VÕ VINH QUANG
1. Lời dẫn
Khoảng những năm 2018 - 2019, nhân đợt trùng tu phủ Kiên Thái vương1, ông Đặng Văn Luyện (hậu duệ đời thứ 4, Nhánh 1 của vua Hàm Nghi) thông qua ông Tôn Thất Giáp (trưởng Hệ 1 Tiền biên) đã kết nối với chúng tôi để tìm hiểu sâu hơn về gia đình, phủ thờ và lăng mộ Kiên Thái vương Hồng Cai. Đấy là khởi đầu của cơ duyên giúp chúng tôi tìm hiểu về vua Hàm Nghi (con ruột Kiên Thái vương) cũng như truyền thống dòng họ này trong hiện tình đất nước.
Năm 2023 - 2024, thông tin tư liệu về cuộc đời, sự nghiệp của hoàng đế Hàm Nghi, (nhất là từ giai đoạn nhà vua bị an trí tại thủ đô Alger của Algérie) đã dần sáng tỏ tại Việt Nam qua các ấn phẩm Việt dịch giá trị, đó là Vua Hàm Nghi - Hồi ức con đường El-Biar của Chapuis Gérard2 và sách Hàm Nghi - Hoàng đế lưu vong, nghệ sĩ ở Alger3 của TS. Amandine Dabat.
Tác giả Amandine Dabat, nhà nghiên cứu nghệ thuật đương đại, là hậu duệ đời thứ 5 của hoàng đế Hàm Nghi (chắt gái của công chúa Như Lý - con gái của vua Hàm Nghi). Do đó, TS. Amandine có đủ tâm huyết, tinh thần đam mê và nguồn tư liệu gốc để thực hiện công trình giá trị về vị tổ 5 đời của mình4. Ấn phẩm này đã bao quát tất cả những thông tin tư liệu về cuộc đời, sự nghiệp nghệ thuật và những thăng trầm trong cuộc sống của cựu hoàng Hàm Nghi - người nghệ sĩ Việt tại Alger, điều mà các công trình trước đây về vị hoàng đế yêu nước trên vẫn chưa thực hiện được.
Qua tìm hiểu từ những gợi mở của các ấn phẩm trên về cuộc đời vua Hàm Nghi, chúng tôi tiếp cận và khá băn khoăn về luận giải của các nhà nghiên cứu về ý nghĩa danh hiệu Tử Xuân, một tên hiệu thường xuyên hiện hữu trên các tác phẩm hội họa, điêu khắc do cựu hoàng Hàm Nghi sáng tác.
Sau khi kết nối, xâu chuỗi tương đối toàn diện về cuộc sống, tư tưởng cùng những trải nghiệm của vua Hàm Nghi, chúng tôi xin đưa ra một số lý giải về ý nghĩa tên hiệu Tử Xuân của ngài.
2. Vua Hàm Nghi lấy danh hiệu Tử Xuân hay Xuân Tử?
Sau khi bị bắt tại vùng núi Tuyên Hóa (Quảng Bình cũ, nay là Quảng Trị) cuối năm 1888, vua Hàm Nghi (1871-1944) bị chính quyền thực dân Pháp đưa về Thuận An, sau đó vào đầu năm 1889 thì đưa ngài đi an trí tại thủ đô Alger của Algérie (một quốc gia ở Bắc Phi thuộc Pháp từ 1830 đến 1962). Năm 1896, sau nhiều năm sống khép kín, cựu hoàng Hàm Nghi đã thay đổi tư duy, bắt đầu học tiếng Pháp và tìm đến hội họa.
Ban đầu, ngài vẽ lại ảnh chân dung chính mình trong thời gian lưu đày, với trang phục ngũ thân truyền thống Việt Nam cùng khăn quấn đầu, bên dưới ký tên bằng chữ Hán (từ phải qua) là: 子春 (Tử Xuân).
