Nghiên Cứu & Bình Luận
Tình yêu người lính và xứ Huế mộng mơ trong thơ Huy Tập
10:18 | 27/04/2026

HỒ THẾ HÀ

Huy Tập là nhà thơ, nhạc sĩ sinh ra và lớn lên nơi quê hương vùng biển Hải Hậu, Nam Định với nhiều kỷ niệm vui buồn, ân nghĩa theo suốt hành trình hiện thực và tâm linh của anh.

Tình yêu người lính và xứ Huế mộng mơ trong thơ Huy Tập
Ảnh: tư liệu

Chính sinh thái thiên nhiên tươi đẹp và sinh thái văn hóa - tinh thần phong phú nơi đây đã hình thành trong anh tâm hồn lãng mạn và phóng khoáng ngay từ thời niên thiếu. Anh có tuổi thơ không bình lặng trong những năm đất nước có chiến tranh ác liệt, xã hội đầy biến động. Lớn lên, anh trở thành người lính sống với những cánh rừng Trường Sơn, gắn bó với quân khu Trị Thiên Huế và những vùng quê khói lửa nơi đây với tâm thế của người yêu nước mình, quyết chiến đấu và chiến thắng. Trong nhiều sự kiện, có một sự kiện đáng nhớ của Huy Tập đối với Huế, đó là vào đêm trước ngày 26 tháng 3 năm 1975 - ngày Huế Giải phóng, anh là người được giao nhiệm vụ đưa lá cờ giải phóng vượt thượng nguồn sông Hương giữa đêm 25/3 để kịp sáng 26/3 kéo cờ lên ngọn Kỳ đài Phu Văn Lâu. Do hành trình vượt sông dài và đêm tối nên gần đến nơi, lá cờ cùng Huy Tập sắp bị chìm giữa dòng Hương, đồng đội đã nhanh chóng bơi ra sông cứu xuồng. Lá cờ và Huy Tập được đưa vào bờ an toàn. Và sáng hôm sau, lá cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam đã kịp tung bay trên ngọn Kỳ đài báo tin vui đến mọi người thành Huế được giải phóng.

Sau khi chiến tranh kết thúc, Huế trở thành bến hẹn neo buộc Huy Tập với cuộc đời và duyên mệnh văn chương nghệ thuật. Tình yêu thiên nhiên, người lính và con người xứ Huế hiện hữu sâu nặng trong tâm hồn đa cảm và nhân ái của anh. Và thi ca, âm nhạc trở thành thế giới ngôn từ, âm thanh và hình tượng có sức lay động lòng người. Tập thơ nhạc Nếu như chẳng có sông Hương do Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế xuất bản năm 1992 là kết quả của quá trình khát khao và say mê sáng tạo đó của Huy Tập trên mảnh đất Cố đô Huế những năm sau hòa bình.

Trong bài viết ngắn này, tôi muốn tìm hiểu nghệ thuật thơ Huy Tập qua những thi phẩm mang cảm thức Huế và tình yêu người lính trong từng kinh nghiệm quan hệ sống và quan hệ tình cảm chân thành, mê đắm của chính người thơ, cả trong thời chiến và thời bình.

Với tâm tình người lính, Huy Tập đã để lòng mình lắng đọng trong từng phút giờ lặng im tiếng súng để nghĩ về đồng đội, nghĩ về Huế từ tình cảm và nỗi nhớ thẳm sâu: “Chợt im lặng lạnh khoảng trời trận đánh/ Đồng đội tôi mắt gặp Huế sương xanh/ Vào trận mới súng dội rung lồng ngực/ Huế, Huế ơi giấc ngủ có yên lành”. Vậy mà sau trận đánh, đồng đội anh không còn nữa, nỗi nhớ Huế đành dang dở trong mắt nhìn ngơ ngác của cả người ra đi và người ở lại: “Sau trận đánh đi tìm đồng đội/ Tìm cái nhìn gửi Huế trong veo/ Bạn nằm xuống vết thương loang ngực/ Chẳng kịp nói chi với Huế một điều”. Chiến tranh là thần chết, là bi kịch. Ở đó, cái chết luôn diễn ra một cách tàn khốc, làm hủy diệt sự sống của con người, nhất là những con người yêu nước chân chính, để lại sự tiếc thương, ngưỡng mộ của những người đang sống. Cái chết dũng cảm đó trở thành bi kịch mang tính mỹ học cao đẹp khiến đồng đội tự hào, ân nghĩa, quyết nối tiếp người đã khuất để chiến đấu, lập công. Khoảng trời yêu dấu Huế giờ đây thành hoài niệm rưng rưng trong tâm cảm Huy Tập:

