNTO 88); Are ichét trưi tre kunhe kupuaq, Alai ichoi rahâu rahe katang kachăh - “Rẫy thì trỉa trưi tre kunhe kupuaq, nương thì trỉa rahâu rahe katang kachăh” (TNTO 87); Júh cha pahu, pích tilooi - “Muốn ăn lợn lòi, phải đào trùn” (TNTO 37); Kadeap sasear kop pitear kos, Alén ajang kop katdos tâi - “Bắt cá bóng cá cơm thì búng tay, bắt cá chét cá chình thì xoay lao.” (TNTO 122); Kapbưq aténg, achéng akúp - “Dúi đót, dơi hang.” (TNTO 40); Karhoo kring tăk parrơau parrui, Alui kring llíng kuíh dak - “Mướp già phơi làm đồ rửa, bầu già phơi làm ống gùi nước.” (TNTO 128); Kula kăh kăp cha ikon anăq krơơ - “Hùm không ăn thịt con dẫu hung dữ.” (TNTO 51); Lahai sasear kât achúh achear… Tục ngữ về cá ở thác ghềnh, vực thẳm. (TNTO 52); Tăk veel lâi klúng, khong, Tăk Roong lâi nnool akăn - “Lập làng xem đồng, sông; làm nhà Rông xem cột cái” (TNTO 158); Tatda arus tatda jeng… - Tục ngữ về đất rừng quý giá. (TNTO 160)…
Các câu tục ngữ trên cho thấy môi trường rừng núi Trường Sơn được phản ánh như một “bản đồ sinh thái dân gian”. Người Tà Ôi nhận biết chu kỳ sinh hoạt của động vật, đặc điểm của cá suối, cá sông, quy luật canh tác rẫy - nương, giá trị của rừng, suối, đất đai. Thiên nhiên trong tục ngữ Tà Ôi không tách rời con người: đó vừa là nơi lao động, vừa là không gian thiêng. Hình ảnh dao rựa, lá trúc, cây bầu, con dúi, con hùm… thể hiện tri thức bản địa và thế giới quan hài hòa giữa người và tự nhiên.
1.3. Hình ảnh tự nhiên trong tục ngữ xứ Huế
Khác với người Tà Ôi, người Huế sống trong môi trường đồng bằng ven sông, gắn với phá Tam Giang, sông Hương, ruộng đồng và nghề nông. Thiên nhiên hiện lên gần gũi, giàu chất thơ, nhưng vẫn mang tính thực tiễn, phản ánh kinh nghiệm sinh hoạt của cư dân nông nghiệp.
Ví dụ:
Lấy vợ không cheo như khoèo không mấu (L89) > Tập tục “nộp cheo” trong hôn nhân làng xã miền Trung.
Phò Trạch đan đệm, Phú Nông tép cá, làng Rào ốc đam. (Ph12) > Ghi dấu nghề truyền thống - văn hóa làng nghề Huế.
Ăn có mời, mần có mượn. (Ă5) > Thói quen giao tiếp lễ độ, phản ánh văn hóa ứng xử xứ Huế.
Ếch tháng ba, cá tháng tám. (Ê4) > Phản ánh chu kỳ mùa vụ, tri thức nông nghiệp đồng bằng.
Trên trời con vạc, dưới nác con chình. (Tr709) > Hình ảnh sinh thái sông nước vùng phá Tam Giang. Cá lọt oi, gà lọt bội. (C14) > Dựa vào hình ảnh vật nuôi quen thuộc vùng nông thôn.
Ngã nước đu đủ, ung nhũ mãng cầu. (Ng1) > Gắn liền thổ nhưỡng, cây trái xứ nhiệt đới miền Trung.
Các ví dụ tương tự khác: Canh bầu thì nấu hanh hao, bín ngô nấu tỏi, bín đao nấu hành. (C41); Cá gáy hóa rồng. (C9); Cơm mô cho đầy bụng chó, ló mô cho đầy bụng gà. (C201); Cua chết thì bỏ, vò vọ chết thì ăn. (C215); Đầu cá chép, mép cá tràu. (Đ63); Khoai lang nóng bàng thì chín. (Kh32); Lươn, lệch, ếch, chình, hôn. (L144); Phân tro không bằng no nước. (Ph3); Gió chiều mô, bổ chiều nấy. (Gi66)…
Những câu tục ngữ Huế này sử dụng hình ảnh cây trái, vật nuôi, sông nước, gió mùa - những yếu tố quen thuộc trong môi trường đồng bằng. Tính bản địa thể hiện ở chỗ người Huế nhận thức tự nhiên như một phần đời sống nhân sinh. Cách nói ngắn gọn, giàu vần nhịp và âm điệu miền Trung. Khác với người Tà Ôi nhìn thiên nhiên như thiêng liêng, người Huế nhìn thiên nhiên qua lăng kính ứng xử và kinh nghiệm: làm sao để sống thuận mùa, thuận trời, thuận nước.