Cách ghi tên hiệu bằng chữ Hán của cựu hoàng Hàm Nghi thực sự không có vấn đề gì để luận bàn sâu thêm nếu thời gian qua không phát sinh cách đọc “Xuân Tử” 春子 (từ trái qua), rồi từ đó lại có thêm một số học giả luận suy rằng ngài Hàm Nghi tự nhận mình là “đứa con của mùa xuân” [chúng tôi nhấn mạnh - VVQ] vì ngài sinh ra vào mùa xuân; hoặc cũng có ý kiến cho rằng vì ngài quan niệm mùa xuân là mùa sinh sôi nảy nở, ngài yêu thiên nhiên, yêu phong cách lúc xuân thì nên mới chọn danh hiệu “Xuân tử” 春子 nhưng bị đọc nhầm là “Tử Xuân” 子春. Chẳng hạn, TS. Amandine Dabat cho rằng:
“...Minh là tên chính thức của ông. Nhưng người thân trong nhà còn gọi vị hoàng tử trẻ tuổi bằng biệt danh春子Xuân Tử (con trai của mùa xuân). Xuân Tử là cách đọc Hán Việt, nhưng Hàm Nghi vẫn tự viết và đọc theo ngữ pháp tiếng Việt là Tử Xuân. Đây cũng là nghệ danh ông dùng để ký trên tác phẩm của mình (bằng chữ Nôm hoặc Quốc ngữ)”5.
Theo TS. Amandine Dabat, bởi vì chưa xác định được chính xác ngày tháng năm sinh của cựu hoàng Hàm Nghi, nên bà nghiêng về giả thiết rằng ngài sinh vào mùa xuân (âm lịch), từ đó mới dùng danh hiệu “Xuân Tử” 春子 (đọc nhầm là Tử Xuân子春) với ý nghĩa là đứa con của mùa xuân. Bà viết:
“...Rất khó để xác minh được ngày sinh của Hàm Nghi. Theo chứng thư khai sinh do triều đình Huế cấp nhân hôn lễ của ông, có thể Hàm Nghi chào đời ngày 10/07/1870. Đây là ngày được ghi trên nhiều hộ chiếu khác nhau. Gia phả dòng họ Nguyễn Phúc thì ghi có thể ông sinh ngày 3/8/1871. Còn theo Đại Nam thực lục chính biên, đệ ngũ kỷ, ông ra đời vào ngày Bính Tý, nhằm ngày 17/6, mùa hạ, năm Tự Đức thứ 24 [1871]. Từ đó, các nhà biên niên sử xưa xác định ông sinh ngày 3/8/1871 Dương lịch. Triều đình Huế không có văn thư ghi chép hộ tịch, mà chỉ có các tông chi phả khác nhau dành cho từng thành viên từng chi tộc. Vì vậy ngày ghi trên chứng thư khai sinh cấp năm 1904 hẳn là bị sai. Tuy nhiên, nhiều nguồn tư liệu chỉ ra một ngày sinh khác với ngày 3/8/1871 vốn là ngày chính thức. Đầu tiên là biệt danh của Hàm Nghi, được dùng như tên riêng của ông: Tử Xuân (con trai của mùa xuân), có lẽ có ý chỉ đứa trẻ được sinh vào mùa xuân. [Chúng tôi nhấn mạnh - VVQ]. Theo đại tá Rheinart - người từng thực hiện nghiên cứu trong triều đình vào quãng 1880 - 1890, Ưng Lịch có thể ra đời vào tháng 3/1871. Và cuối cùng, bức thư của một người bạn của Hàm Nghi là Charles Gosselin viết, chỉ ra rằng có thể vị Thân vương được sinh vào ngày đầu năm mới của Việt Nam”6.
![]() |
| Ảnh chân dung vua Hàm Nghi, ký tên Tử Xuân7 |
Họa sĩ Đặng Mậu Tựu trong bài “Vua Hàm Nghi, họa sĩ thực thụ ở xứ trời Tây” cho biết: “Ngoài việc vẽ rất nhiều chân dung của mình, ông còn vẽ chân dung cho những người thân, bạn bè và thường ký tên tác giả là Tử Xuân hay Xuân Tử (là người con của mùa xuân)... Từ 1895 - 1902 ông đã sáng tác ít nhất 25 tranh sơn dầu trên vải trong đó có 9 tranh ký tên Xuân Tử, 2 tranh ký tên Tử Xuân và 14 tranh không ký”8.