Đắp cho bạn tấm chăn mềm kỷ niệm
Rồi lặng thầm như lửa dọc Trường Sơn
Phút giây Huế diệu kỳ ta có được
Bạn giữ, tôi mang suốt tâm hồn.
                       
(Phút giây Huế)

Viết về sự gian nguy của người lính, Huy Tập không miêu tả về sự dữ dội, khốc liệt của chiến tranh tác động lên sự sống của họ mà anh ưu tiên phản ánh chiều sâu thẳm của chiến tranh trong con người để bạn đọc thấu cảm nỗi đau của mỗi số phận cá nhân. Qua đó, tinh thần nhân văn và tính nhân đạo hiện lên sâu sắc. Chỉ bắt gặp một bài hát không có tên tác giả mà Huy Tập lại xúc động nghĩ về những điều cao cả và kỳ diệu của cuộc sống chiến trường: “Gặp bạn chiến trường xưa/ Gặp bài hát đã lâu không hát nữa/ Bài hát còn thơm lời ai nhắc nhở/ Nhắp chén rượu suông kỷ niệm trong nhau”. Từ đó, bao kỷ niệm và ký ức hiện về xôn xao, bập bùng cùng ngọn lửa. Tiếng hát thành âm thanh bắc nhịp cầu thương nhớ: “Chợt thấy lòng bập bùng ngọn lửa rừng sâu/ Kỷ niệm bắt nhịp bắc cầu/ Bạn và tôi song ca bài hát cũ/ Nốt nhạc màu xanh núi rừng màu đỏ/ Nốt nhạc mặn mồ hôi quầng máu tím bầm”. Vậy mà giờ đây, nỗi đau theo thời gian kết thành những dòng chữ vọng vang mà tên tác giả bài ca thì biền biệt nơi nào để lại khoảng trống trong tiếc nuối cho người thân và đồng đội:

Trắng trời nỗi đau ước hẹn nhớ mong.
Tôi và bạn nâng trên môi
Dòng thời gian cuộn chảy thành lời
Bài hát còn đây tác giả đâu rồi
Sao ngôn ngữ nhiều lời
Lỡ bỏ quên
Một bài hát có tên không tác giả.

Phải nói là tình yêu người lính trong thơ Huy Tập rất nặng sâu, ân nghĩa. Những kỷ niệm dù là nhỏ nhất cũng trở thành hình tượng xúc động hiện về, làm sống lại không gian thời chiến gian lao mà tự hào, bi cảm: “Tôi đi tìm ngược lên lối cũ/ Gặp đồng đội Trường Sơn gặp trai trẻ tuổi mình/ Quần đùi, gùi bạt/ Chiếc mũ vải rộng vành/ Bầu trời bé con lội bằng chân dép lốp”. Tác giả vô danh, nhưng ngôn ngữ âm thanh thì vang vọng. Bài hát giờ đây cần cho nhà thơ hơn là cần cho chính nó. Trong khoảng lặng của ca từ và giai điệu, mọi hiện thực chiến trường hiện về nguyên vẹn. Và Huy Tập thay cho đồng đội đặt những nụ hôn nồng cháy lên bài hát bằng tình yêu mãnh liệt từ trái tim mình:

Lắng nghe trong hương đất trời
Từ kẽ lá, dòng sông ngọn suối
Từ căn hầm chữ A, chiếc võng bạt mắc tuổi mình
Giấc ngủ mắc vào câu hát quê hương.
Bài hát xưa tôi gặp lại trên đường
Gặp đồng đội tôi đặt lên bài hát
Những nụ hôn tim mình.
           