Cả tục ngữ Tà Ôi và tục ngữ Huế đều phản ánh tri thức dân gian gắn với môi trường địa lý bản địa, nhưng có những sắc thái khác biệt. Thiên nhiên trong tục ngữ hai vùng là tấm gương phản chiếu môi trường văn hóa: Với người Tà Ôi, thiên nhiên là “bạn linh thiêng”. Với người Huế, thiên nhiên là “người thầy hiền hậu”.
2. Phong tục, tập quán
2.1. Khái quát
“Phong tục, tập quán” là biểu hiện trực tiếp nhất của dấu ấn bản địa trong tục ngữ. Đó là những thói quen sinh hoạt, quy tắc ứng xử, tín ngưỡng, lễ nghi, tập tục hôn nhân - lao động - cộng đồng được hình thành và duy trì trong từng môi trường văn hóa.
Với người Tà Ôi, phong tục gắn liền với sinh hoạt rừng núi, lao động săn bắt, hái lượm, canh tác rẫy, cùng tín ngưỡng đa thần và lễ nghi cộng đồng.
Với người Huế, phong tục lại mang sắc thái làng xã, thấm đẫm văn hóa cung đình, và được thể hiện qua các lệ làng, tập quán cưới hỏi, cách ăn ở, giao tiếp.
2.2. Phong tục, tập quán trong tục ngữ Tà Ôi
Qua tục ngữ, Phong tục Tà Ôi được phản ánh đa dạng: từ tập quán sản xuất, nghi lễ tín ngưỡng, phân công giới tính trong lao động, đến cách ứng xử cộng đồng.
Ví dụ:
Kop klo măq iseak cho yang klo - “Bắt ốc cũng vái thần ốc” (TNTO 418) > Thể hiện tín ngưỡng vạn vật hữu linh: mọi vật đều có thần.
Kooh dak chêng vê yang, Tăk mmâh padang seak yang ngkứk - “Núi sông đều có thần ngự trị, làm gì cũng phải cầu xin thần” (TNTO 696) - “Núi sông đều có thần ngự trị” > Dấu ấn văn hóa tín ngưỡng nguyên sơ.
Kah siau kah kơât buah - “Không có rượu không thành lễ” > Tập quán lễ nghi - rượu là linh hồn của cộng đồng Tà Ôi.
Pachua imai nhôs ingăi, Su pidăi are nhôs anga - “Rước dâu chọn ngày, khai rẫy chọn hướng” (TNTO 761) > Gắn với nghi thức hôn nhân và nông nghiệp.
Các ví dụ tương tự khác: Kah siau kah kơât buah - “Không có rượu không thành lễ” (TNTO 680); Ndil tăk tappa, Ntrus cha ngoch buah - “Đàn bà nấu nướng, đàn ông uống ăn” (TNTO 731); Ntrus mamoch babeen, Ndil mamees kakeéch - “Đàn ông săn bắt, đàn bà hái lượm” (TNTO 749); Ntrus tăk déng, ndill achéng are truah - “Đàn ông làm nhà, đàn bà đo nương rẫy” (TNTO 753); O karvâng, o pachâng - “Kẻ tung, người hứng” (TNTO 480); O room karrêng, O tadêng krơng krơu - “Người giúp công, người giúp của” (TNTO 483); Parlơâ dui acho, babo dui mbeq - “Đùa như chó, húc như dê” (TNTO 495); Proang veel ikrang, Proaq déng ipajang - “Việc làng chung tay, việc nhà nhờ cậy” (TNTO 787); Tarle veel mmo veel ngkứk kapăt, Yang veel mmo veel ngkứk tabăt tabăs - “Chiêng làng nào làng đó đánh, thần thánh làng nào làng đó thờ” (TNTO 806)…
Những câu tục ngữ trên tái hiện bức tranh đời sống xã hội Tà Ôi với đầy đủ các nét phong tục: Tín ngưỡng đa thần (tin rằng “núi sông đều có thần”); Tập tục lễ hội (rượu là linh hồn của nghi lễ - “Không có rượu không thành lễ”); Phân công lao động giới tính (nam - nữ có chức năng riêng biệt, bổ trợ cho nhau, thể hiện cấu trúc xã hội nguyên hợp); Quan hệ cộng đồng cao; Hôn nhân và canh tác (chọn ngày lành hướng tốt, cho thấy tín ngưỡng phong thủy dân gian gắn với sinh hoạt).