Nếu họa sĩ Đặng Mậu Tựu chưa xác quyết bút danh của vua Hàm Nghi là Tử Xuân hay Xuân Tử, thì ở bài viết “Hàm Nghi - đứa con của màu xuân”, tác giả Đỗ Lai Thúy không rõ căn cứ vào cơ sở khoa học nào để khẳng định rằng:
“...Cái tên thường gọi nơi nội cung Huế của Hàm Nghi: Xuân Tử (con trai của mùa xuân). Sau khi sang Alger, Hàm Nghi đổi lại là Tử Xuân. Vẫn đứa con của mùa xuân ấy, nhưng trật tự viết/đọc thì chuyển từ Hán sang Việt, và được ký trong mọi thư từ giao dịch cũng như trên tranh, tượng”9.
Trước câu hỏi phỏng vấn: “Trong những bức tranh của mình, vua Hàm Nghi thường ký tên là “Tử Xuân”. Tại sao bút danh “Tử Xuân” lại được coi là một chi tiết then chốt trong hành trình nghệ thuật của nhà vua?” của phóng viên đài VOV5, nhà nghiên cứu phê bình mỹ thuật - TS. Trần Hậu Yên Thế đã cho biết rằng:
“Tên thật của vua Hàm Nghi là Ưng Lịch. Niên hiệu triều đại “Hàm Nghi” chỉ được sử dụng trong khoảng một năm trị vì. Nếu lấy chính tên thật để làm bút danh, ông có thể sử dụng tên Ưng Lịch, nhưng thay vào đó, ông lại chọn bút danh “Tử Xuân”, cũng có thể đọc là “Xuân Tử”. Cách lựa chọn này gợi ra nhiều tầng ý nghĩa, phần nào phản ánh thân phận và tâm thế của ông trong những năm tháng lưu đày. Khi ấy, hội họa giống như một niềm an ủi, một niềm vui mà ông tìm thấy giữa hoàn cảnh nhiều biến động. Chữ “Tử Xuân” có thể được xem như một phép ẩn dụ, cho thấy nghệ thuật trở thành nơi nâng đỡ tinh thần, giúp ông tìm thấy sự thanh thản và ít nhất là cảm giác được giải thoát trong tâm hồn.”10
Trên đây là các bài viết tiêu biểu cho thấy rằng đến nay, giới nghiên cứu nói chung vẫn chưa minh định rõ ràng, chính xác tên hiệu (hoặc biệt hiệu) của vua Hàm Nghi là Tử Xuân hay Xuân Tử. Và, bút danh ấy liệu có liên quan gì đến “đứa con của mùa xuân” hay không? Việc giải mã ý nghĩa tên hiệu của vua Hàm Nghi còn góp phần giải quyết về ngày sinh chính thức của ngài, vốn trước nay chưa được xác định thống nhất.
Để giải quyết vấn đề này, thiết nghĩ chúng ta cần đặt vào bối cảnh thời đại, truyền thống gia đình và phương pháp tiếp thụ học thuật của nhà vua, để từ đó ngài đúc kết thành tư tưởng, phong cách, quan niệm sống. Đó chính là chất liệu tạo nên tên hiệu của một người Việt Nam truyền thống.
Cựu hoàng Hàm Nghi vốn có tên húy Ưng Lịch 膺
là con trai thứ 5 của Kiên Thái vương Hồng Cai (堅太王洪侅, 1845-1876), em trai ruột của vua Kiến Phúc và vua Đồng Khánh. Sau khi lên ngôi hoàng đế, theo thứ tự tên húy trong “Ngự chế mạng danh thi”11, nhà vua đổi ngự danh (thánh húy) là Minh 明, còn tên húy Ưng Lịch膺
thuở nhỏ, trước khi lên ngôi thì được chính thức đổi thành tên Tự 字 (tên chữ).
Trong xã hội Việt Nam từ năm 1883 trở về trước, khi một người sinh ra thì được người có trách nhiệm trong gia đình (ông, bố, chú bác hoặc trưởng tộc, trưởng chi, trưởng phái...) ghi nhận và biên chép vào Gia phả, chứ không có quy định về đăng ký khai sinh. Chỉ đến khi chính quyền Pháp ra Sắc lệnh ngày 3/10/1883 (chính thức công bố ngày 26/3/1884) buộc các làng xã ở Nam Kỳ phải lập sổ Khai sinh, Khai tử và Hôn thú thì lúc đó mới chính thức định hình về Giấy Khai sinh (sau Nam Kỳ, các địa phương còn lại mới tiến hành).