(Gặp bài hát không tên tác giả)

“Những nụ hôn tim mình” là cách nói ẩn dụ và nhân hóa tạo sinh nghĩa bất ngờ, lây lan cảm xúc sang người đọc cả trong ý thức lẫn vô thức.

Đi tìm ký ức chiến tranh và người lính, Huy Tập không khắc họa con người trong chiến tranh như bao tác phẩm tiểu thuyết mang tính sử thi trước đây mà quan tâm miêu tả chiến tranh trong con người để thấy những nỗi đau và bi kịch lặng thầm mà con người phải trải qua trong chiến tranh là xa xót như thế nào, đặt trong quan hệ với người thân, quê hương và đất nước. Cái chết của người chiến sĩ trong bài thơ Đồng đội ơi diễn ra bất ngờ và day dứt: “Phút ngã xuống khăn tang màu Huế/ Có gửi được chi cho mẹ chút ấu thơ/ Lá thư viết trong căn hầm bom lửa/ Cũng lặng im ngã xuống đến bây giờ”. Ở đây lại là sự hy sinh cao đẹp của người con gái trẻ tuổi yêu nước mình nên nỗi đau càng bi thương và day dứt, bởi vì số phận họ sinh ra không phải để làm những công việc lớn lao quá sức chịu đựng như thế. Những gì gắn bó thân thiết với cô gái trước phút ra đi đã trở thành những biểu tượng thiêng liêng trong nghẹn ngào, xót thương của đồng đội:

Chiếc gương tròn một thì con gái
Mòn trăng soi năm tháng niềm yêu
Em ra đi tóc dài chưa kịp búi
Để gương mơ nuối tiếc bao điều.

Bao kỷ niệm còn đây nhắc thức người ở lại trong xao xác bóng chiều. Nhìn từng kỷ vật mà lòng tác giả rưng rưng nỗi nhớ: “Ta ướm thử tâm hồn lên kỷ niệm/ Cho trào dâng tuổi trẻ phong rêu/ Đây dáng hình đồng đội không tên tuổi/ Và nơi đâu mẹ khóc nhợt bóng chiều”. Chỉ còn đây, hình bóng mẹ hiện lên trong tâm tưởng của những đồng đội trước khói hương nhòa nhạt cánh rừng, kết thành mây bay che mát linh hồn người con gái nơi lòng đất sâu của Tổ quốc: “Thôi em ngủ đồng đội ơi yên ngủ/ Phía trời xa mẹ hằng gọi tên em/ Nén hương thơm thắp từ tim đất nước/ Quyện thành trời mây che mát linh hồn”. Tình yêu đồng đội trong quan hệ với người thân và quê hương trong thơ Huy Tập đã trở thành tình cảm nhập vai chân thành và xúc động. Bi kịch nhỏ của từng cá nhân đã trở thành những bi kịch lớn mang tính khái quát về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Vì thế, thơ về chiến tranh và người lính của Huy Tập gần gũi, gắn với những hiện thực cụ thể, nhưng có sức ám ảnh tâm linh để nâng lên thành bài học nhân sinh - thế sự trong ý thức và lòng ngưỡng mộ của những người đang sống:

Thôi em ngủ đồng đội ơi yên ngủ
Còn thức đây màu Huế tím thủy chung
Dòng Hương xanh níu gió trời thơ lại
Xin tặng em và đồng đội tấm lòng.
                                   