2.3. Phong tục, tập quán trong tục ngữ xứ Huế
Tục ngữ Huế phản ánh phong tục trong ăn uống, hôn nhân, quan hệ xã hội, nghề nghiệp, ứng xử cộng đồng - tất cả đều thấm đượm tinh thần dân gian và ảnh hưởng văn hóa cung đình.
Ví dụ:
Ăn cúi trôốc, đẩy nôốc kêu làng. (Ă18) > Từ “trôốc, nôốc” là phương ngữ Huế (“đầu, thuyền thúng = “trước, nước”).
Má úa, chúa cũng phải lo. > Cách nói địa phương “má úa” (mạ úa - lúa bị vàng úa).
Miệng tu hú, ăn lở rú lở ri. > Từ “rú, ri” là âm vùng - mang sắc thái tiếng Huế thân mật.
Sắm nôốc thì ra, sắm nhà thì tốn. > Dấu ấn phương ngữ trong phát âm và ngữ pháp.
Các ví dụ tương tự khác: Ăn ngó xuống, uống ngó lên. (Ă45); Ăn có chừng, mần có đội. (Ă3); Ăn ở trần, mần mặc áo. (Ă47); Lấy vợ không cheo như khoèo không mấu. (L89); Vô nhà theo tục, đi xúc theo sông. (V47); Bên dì thì cho, bên o thì đừng. (B44); Có ông mới gọi rằng bà, không ông ta gọi mụ già đi đâu. (C108); Liệu cơm mà gắp mắm ra, liệu cửa liệu nhà mà gả con vô. (L101); Thấy người ta ăn, xách chăn làm rớ. (Th43); Một nuộc lạt, một bát cơm. (M135); Một bụi cỏ, một nạm phân. (M108); Thứ nhất đom đóm vô nhà, thứ nhì chuột réo, thứ ba bông đèn. (Th84); Thương nhau cau sáu bửa ba, ghét nhau cau sáu bửa ra làm mười. (Th110)…
Tục ngữ xứ Huế thể hiện phong tục làng xã miền Trung rất rõ nét: Ứng xử lễ độ; Hôn nhân, gia đình (phản ánh các quy tắc và kinh nghiệm hôn nhân); Tập quán nghề nghiệp (ghi dấu các nghề truyền thống đặc trưng từng vùng); Phong tục tín ngưỡng và dự báo (cho thấy niềm tin dân gian trong quan sát tự nhiên); Quan hệ xã hội (thể hiện tính tế nhị, phân biệt vai vế trong giao tiếp - một nét văn hóa đặc trưng của người Huế).
Tục ngữ hai vùng đều khẳng định phong tục như sợi dây gắn kết cộng đồng, nhưng: Ở Tà Ôi, phong tục mang tính thiêng liêng, cộng đồng. Ở Huế, phong tục nghiêng về tính đạo lý, lễ nghĩa và chuẩn mực xã hội.
3. Ngôn ngữ địa phương
3.1. Khái quát
Ngôn ngữ địa phương là lớp dấu ấn bản địa rõ rệt nhất trong tục ngữ.
Đó không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là biểu tượng văn hóa - nơi hội tụ sắc thái âm thanh, cách nói, tư duy và thế giới quan riêng của từng cộng đồng. Trong tục ngữ, yếu tố ngôn ngữ địa phương thể hiện qua: Từ vựng bản địa (tên sự vật, cây cỏ, động vật, công cụ, hiện tượng tự nhiên bằng tiếng dân tộc hoặc phương ngữ). Cấu trúc cú pháp - ngữ âm riêng (lối nói sánh đôi, nhịp ngắn, thán từ, láy âm, cách nói thân mật). Cách biểu đạt ý niệm (phản ánh tư duy ngắn gọn, ẩn dụ và giàu nhạc điệu). Với người Tà Ôi, đó là lớp từ ngữ dân tộc gắn với không gian rừng núi. Với người Huế, là sắc thái phương ngữ Trung Bộ - mềm mại, sâu sắc, duyên dáng, mang đậm tinh thần kinh kỳ.