Như vậy, vào thời điểm vua Hàm Nghi sinh ra (năm 1871), tư liệu để chứng thực ngày sinh chuẩn xác nhất cho một vị hoàng đế chính là Hoàng triều ngọc điệp12. Đấy là sách gốc ghi chép về tiểu sử các vị hoàng đế, vương hậu nhà Nguyễn, dùng đó để bổ sung, ghi chép thông tin cho các quyển sách Đại Nam thực lục (từ Tiền biên, Chính biên đệ nhất kỷ đến Chính biên đệ thất kỷ).
Theo Hoàng triều ngọc điệp, quyển 2, mục Hàm Nghi xuất đế ngọc điệp咸宜出帝玉牒, tờ 117b chép rằng:
帝御名明字膺
(初從藩系,名膺
, 至嗣位欽遵成訓以金冊中第五字明為名, 取日為君象之義,而以少辰雙名為字)
Phiên âm:
Đế ngự danh Minh, tự Ưng Lịch (sơ tòng Phiên hệ, danh Ưng Lịch, chí tự vị khâm tuân thành huấn, dĩ Kim sách trung đệ ngũ tự Minh vi danh, thủ nhật vi quân tượng chi nghĩa, nhi dĩ thiếu thời song danh vi tự).
Nghĩa là:
[Hàm Nghi] Đế có ngự danh là Minh, tên tự Ưng Lịch (trước theo Phiên hệ có tên [húy] Ưng Lịch, đến lúc lên ngôi hoàng đế, kính tuân theo huấn dụ của tiền nhân lấy chữ thứ 5 trong Kim sách [tức Ngự chế Mạng danh thi] là Minh làm tên [thánh húy], chọn theo bộ Nhật mang hàm nghĩa là biểu tượng của bậc quân vương [hoàng đế], và lấy tên kép thuở thiếu thời [tức Ưng Lịch] để làm tên Tự).
![]() |
| Hoàng triều ngọc điệp, quyển 2, mục Hàm Nghi xuất đế ngọc điệp, tờ 117b |
Căn cứ vào thông tin từ Hoàng triều ngọc điệp, chúng ta thấy rằng hoàng đế Hàm Nghi sau khi lên ngôi vua đã dùng tên húy của mình là Minh 明 và tên húy thuở nhỏ là Ưng Lịch 膺
được đổi thành tên Tự.
Về ngày sinh của vua Hàm Nghi, sách Hoàng triều ngọc điệp, quyển 2, mục Hàm Nghi xuất đế ngọc điệp 咸宜出帝玉牒, tờ 119b cho biết:
帝誕嗣德二十四年辛未夏六月 (乙未 ) 十七日 (丙子) 辛卯辰
Phiên âm:
Đế đản Tự Đức nhị thập tứ niên Tân Mùi, hạ lục nguyệt (Ất Mùi) thập thất nhật (Bính Tý) Tân Mão thời.
Nghĩa là:
[Hàm Nghi] Đế sinh vào giờ Tân Mão [5 - 7 giờ sáng], ngày 17 (ngày Bính Tý) mùa hạ tháng 6 (tháng Ất Mùi) năm Tân Mùi niên hiệu Tự Đức thứ 24 (1871).
![]() |
| Ngày sinh của vua Hàm Nghi trong Hoàng triều ngọc điệp |
Đối chiếu Âm - Dương lịch, giờ Tân Mão ngày 17 tháng 06 năm Tân Mùi niên hiệu Tự Đức thứ 24 chính là khoảng 5 - 7 giờ sáng [giờ Tân Mão], thứ Năm, ngày 03 tháng 08 năm 1871.