(Đồng đội ơi)

Bên cạnh chủ đề chiến tranh và người lính, Huy Tập còn dành những tình cảm sâu nặng với Huế - vùng đất đã trở thành tâm hồn, thành quê hương ân nghĩa của anh. Tên tập thơ Nếu như chẳng có sông Hương đã là minh chứng cho tình cảm đó. Nói đến Huế là mọi người đều liên tưởng đến những biểu tượng đã thành cổ mẫu (archétypes) điển hình trong tâm thức của họ. Huy Tập cũng thế! Nhà thơ không dài dòng khi khắc họa tình yêu Huế của mình. Anh chỉ khái quát bằng hình tượng sông Hương - con sông thơ, sông nhạc “mình hạc xương mai” (Nguyễn Trọng Tạo) để nói tình thơ của mình gắn với tình yêu Huế:

Nếu như chẳng có dòng Hương
Câu thơ xứ Huế giữa đường đánh rơi
Ai nhặt xin nhẹ nhẹ thôi
Kẻo rơi thơ vỡ Huế tôi bây giờ.
                                   
(Không đề)

Một cảm giác rất nhẹ và mỏng như khói sương, hoa cỏ, sợ mạnh tay sẽ làm vỡ những bồng bềnh, mộng mơ và hư ảo Huế.

Dòng Hương là hình tượng lặp lại thường xuyên trong thơ Huy Tập để anh ẩn dụ thông điệp những tình cảm và ý nghĩa nhân sinh đến người thân và bằng hữu: “Nếu như chẳng có sông Hương/ Gửi tình cho Huế gửi thương nơi nào/ Nếu như nước chẳng xanh màu/ Áo em sao lại tím màu thủy chung”. Cứ thế, dòng Hương trở thành dòng thương, dòng nhớ trong tâm cảm của anh, có liên quan trực tiếp đến những quan hệ xã hội rộng lớn và cả những quan hệ tình cảm riêng tư của anh trong hiện tại và quá khứ: “Nếu như chẳng có dòng sông/ Câu thơ ai chở xuôi dòng Huế thơ/ Nếu như nước chảy thành thơ/ Câu thơ áo tím anh chờ Huế ơi/ Ai qua Huế một lần thôi/ Mang đi từ Huế ngọt lời nhớ thương”. Huế có sức quyến rũ bội phần (multiple) nên trong thơ Huy Tập, anh luôn giả định Huế bằng những mệnh đề tạo sinh nghĩa và tạo sinh phẩm tính đặc biệt cho Huế để mọi người càng phát hiện chiều sâu nét đẹp vật thể và phi vật thể Huế:

Nếu như chẳng có dòng Hương
Câu thơ xứ Huế giữa đường đánh rơi
Thương màu tím Huế đầy vơi
Sông Hương xanh suốt những lời cho nhau.
                       
(Nếu như chẳng có sông Hương)

Qua bài thơ Nếu như chẳng có sông Hương, Huy Tập đã góp vào kho tàng những bài thơ hay về Huế một thi phẩm đặc sắc.

Từ sinh thái thiên nhiên - xã hội và sinh thái văn hóa - tinh thần Huế, Huy Tập đã nhập vai mọi vui buồn, ân nghĩa của mình hòa cùng con người và cảnh vật Huế để yêu thương, hoài niệm và mơ mộng. Trước hết là với thiên nhiên, anh mở lòng mình đón cơn mưa nghiêng trong niềm tin rằng cơn mưa sẽ nối tình yêu nồng nàn đôi lứa: “Trời lặng gió ngủ yên/ Mưa lai rai hiền hiền/ Mưa nối trời với đất/ Nối tình anh với em”. Mưa là đối tượng khách thể, đồng thời là tác thể để mỗi chủ thể định vị tâm hồn và tư thế của mình trong không gian mộng ảo: “Anh nghiêng đầu sang trái/ Mưa cũng nghiêng đầu theo/ Anh nghiêng đầu sang phải/ Mắt mưa nghiêng nghiêng trào”. Mưa là cầu nối cho tình yêu lặng thầm, quyến rũ của hai tâm hồn luôn hướng về nhau trong khát vọng hòa hợp, nhân ái:

Mưa xếp hàng ngay thẳng
Khi anh nhìn thẳng ngay
Em yêu anh em nhé
Đừng nhìn nghiêng mưa bay.
                       