3.2. Ngôn ngữ địa phương trong tục ngữ Tà Ôi
Ngôn ngữ Tà Ôi trong tục ngữ thể hiện hệ thống từ gốc bản địa, cấu trúc ngắn, có âm tiết láy, thường sánh đôi (dạng cặp hoặc bốn yếu tố).
Các từ chỉ động vật, cây cỏ, đồ vật, công cụ, hành động đều là từ thuần Tà Ôi, nhiều khi không thể dịch sát nghĩa sang tiếng Việt mà chỉ có thể chú giải.
Ví dụ:
Abur abear tear itee - “Trắm, kiếm, bớp, vược” (TNTO 4) > Ngôn ngữ gốc Tà Ôi; các từ “abur”, “tear”, “itee” là tên cá địa phương.
Trưi tre kahe kahâu - “Nếp trưi, tre, kahe, kahâu” (TNTO 169) > Tên giống lúa, tre bản địa thể hiện tri thức nông nghiệp.
Karhoo kring tăk parrơau parrui, Alui kring llíng kuíh dak - “Mướp già phơi làm đồ rửa, bầu già làm ống gùi nước” (TNTO 128) > Ngữ âm, cấu trúc cú pháp bản địa - khác tiếng Việt chuẩn.
Các ví dụ tương tự khác: Abur aka ata tumum pilees - “Trắm, gáy, mỏ vịt, bông lau, hồng” (TNTO 5); Achíq avăk patdăng pla, Ala aho patdăng tong - “Dao rựa hướng chuôi, lá trúc hướng cán” (TNTO 78); Arang i-oóm aro, Apo itê abíh - “Lúa sảy bằng nẻn, gạo sàng bằng mẹt” (TNTO 88); Are ichét trưi tre kunhe kupuaq, Alai ichoi rahâu rahe katang kachăh - “Rẫy thì trỉa trưi tre kunhe kupuaq, nương thì trỉa rahâu rahe katang kachăh” (TNTO 87); Kapbưq aténg, achéng akúp - “Dúi đót, dơi hang” (TNTO 40); Kula kăh kăp cha ikon anăq krơơ - “Hùm không ăn thịt con dẫu hung dữ.” (TNTO 51); Tăk avinh ichoóh, Tăk akoóq i tal - “Làm cái avinh thì trồng, làm cái rựa thì phát” (TNTO 257); Nil lla kateak idok cho, Nil kammo kise idok nil klưng măt are - “Đánh dấu chủ đất thì cắm chốt, đánh dấu thời gian thì nhìn trăng, mặt trời, rẫy” (TNTO 147); Vât ka-il kil kuíh nténg - “Bỏ thì thương, gùi thì nặng” (TNTO 601)…
Ngôn ngữ tục ngữ Tà Ôi là kho từ vựng bản địa phong phú, phản ánh tri thức dân gian sâu sắc: Tên loài vật và cây cỏ là từ đặc hữu của vùng Trường Sơn; Các cấu trúc thể hiện lối nói vần, đối, nhịp đôi - kiểu cấu trúc phổ biến trong ngôn ngữ Tà Ôi; Sự lặp cú pháp và láy âm tạo nên nhạc điệu tự nhiên, giúp tục ngữ dễ nhớ, dễ truyền; Nhiều từ Tà Ôi có nghĩa biểu tượng - cho thấy tính biểu trưng cao trong tư duy ngôn ngữ.
Như vậy, ngôn ngữ bản địa không chỉ phản ánh tri thức vật chất (săn bắt, canh tác, sinh hoạt) mà còn thể hiện cấu trúc tư duy lặp và đối xứng đặc trưng của văn hóa Tà Ôi.
3.3. Ngôn ngữ địa phương trong tục ngữ xứ Huế
Ngôn ngữ xứ Huế mang sắc thái phương ngữ miền Trung, có hệ thống từ ngữ và ngữ âm đặc trưng, thường biểu hiện qua cách phát âm, cách gọi sự vật và cách nói uyển chuyển.
Người Huế sử dụng tục ngữ không chỉ để khuyên răn mà còn để “nói bóng, nói gió”, “rào đón tế nhị”, nên ngôn ngữ của họ luôn mềm mại, nhịp nhàng, đậm chất văn hóa lời ăn tiếng nói.