Thông tin từ Hoàng triều ngọc điệp trùng khớp với Đại Nam thực lục chính biên, đệ ngũ kỷ (大南寔錄正編第五紀), quyển V - Giản Tông Nghị hoàng đế thực lục 簡宗毅皇帝寔錄 (Hàm Nghi đế phụ 咸宜帝附). Cụ thể:
Nguyên văn:
咸宜帝: 帝名膺
,堅國公今晉贈皇叔父純毅堅太王第五子,母潘氏嫻,誕于嗣德二十四年夏六月十七日丙子。建福元年六月,簡宗毅皇帝崩,遂入繼大統,遵啓金匱帝系詩二十字,以第五明字爲名,原雙名爲字
Phiên âm:
Hàm Nghi đế: Đế danh Ưng Lịch, Kiên Quốc công kim tấn tặng Hoàng thúc phụ Thuần Nghị Kiên Thái vương đệ ngũ tử, mẫu Phan Thị Nhàn, đản vu Tự Đức nhị thập tứ niên hạ lục nguyệt thập thất nhật Bính Tý. Kiến phúc nguyên niên lục nguyệt, Giản Tông Nghị hoàng đế băng, toại nhập kế Đại thống, tuân khải kim quỹ Đế hệ thi nhị thập tự, dĩ đệ ngũ Minh tự vi danh, nguyên Song danh vi Tự.
![]() |
| Đại Nam thực lục chính biên, đệ ngũ kỷ - Q5: Hàm Nghi đế (phụ)- Nguồn: Đại học Keio - Nhật Bản lưu trữ |
Nghĩa là:
Hàm Nghi đế: Đế tên là Ưng Lịch, con thứ năm Kiên Quốc công, nay tiến [tấn] tặng là Hoàng thúc phụ Thuần Nghị Kiên Thái vương, mẹ là Phan Thị Nhàn, [Đế] sinh ngày Bính Tý, 17 tháng 6, mùa hạ, năm Tự Đức thứ 24. Tháng 6 năm Kiến Phước [Phúc] thứ nhất, Giản Tông Nghị hoàng đế mất, vào nối ngôi vua, tuân mở 20 chữ trong thơ đế hệ ở hộp vàng, bèn lấy chữ thứ năm là chữ “Minh” đặt tên [thánh húy], còn tên kép cũ [Ưng Lịch] làm tên tự13.
Qua Hoàng triều ngọc điệp và Đại Nam thực lục chính biên đệ ngũ kỷ - hai bộ Quốc phả và Quốc sử đặc biệt quan trọng của triều Nguyễn, chúng ta có thể khẳng định rằng vua Hàm Nghi sinh vào giờ Tân Mão (5 - 7 giờ sáng) ngày 17 tháng 06 năm Tân Mùi, ứng với Dương lịch là ngày 03 tháng 08 năm 1871.
Như thế, ngày sinh của vua Hàm Nghi tuyệt không có can hệ gì với “mùa xuân”, mà là tháng Quý hạ (tháng 6 âm lịch). Do đó, dẫu tên hiệu của ngài là “Xuân Tử” hay “Tử Xuân” thì cũng không hề liên quan đến câu chuyện “ngày sinh vào mùa xuân” hay “đứa con của mùa xuân”.
Để làm rõ vấn đề tên hiệu của vua Hàm Nghi là Tử Xuân hay Xuân Tử, thiết nghĩ cần đặt vào truyền thống đặt tên của người Việt. Trong văn hóa Á Đông, người Việt thường có nhiều tên gọi như nhũ danh (tên lúc mới sinh), tên húy, tên tự, tên hiệu, biệt hiệu (hay biệt danh), tên tước (tước vị), tên thụy (tên người sau khi mất), niên hiệu (đối với các vị hoàng đế)... Ở đây, chúng tôi xin lược bàn về 3 tên cơ bản nhất là tên húy, tên tự và tên hiệu.
Tên húy là “tên chính thức trong giấy tờ hành chính để học hành, thi cử, làm quan… Lúc con trai đủ 20 tuổi Âm lịch sẽ làm lễ gia quán (加冠) - đội mũ, biểu thị sự trưởng thành và từ đây bắt đầu kiêng húy. Kiêng húy là phong tục cấm gọi tên húy của người đã “đội mũ”…”14; Tên tự là tên gọi của người con trai trưởng thành sau khi làm lễ “gia quán” [lễ đội mũ - tức lễ trưởng thành].