(Mưa nghiêng)

Tình yêu trong thơ Huy Tập luôn nhẹ nhàng, kín đáo, có thiên nhiên đồng vọng. Từ cõi lặng, thiên nhiên cất tiếng nói thay lời yêu da diết cho hai tâm hồn. Hương hoa cũng được nhà thơ nhân hóa để dẫn dắt tình yêu theo cách mê đắm riêng của chúng: “Em rằng như hoa Ngọc Lan/ Theo em anh cứ bước sang bên này/ Tại em thơm ngát đêm ngày/ Bầu trời cao trái đất đầy những thơm”. Có cả không gian đất trời, sông nước cũng thành lời thì thầm ân ái: “Thương thầm mắt sóng ngả nghiêng/ Chung chiêng ai hát giữa miền sông quê/ Thượng nguồn nắng thức vàng hoe/ Sóng xanh Hòn Chén nói gì đi em”. Để cuối cùng tất cả tương hợp trong ngất ngây men say tình ái vừa lạ vừa quen của hai tâm hồn đã tan và thơm hết những lời yêu dịu ngọt trong nhau:

Như là lạ, như là quen
Ngất ngư tình mới nở lên cao vời
Ngọc Lan chỉ một hương trời
Em thơm, thơm hết những lời của anh.
                       
(Em thơm đến hết những lời của anh)

Mơ yêu trong hiện tại, nhưng tự sâu thẳm cội lòng, Huy Tập luôn mang cảm thức hoài vãng về những gì đã lặng vào quá khứ, nhưng chúng không mất đi mà luôn thao thức gọi về trong buốt nhắc. Bài thơ Khát vọng phản ánh tâm thức hiện sinh như thế của người thơ. Những kỷ niệm và chấn thương trong chiến tranh luôn làm anh xa xót và mang mặc cảm rỗng (complex vide) trong hiện tại, nhất là khi nghĩ về đồng đội và những mất mát trong thời chiến: “Chủ nhật còn chỉ tiếng đàn rơi/ Buồn nhặt lên ném tràn vào nắng/ Bạn bè vắng, tiếng cười vui cũng vắng/ Rượu uống một mình, uống tiếng đàn rơi”. Tiếng đàn rơi trong không gian những thanh âm buồn vợi như tiếng lòng mình cùng với ngọn lửa hồng sưởi ấm những mùa đông nơi rừng thẳm: “Chủ nhật buồn chiếc lá thu rơi/ Cho mùa đông nhặt thành đốm lửa/ Thời gian ơi người đi không về nữa/ Chủ nhật còn chỉ tiếng đàn rơi”. Với người thương, cảm giác khuyết thiếu ấy càng thêm day dứt và tiếng đàn rơi trở thành gió sương và cỏ hát bên trời:

Có một chiều em như búp gió rơi
Trên ngực anh giọt sương thơm nhung lụa
Sáng nắng lên sương thơm về với cỏ
Anh lần tìm chủ nhật tiếng đàn rơi.
                                               
(Rơi)

Những lúc buồn nhớ và thao thức như thế chỉ có thi ca và âm nhạc giúp Huy Tập tìm lại thời gian đã mất để an yên, vỗ về những trống vắng trong hiện tại. Ký ức và khát vọng tháng ngày xanh hiện về nguyên vẹn: “Mái đầu bạc thẫn thờ trên ngực/ Nghe xa xưa nuối tiếc hiện về/ Trái tim vỗ một đời không đến được/ Ôi cành yêu khát vọng đến nhường kia”. Đâu rồi ký ức bóng mùa qua với khát vọng bời bời thơm hương mái tóc?

Bàn tay mở nhẹ nhàng từng năm tháng
Khát vào da kỷ niệm bời bời
Đâu một thuở em bồng hương tóc
Quyện mây trời thương nhớ xa xôi.