Ví dụ:
Ăn cúi trôốc, đẩy nôốc kêu làng. (Ă18) > Từ “trôốc, nôốc” là phương ngữ Huế (“đầu, thuyền thúng = “trước, nước”).
Má úa, chúa cũng phải lo. (M8) > Cách nói địa phương “má úa” (mạ úa - lúa bị vàng úa).
Miệng tu hú, ăn lở rú lở ri. (M87) Từ “rú, ri” là âm vùng (“núi, đây”) - mang sắc thái tiếng Huế thân mật.
Các ví dụ tương tự khác: Ăn cơm hàng khỏi rửa chén. (Ă10); Cơm mô cho đầy bụng chó, ló mô cho đầy bụng gà. (C201); Cơm sống là bởi tại bàng. (C205); Sắm nôốc thì ra, sắm nhà thì tốn. (S11); Ngã nước đu đủ, ung nhũ mãng cầu. (Ng1); Gió chiều mô, bổ chiều nấy. (Gi66); Vô nhà theo tục, đi xúc theo sông. (V47); Ăn thì thít như cổ cò, mần thì thụt thò như cổ hôn. (Ă58); Làm có chúa, múa có trống. (L5); Bên dì thì cho, bên o thì đừng. (B44); Một nuộc lạt, một bát cơm. (M135); Phò Trạch đan đệm, Phú Nông tép cá, làng Rào ốc đam. (Ph12)…
Đặc trưng nổi bật của ngôn ngữ địa phương Huế trong tục ngữ là: Từ vựng phương ngữ (“nôốc” (nước), “trôốc” (trước), “rú” (núi), “ri” (đây), “mô” (đâu), “bàng” (nồi cơm), “má úa” (mạ úa) xác định rõ căn cước ngôn ngữ Huế; Nhạc tính và biểu cảm (Câu thường có vần hoặc luyến âm, có nhịp 2/2 nhẹ, dễ nhớ); Cấu trúc dân dã nhưng tinh tế (Nhiều câu vừa răn dạy vừa gợi cười nhẹ); Phản ánh nếp sống lễ độ (Sử dụng các thán từ mềm mại như “mô”, “ri”, “rứa”, “nớ”), khiến tục ngữ Huế mang âm sắc trữ tình, khác hẳn khẩu khí ngắn gọn miền Bắc.
Ngôn ngữ địa phương trong tục ngữ Huế vừa là phương tiện, vừa là nội dung biểu đạt của bản sắc vùng miền - thể hiện rõ trong văn hóa lời ăn tiếng nói, sự tế nhị, tinh tế, và duyên dáng đặc trưng của người Huế.
Cả hai hệ thống tục ngữ đều cho thấy ngôn ngữ bản địa là linh hồn của văn hóa dân gian. Nếu tiếng Tà Ôi lưu giữ âm hưởng núi rừng Trường Sơn, thì tiếng Huế lại ngân vang nét nhạc sông Hương - núi Ngự. Từ vựng, ngữ âm và nhịp điệu ngôn ngữ không chỉ là công cụ diễn đạt, mà chính là dấu ấn văn hóa và tri thức sống của mỗi cộng đồng.
4. Triết lý sống
4.1. Khái quát
Triết lý sống là chiều sâu tinh thần trong tục ngữ - nơi cộng đồng dân gian gửi gắm những quan niệm về con người, đạo lý, xã hội và tự nhiên. Dấu ấn bản địa trong phương diện này không chỉ nằm ở nội dung tư tưởng, mà còn ở cách tư duy, cách nói - giản dị, hình tượng, gắn liền với kinh nghiệm sống thực tế.
Đối với người Tà Ôi, triết lý sống bắt nguồn từ quan niệm hài hòa với tự nhiên, cộng đồng và tín ngưỡng; còn với người Huế, triết lý ấy biểu hiện qua đạo lý ứng xử, sự chừng mực, khiêm cung và tinh thần nhân nghĩa.
4.2. Triết lý sống trong tục ngữ Tà Ôi
Các ví dụ trên cho thấy triết lý của người Tà Ôi vừa thực tiễn vừa nhân văn. Nó phản ánh kinh nghiệm sinh tồn, quan hệ xã hội và thái độ sống cân bằng giữa con người - cộng đồng - tự nhiên.
Ví dụ:
Mut idâih padut tapbeéch. - “Hiền quá lóa cái khôn” (TNTO 457) > Quan niệm quân bình: hiền không nhu nhược.