Và, tên hiệu (hoặc biệt danh, biệt hiệu) là tên gọi do chính người trưởng thành đó tìm chọn tên gọi chuẩn xác nhất cho mình, sau khi đã có tên tự: “Đặt tên hiệu tương tự như đặt tên tự: bao hàm, hoặc mở rộng nghĩa tên húy”15.
Theo đó, chúng ta thấy rằng vua Hàm Nghi có ngự danh (thánh húy) Minh 明, tên tự Ưng Lịch 膺
, còn lại là vấn đề làm rõ tên hiệu (hoặc biệt hiệu, bút danh...) của cựu hoàng.
Qua các tư liệu tranh ảnh có thủ bút cựu hoàng và nhất là qua những dòng chữ do chính vua Hàm Nghi viết và bà Suzanne Meyer-Zundel cho khắc lên mộ Judith Gautier (1845 - 1917) vào năm 191816, chúng tôi có thể khẳng định rằng tên hiệu của vua Hàm Nghi là Tử Xuân 子春 chứ không phải là “Xuân Tử” 春子.
Cụ thể, bia mộ này do bà Suzanne Meyer-Zundel thuê thợ khắc theo chữ viết của Hàm Nghi đầu năm 191817.Tại ngôi mộ này, ở dòng bên trái có ba chữ (đọc từ trên xuống) là Tử Xuân bái (子春拜). Không còn nghi ngờ gì nữa, bởi đây là tư liệu gốc để khẳng định tên hiệu của cựu hoàng là Tử Xuân 子春.
![]() |
| Mộ bà Judith Gautier- ghi rõ: 子春拜 Tử Xuân bái |
Bởi lẽ, nếu cách ghi ngang thì tùy vào cách đọc: đọc theo truyền thống Á Đông của chữ Hán là từ phải qua trái, hoặc đọc theo lối mới của chữ Hán hiện đại là từ trái qua phải, người đọc sẽ có 2 hướng luận giải đều hợp lý, là “Tử Xuân” 子春 và “Xuân Tử” 春子. Nhưng, tại bia mộ trên, cách ghi (từ trên xuống) rõ ràng là “Tử Xuân bái” 子春拜 đã chứng thực tên hiệu chính xác của cựu hoàng Hàm Nghi là “Tử Xuân” chứ không thể là “Xuân Tử”.
3. Về ý nghĩa tên hiệu Tử Xuân子春
Tử Xuân 子春là tên hiệu (bút hiệu, bút danh) do chính vua Hàm Nghi tự đặt cho mình, mang ý nghĩa sâu xa độc đáo và cực kỳ giá trị. Tên hiệu này chính là cách dùng rút gọn từ tên người, đó là Nhạc Chính Tử Xuân 樂正子春, gắn liền với điển cố “Tử Xuân chi tật” 子春之疾 (thương tật của Nhạc Chính Tử Xuân 樂正子春) được ghi chép trong sách Lễ ký 禮記, thiên Tế nghĩa 祭義; nội dung tương tự cũng chép ở các sách Đại Đái Lễ ký大戴禮記, mục Tăng tử Đại hiếu 曾子大孝 (đức hiếu to lớn của thầy Tăng Sâm) và Quần thư trị yếu 群書治要, thiên Tế nghĩa 祭義..
Các nguồn tư liệu trên cho biết Nhạc Chính Tử Xuân 樂正子春 là người nước Lỗ thời Chiến Quốc. Ông là một học trò xuất sắc của Tăng Sâm 曾参 (505 TCN - 435 TCN, được người đời tôn xưng là Tăng Tử 曾子 - một học trò xuất sắc của Khổng Tử, chuyên về trường phái Hiếu đạo 孝道 - dùng đạo Hiếu trị thiên hạ18). Ông nối tiếp thầy mình là Tăng Sâm phát huy rực rỡ trường phái Hiếu đạo thành 1 trong 8 trường phái chính của Nho gia, và kết tinh thành cuốn sách kinh điển Hiếu kinh.