Mọi yêu thương, vụng về nhắc thức một thời trai trẻ mà thời gian thì xao xác thế này đây: “Mái đầu bạc thẫn thờ thao thức/ Trên ngực xuân tươi trẻ bồi hồi/ Trái tim non chưa quá thời thơ dại/ Bỗng vụng về chua xót nào nguôi”. Để đến nỗi: “Mái đầu bạc bàn tay già năm tháng/ Khăn tang mơ trắng mộng thời gian/ Trái tim non phút hóa thành trăm tuổi/ Ngụp lặn vào lạc lối thiên đường”. Thơ Huy Tập luôn ám ảnh về sự mất mát và sự trôi chảy của thời gian xuất phát từ cảm thức hiện sinh thời chiến kéo dài sang đến thời bình: “Mái đầu bạc ánh mắt buồn trở lại/ Nhìn vào ta và đêm tối mịt mùng/ Phía chân trời một ngôi sao bật nở/ Ta bâng khuâng buổi sáng còn không”. Vì vậy mà anh luôn mang tâm trạng tiếc nuối về tình cảm và ám ảnh về cái chết - hai mặt đối lập của tình yêu và sự sống:

Mái đầu bạc vành tang khát vọng
Nghe tình yêu nuối tiếc hiện về
Dễ có được đêm tàn nghẹn lối
Trả cho đời năm tháng yêu mê...
                       
(Khát vọng)

Nếu nói thơ là tâm trạng và cảm xúc điển hình của chính cuộc sống người thơ thì thơ Huy Tập đã hiện ra chân thành tâm trạng và tình cảm đó. Một người thơ như thế làm sao mà thiếu người yêu quý, cảm thông. Thơ Huy Tập cân bằng được giữa riêng và chung để tự cân bằng tâm thế sống. Bên cạnh những suy nghiệm về nhân sinh - thế sự, anh cũng suy nghiệm về nỗi riêng tư của mình. Như cách thế để anh bình tâm đối diện với sự thật đang diễn ra và sẽ diễn ra trước hiện tại đời thường và tương lai dự cảm của cõi mình và cõi người: “Không còn gì để nói cho nhau trong đời thường/ Với riêng mình anh giấu một biển trời em thương./ Không cần gì phải hát/ Trên sân khấu người đời”. Bởi vì: “Con tim anh rộn rã/ Là sân diễn em ơi”. Cho nên: “Không cần rao hàng thế/ Nụ cười không bán mua”. Chỉ mong: “Em ơi, em có biết/ Nụ cười anh phía thơ”. Bài thơ viết cho em là bài thơ mới tơ vương: nguyên cảm, nguyên xuân và nguyên mộng:

Không còn gì để viết cho em trên giấy thường
Thời gian bài thơ cũ suốt đời mới tơ vương.
                                               
(Không còn gì)

Huy Tập có bài thơ Tình thầm được diễn tả bằng tình cảm và tâm lý tự vệ rất bất ngờ. Dẫu là tình thầm thì cũng cần chân thành và hết mình trong cảm nhận và thể hiện bằng hành động lựa chọn để ứng xử theo phán đoán đúng. Với tình yêu của người đứng tuổi, Huy Tập luôn quyết đoán và chân cảm như thế: “Băng núi vượt mình tới nhớ thương/ Xuân đây góc Huế vẫn mai vàng/ Nâng giọt xuân lên chưa kịp uống/ Bất ngờ em đến với cô đơn”. Ai dám bảo tình yêu ấy không đắm si và lãng mạn: “Cánh cửa hiu hiu gió khép hờ/ Em về run rẩy một vần thơ/ Ôm lấy âm thầm chân trời vắng/ Tay nắm tay hồn xơ xác mơ”. Mơ đến xao xác hồn và âm thầm như cỏ thì mọi phức cảm tâm lý hiện ra là có thật, có cả tin yêu và ngờ vực, hy vọng và vô vọng:

Băng núi vượt mình tới lặng im
Bao nhiêu nhắn nhủ đổ bên thềm
Chao ôi, con nắng vô duyên quá
Ai mượn gọi đâu sao nắng lên.