Vât ka-il kil kuíh nténg - “Bỏ thì thương, gùi thì nặng” (TNTO 601) > Triết lý về sự ràng buộc, tình cảm con người.
Katdit krơâng yyăq kadăh túh apoo, Katidt lom vê rmoo padăng loo - “Nghèo của không sợ tủi khổ, nghèo tình dễ đối diện với oán” (TNTO 687) > Triết lý nhân sinh sâu sắc.
Các ví dụ tương tự khác: Parrăi areas krung pê nnôt veel, Ntrus cha íl, Ndil cha oop - “Nam ăn như đánh trận, nữ ăn như ấp ôm” (TNTO 245); Pallúng ngai ngkăr kapúng - “Bụng người ta da bọc ngoài” (TNTO 490); Parrăi areas krung pê nnôt veel - “Phép của tướng vùng thua lệ làng” (TNTO 776); Pian tiriq ilâi kôn, Eal ideal ilâi katdoóp - “Đổi trâu xem u, lấy vợ xem mông” (TNTO 782); Parnha nang kattooh, kadit trooh mmău - “Giàu quàng làm họ, nghèo bỏ mặc dưng” (TNTO 768); Parnha ngai veang, Katdit ngai deang - “Giàu người ta theo, nghèo người ta ngoảnh” (TNTO 769); Parnha i bôn, Katdit i lôn avi - “Giàu thì được, nghèo chỉ nuốt nước bọt” (TNTO 766); Nil lla kateak idok cho, Nil kammo kise idok nil klưng măt are - “Đánh dấu chủ đất thì cắm chốt, đánh dấu thời gian thì nhìn trăng, mặt trời, rẫy” (TNTO 147)…
Triết lý sống của người Tà Ôi mang đậm sắc thái tự nhiên - cộng đồng - nhân bản: Tự nhiên là thước đo hành động; Cộng đồng là giá trị tối cao; Con người được nhìn nhận trong sự hài hòa; Quan hệ xã hội phản ánh kinh nghiệm thực tế; Triết lý về giới tính được thể hiện bằng hình ảnh đối lập - vừa hài hước, vừa thể hiện quan niệm về vai trò tự nhiên của giới. Đó chính là triết lý dân gian núi rừng - giản dị, chân chất nhưng sâu sắc, hướng đến sự cân bằng giữa con người và tự nhiên.
4.3. Triết lý sống trong tục ngữ xứ Huế
Tục ngữ Huế thể hiện triết lý sống qua lối nói thâm trầm, tinh tế và đạo lý. Ảnh hưởng của văn hóa Nho - Phật - cung đình khiến triết lý Huế vừa có chiều sâu nhân nghĩa, vừa có nét trầm tĩnh, hướng nội.
Ví dụ:
Một miếng khi đói bằng một đọi khi no. (M129) > Đề cao lòng nhân nghĩa, tinh thần “lá lành đùm lá rách”.
Tiền mất, tật lưa. (T39) > Triết lý về nhân - quả, mất mát trong đời sống.
Ăn nên đọi, nói nên lời. (Ă38) > Quan niệm sống trọng lễ, trọng lời ăn tiếng nói.
Người thấp không dám vói, người cao không màng. (Ng54) > Thái độ chừng mực, sống biết thân biết phận - đặc trưng người Huế
Các ví dụ tương tự khác: Ăn có chừng, mần có đội. (Ă3); Ăn có mời, mần có mượn. (Ă5); Ăn ngó xuống, uống ngó lên. (Ă45); Ăn ở trần, mần mặc áo. (Ă47); Ăn thì thít như cổ cò, mần thì thụt thò như cổ hôn. (Ă58); Nhà giàu quý kẻ thật thà, nhà quan ưa kẻ vô ra nịnh thần. (Nh5); Rượu khà, trà chiếp. (R38); Đã nghèo còn mắc cái eo. (Đ5); Thứ nhất đốn tre, thứ nhì ve gái. (Th85); Giàu hay mần, bần hay ăn. (Gi31); Khen người thì tốt, dột người thì xấu. (Kh7); Người câm hay nói, thầy bói hay dòm. (Ng35); Tại anh, tại ả; tại cả đôi bên. (T6)…
Triết lý sống của người Huế kết tinh trong những giá trị đạo lý và nhân sinh quan tinh tế: Lễ nghĩa và chuẩn mực ứng xử; Tự ý thức và chừng mực; Nhân nghĩa và chia sẻ; Triết lý nhân quả và hiện thực; Tư duy công bằng, quân bình; Phê phán xã hội. Người Huế biểu hiện triết lý sống bằng ngôn ngữ nhẹ mà sâu, dí dỏm mà nghiêm cẩn, vừa gần gũi dân gian vừa nhuốm chất bác học. Triết lý ấy gắn liền với nếp sống kinh kỳ - trọng lễ, trọng nghĩa, trọng đạo lý - nhưng vẫn bình dị, nhân hậu.