Chuyện về “Tử Xuân chi tật” được chép trong Lễ Ký 禮記, thiên Tế nghĩa 祭義 cụ thể như sau:
Nguyên văn:
樂正子春下堂而傷其足,數月不出,猶有憂色。門弟子曰:‘夫子之足瘳矣,數月不出,猶有憂色,何也?’.樂正子春曰:‘善如爾之問也!善如爾之問也!吾聞諸曾子,曾子聞諸夫子曰:‘天之所生,地之所養,無人為大’。父母全而生之,子全而歸之,可謂孝矣。不虧其體,不辱其身,可謂全矣。故君子頃步而弗敢忘孝也。今予忘孝之道,予是以有憂色也。壹舉足而不敢忘父母,壹出言而不敢忘父母。壹舉足而不敢忘父母,是故道而不徑,舟而不游,不敢以先父母之遺體行殆。壹出言而不敢忘父母,是故惡言不出於口,忿言不反於身。不辱其身,不羞其親,可謂孝矣
Phiên âm:
Lễ Ký (Tế Nghĩa): “Nhạc Chính Tử Xuân hạ đường nhi thương kỳ túc, sổ nguyệt bất xuất, do hữu ưu sắc. Môn đệ tử viết: ‘Phu tử chi túc sưu hĩ, sổ nguyệt bất xuất, do hữu ưu sắc, hà dã?’. Nhạc Chính Tử Xuân viết: ‘Thiện như nhĩ chi vấn dã! Thiện như nhĩ chi vấn dã! Ngô văn chư Tăng Tử. Tăng Tử văn chư Phu Tử viết: ‘Thiên chi sở sinh, địa chi sở dưỡng, vô nhân vi đại. Phụ mẫu toàn nhi sinh chi, tử toàn nhi quy chi, khả vị hiếu hĩ. Bất khuy kỳ thể, bất nhục kỳ thân, khả vị toàn hỹ. Cố quân tử khoảnh bộ nhi phất cảm vong hiếu dã.’ Kim dư vong hiếu chi đạo, dư thị dĩ hữu ưu sắc dã. Nhất cử túc nhi bất cảm vong phụ mẫu, nhất xuất ngôn nhi bất cảm vong phụ mẫu. Nhất cử túc nhi bất cảm vong phụ mẫu, thị cố đạo nhi bất kính, chu nhi bất du, bất cảm dĩ tiên phụ mẫu chi di thể hành đãi. Nhất xuất ngôn nhi bất cảm vong phụ mẫu, thị cố ác ngôn bất xuất vu khẩu, phẫn ngôn bất phản vu thân, bất nhục kỳ thân, bất tu kỳ thân, khả vị hiếu hỹ.’”
Nghĩa là:
“Nhạc Chính Tử Xuân xuống phòng khách, bị thương ở chân, mấy tháng không ra khỏi nhà, nét mặt buồn bã. Các đệ tử hỏi: ‘Chân thầy đã đỡ hơn nhiều, nhưng vẻ mặt còn buồn rầu, tại sao vậy?’. Nhạc Chính Tử Xuân nói: ‘Lành thay câu hỏi của các trò! Lành thay câu hỏi của các trò! Ta nghe ở Tăng Tử [Tăng Sâm], Tăng Tử nghe ở Khổng Phu Tử rằng: ‘Trong các thứ trời sanh đất dưỡng, chẳng thứ nào lớn bằng con người. Cha mẹ sinh ra con vẹn toàn; con cái khi qua đời được toàn vẹn thì đó gọi là Hiếu vậy. Không làm suy yếu thân thể, không khiến tấm thân nhục ô; đó có thể gọi là trọn vẹn vậy. Cho nên quân tử mỗi khi bước đi đều không dám quên đạo Hiếu’. Nay ta đã bỏ quên Hiếu đạo [tức khiến bản thân bị thương ở chân], vì vậy ta có nét mặt ưu tư. [Bởi lẽ] Mỗi khi nhấc chân đi thì đều không dám quên [ân tình của] cha mẹ; mỗi khi thốt ra lời nói thì không dám quên [ân tình của] cha mẹ.