Có cả tâm cảm và ngoại cảm, linh cảm và dự cảm. Và thiên nhiên là tương cảm: “Ai mượn gọi đâu sao gió lên/ Vụng nghe lời nhắn trách phận hiền/ Thôi thì ta là thiên nhiên vậy/ Hôn trào sóng dậy bến bình yên”. Thơ tình yêu của Huy Tập thường ngậm ngùi trong mơ ước và thương tiếc trong cách xa. Đó là hiện thực hay giả định? Chỉ có người thơ mới trả lời chính xác điều đó. Nhưng dù gì, người đọc vẫn nhận ra tâm hồn đa cảm và phức cảm trong tình yêu của Huy Tập: “Muốn mình có phút sống trăm năm/ Để xa đỡ đói chút hận thầm/ Nào ngờ trời đất chia hai ngả/ Ai về cô quạnh một mình không”. Tuy trạng thái tình cảm và diễn ngôn thơ gần với hệ hình Thơ mới lãng mạn 1932 - 1945, nhưng lại chân thật trong hiện thực khi yêu và triết cảm khi yêu nên bài thơ tạo sự đồng cảm trong tiếp nhận của bạn đọc:

Âm u một bóng chiều ngã xuống
Gửi vào xa cách dặm trường mây
Mai sau em hỡi em còn nhớ
Đói lòng chân đất uống tình chay.

Và cả hai tâm hồn đang yêu sẽ tin rằng một mai dẫu trong xa cách, nhưng tình còn mãi trong tim. Kiểu tình thầm như thế đã biến thành kiểu tình mê đắm theo suốt cuộc đời. Dẫu em có sang ngang cùng người mới thì những giọt lệ khóc yêu ngày nào vẫn còn in dấu thơ ngây trên môi, trên má. Đây là kiểu yêu khi người ta trẻ: lung linh tình sử và ngọt ngào như trái nho tươi:

Mai sau hạnh phúc hồng môi má
Nhắn người còn nợ khóc thơ ngây.
                                   
(Tình thầm)

Thơ tình yêu của Huy Tập không sôi nổi, cao giọng nhưng có sức quyến rũ bởi dư âm và dư vang của nó có khả năng lan tỏa trong lòng người đọc sau khi họ đã đồng cảm và chiêm nghiệm từ chính mình và tha nhân.

*

Nếu như chẳng có sông Hương của Huy Tập là tác phẩm tuyển thơ và nhạc in chung. Vì vậy, anh chỉ chọn những bài thơ tâm đắc để đưa vào tập nên số lượng không nhiều, chuộng “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Nhưng anh chủ đích cấu trúc thành hai chủ đề chính Tình yêu người línhTình yêu xứ Huế để người đọc dễ đồng cảm và sẻ chia: Dựa vào hiện thực hai chủ đề trên, Huy Tập đã thể hiện tình cảm và kinh nghiệm quan hệ sống của mình để đồng hiện ký ức gần và ký ức xa từ điểm nhìn hiện tại của không gian địa - văn hóa Huế trong hiện thực thời bình thông qua những chi tiết và sự kiện có thật nên chân thành và xúc động. Tập thơ là kết quả của quá trình sống chậm, sống nhân tình và nhân hậu với đồng đội, người thân và với Huế sau chiến tranh nên anh chọn những sự kiện, chi tiết và hình ảnh có khả năng làm sống lại những kinh nghiệm sống trải của mình để thông điệp với mọi người về những vui buồn, ân nghĩa quanh đời. Là nhà thơ và là nhạc sĩ nên thơ anh giàu nhạc tính thể hiện ở cách gieo vần, chọn tiết tấu với nguyên âm cao và mở của ngữ âm tiếng Việt, đọc lên dễ thuộc, dễ nhớ. Thơ anh thuộc mỹ học hoài niệm về cái đẹp nhân ái đời thường dễ nội cảm trực tiếp trong lòng người đọc.

H.T.H
(TCSH446/04-2026)

 

 

Các bài đã đăng