Ở người Tà Ôi, triết lý sống thể hiện ý thức hòa hợp với tự nhiên và cộng đồng; ở người Huế, triết lý ấy trở thành đạo lý sống tinh tế và nhân nghĩa, phản ánh văn hóa cung đình lan tỏa vào dân gian. Cả hai hệ thống tục ngữ đều thống nhất ở một điểm: Con người là trung tâm của vũ trụ văn hóa, sống phải hài hòa, biết chừng mực và hướng thiện.
5. So sánh dấu ấn bản địa giữa tục ngữ Tà Ôi và tục ngữ xứ Huế
5.1. Tương đồng: nền tảng chung của bản sắc dân gian Việt Nam
Dù thuộc hai không gian văn hóa khác nhau - Tà Ôi (núi rừng Trường Sơn) và Huế (đồng bằng sông Hương - phá Tam Giang) - tục ngữ của hai cộng đồng vẫn có nhiều điểm tương đồng căn bản, thể hiện sự thống nhất trong đa dạng của văn hóa dân gian Việt Nam.
Cùng phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa con người và thiên nhiên. Cả hai đều xem thiên nhiên là nguồn sống và đối tượng tri ân. Người Tà Ôi ca ngợi rừng, suối, muông thú, cây cỏ; Người Huế nói về ruộng đồng, sông nước, cây trái. Thiên nhiên trong cả hai hệ thống tục ngữ không chỉ là bối cảnh mà là một thực thể có linh hồn.
Cùng lưu giữ tri thức dân gian bản địa. Tục ngữ Tà Ôi chứa đựng kinh nghiệm săn bắt, hái lượm, trỉa rẫy, dự báo thời tiết. Tục ngữ Huế ghi lại kinh nghiệm trồng trọt, nấu nướng, đánh bắt, làm nghề truyền thống. Cả hai đều là “kho tàng tri thức dân gian” được truyền qua lời nói dân tộc.
Cùng coi trọng phong tục và đạo lý cộng đồng. Tục ngữ hai vùng đều nhấn mạnh đến lệ làng, tín ngưỡng, lễ nghi, coi cộng đồng là trung tâm. Các câu như “Phép của tướng vùng thua lệ làng” (TNTO 776) hay “Vô nhà theo tục, đi xúc theo sông” (V47) đều khẳng định: sống phải thuận theo lệ, theo đạo. Đây là điểm gặp gỡ sâu sắc trong văn hóa Việt - tinh thần “phép nước thua lệ làng”.
Cùng sử dụng ngôn ngữ địa phương như một mã văn hóa. Tiếng Tà Ôi và tiếng Huế đều mang bản sắc âm thanh, nhịp điệu riêng, là dấu chỉ căn cước vùng miền. Lối nói có vần, đối, láy âm, giàu nhạc tính giúp tục ngữ dễ nhớ, dễ truyền.
Cùng biểu hiện triết lý nhân sinh giản dị, sâu sắc. Cả hai hệ thống đều hướng tới sự cân bằng, hài hòa, nhân ái và thực tế. Người Tà Ôi nói: “Bỏ thì thương, gùi thì nặng” (TNTO 601); người Huế nói: “Một miếng khi đói bằng một đọi khi no” (M129). Hai cách nói khác nhau, nhưng cùng phản ánh tinh thần nhân hậu và ý thức cộng đồng - hạt nhân của văn hóa Việt.
5.2. Dị biệt: sắc thái riêng của hai không gian văn hóa
Bên cạnh những tương đồng căn cốt, tục ngữ Tà Ôi và tục ngữ Huế có những dị biệt rõ ràng, bắt nguồn từ không gian địa lý - xã hội - tín ngưỡng khác nhau.
Hình ảnh tự nhiên. Tục ngữ Tà Ôi gắn với rừng, suối, muông thú, cây rẫy, lúa nương. Thiên nhiên được nhìn như thực thể thiêng có thần ngự trị. Tục ngữ xứ Huế gắn với sông nước, ruộng đồng, cây trái miền đồng bằng. Thiên nhiên là đối tượng trải nghiệm và canh tác.
Phong tục, tập quán. Tục ngữ Tà Ôi thể hiện tín ngưỡng vạn vật hữu linh, nghi lễ rượu, hôn nhân, cộng đồng làng bản. Tục ngữ xứ Huế phản ánh lệ làng, hôn nhân, nghề nghiệp, ứng xử lễ độ, chịu ảnh hưởng Nho - Phật - cung đình.
Ngôn ngữ địa phương. Tiếng Tà Ôi - thuần gốc dân tộc thiểu số, giàu âm láy, cấu trúc song đôi. Phương ngữ Huế - âm sắc mềm mại, ngữ điệu trầm, nhiều từ đặc trưng như “mô”, “ri”, “nớ”.
Triết lý sống. Tục ngữ Tà Ôi thể hiện triết lý thực tiễn và cộng đồng: con người sống hòa hợp với tự nhiên, tôn trọng luật tục, quý nghĩa tình. Tục ngữ xứ Huế thể hiện triết lý đạo lý và nhân nghĩa: coi trọng chừng mực, kính trên nhường dưới, sống tế nhị và công bằng.
Không gian văn hóa. Trong tục ngữ Tà Ôi là núi rừng Trường Sơn - khép kín, thiêng liêng, gắn với tự nhiên. Trong tục ngữ xứ Huế là đồng bằng - mở, giao thoa, tiếp biến với văn hóa cung đình và Nho học.
Giọng điệu biểu đạt. Tục ngữ Tà Ôi ngắn gọn, mạnh mẽ, hình tượng, đôi khi thô mộc mà chân thật. Tục ngữ xứ Huế mềm mại, trầm tĩnh, uyển chuyển, giàu ẩn dụ và nhạc điệu.
Chức năng xã hội. Tục ngữ Tà Ôi gắn kết cộng đồng bản địa, bảo tồn tri thức sinh tồn và tín ngưỡng. Tục ngữ xứ Huế định hướng đạo lý, giáo hóa nhân tâm, duy trì chuẩn mực ứng xử.
Qua so sánh ta thấy rằng, tục ngữ Tà Ôi đại diện cho một nền văn hóa dân gian nguyên sơ, thiêng liêng, gắn bó máu thịt với núi rừng, còn tục ngữ xứ Huế đại diện cho một nền văn hóa giao thoa, bác học, tinh tế và thấm nhuần đạo lý nhân sinh. Song, cả hai đều gặp nhau ở điểm cốt lõi của bản sắc Việt Nam: sống thuận tự nhiên, trọng nghĩa tình, lấy đạo lý làm nền tảng và lấy lời ăn tiếng nói làm gương soi nhân cách.
Như vậy, “dấu ấn bản địa” trong tục ngữ Tà Ôi và tục ngữ xứ Huế vừa phản ánh sự thống nhất của tinh thần dân gian Việt Nam, vừa biểu hiện sự phong phú và đa sắc của từng vùng văn hóa.
Việc nghiên cứu dấu ấn bản địa trong tục ngữ không chỉ giúp nhận diện bản sắc văn hóa của từng cộng đồng mà còn góp phần vào công cuộc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể - trong đó tục ngữ là một thành phần quan trọng của tri thức dân gian Việt Nam. Những giá trị ấy càng trở nên thiết yếu trong bối cảnh hiện đại hóa và toàn cầu hóa, khi bản sắc địa phương trở thành nền tảng để khẳng định sự đa dạng và chiều sâu văn hóa dân tộc.
K.S
(TCSH60SDB/03-2026)
-------------------------
1 Xem chi tiết Kê Sửu, Tục ngữ dân tộc Tà Ôi, sưu tầm và bình giải, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2017.
2 Triều Nguyên, Tổng tập Văn học dân gian xứ Huế, tập IV, Tục ngữ, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2021.
3 Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc tổ chức tháng 11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra luận điểm “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”.
4 GS.TS.KTS Phạm Hùng Cường. “Văn hóa bản địa trong xây dựng môi trường cư trú truyền thống”. Tạp chí Kiến trúc, số 05 - 2017, 12/7/2017.
5 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ Điển Bách khoa Việt Nam 4, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.818.