[Nếu như luôn giữ ý niệm rằng] Mỗi khi nhấc chân đi thì đều không dám quên [ân tình của] cha mẹ; thì nên đi đường lớn chứ không đi đường tắt, đi bằng thuyền chứ không tự bơi qua sông. Bởi [tự mình] không dám đem cái thân thể này của cha mẹ cho ta mà làm cho mỏi mệt, nguy hiểm. [Nếu như luôn giữ ý niệm rằng] Mỗi khi thốt ra lời đều không dám quên [ân tình của] cha mẹ, thì những lời ác nghiệt sẽ không phát ra từ miệng mình, và lời căm phẫn không chuyển hóa trở ngược vào chính mình. ‘Không nên tự làm nhục mình, không được làm cho cha mẹ xấu hổ; đó có thể gọi là hiếu vậy.’”
Câu chuyện trên của Nhạc Chính Tử Xuân được chép trong các sách kinh điển về Kinh Lễ (Lễ ký, thiên Tế nghĩa) và nhiều sách về đạo Hiếu khác đã đúc kết thành điển cố “Tử Xuân chi tật” 子春之疾 (câu chuyện về thương tật của Nhạc Chính Tử Xuân) với ý nghĩa giáo dục sâu sắc về Hiếu đạo, theo như tôn chỉ Hiếu kinh19 (孝經) với tư tưởng cốt tủy thể hiện ở Chương Khai Tông minh nghĩa 開宗明義章: “Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất hủy cảm thương, hiếu chi thủy dã” 身體髮膚,受之父母,不敢毀傷,孝之始也 (Nghĩa là: Thân thể tóc da được nhận lãnh từ cha mẹ, không dám tùy tiện phá hủy, gây tổn thương, ấy là nền tảng của đạo hiếu vậy).
Từ các dẫn liệu trên, chúng ta thấy rằng vua Hàm Nghi lựa chọn tên hiệu Tử Xuân 子春 (từ Nhạc Chính Tử Xuân, gắn liền với điển cố “Tử Xuân chi tật”) hàm chứa một ý nghĩa căn cốt về tinh thần Hiếu đạo. Danh hiệu Tử Xuân 子春 ấy dường như thường xuyên hiện hữu trong những bức tranh do chính ngài ký họa, trong các bức thư ngài biên chép và trong chính dòng chữ “Tử Xuân bái” mà cựu hoàng để lại tại ngôi mộ người bạn vong niên mang một tâm hồn đồng điệu - nữ văn sĩ Pháp Judith Gautier (1845 - 1917).
![]() |
![]() |
| Hình ảnh Cựu hoàng Hàm Nghi (với trang phục Việt Nam truyền thống, tóc vấn, trùm khăn) cưới bà Marcelle Laloë, 190420 |
Thay lời kết luận
Sinh ra, lớn lên và lên ngôi hoàng đế trong một thời kỳ nước nhà đầy biến động, cuộc sống của vua Hàm Nghi (1871-1944) phần lớn gắn liền với biến cố, với 3 năm kháng chiến (1885-1888) và bị lưu đày (1889-1944). Từ nhỏ ngài sống cảnh bần hàn với mẹ ruột, rồi bị “buộc” lên ngôi lúc 13 tuổi (ngày 12 tháng 06 năm Giáp Thân - 1884) và chưa đầy 1 năm sau thì đã bôn tẩu vì sự biến Thất thủ Kinh đô (23 tháng 05 năm Ất Dậu, 1885). Có lẽ vì thế, thời gian nhà vua được học tập chữ Hán (thứ chữ chính thức của các triều đại quân chủ tại Việt Nam trước khi có chữ Quốc ngữ), lĩnh hội tri thức về mọi mặt phục vụ cho việc trị nước của bậc quân vương hẳn không nhiều. Đồng thời, trước ngày bị đày ải, ngài cũng chỉ mới nắm bắt sơ lược các tư tưởng giáo dục truyền thống thông qua những bài học chữ Hán cơ bản (dạng như Ấu học tầm nguyên, Ấu học khải mông...). Điều này cũng được TS. Amandine Dabat chỉ rõ bằng nghiên cứu chuyên sâu của mình: “...Quá trình học chữ Hán của ông cũng bị gián đoạn, thậm chí bị hạn chế, do 3 - 4 năm trốn chạy trên núi từ lúc ông 14 tuổi, và chắc chắn ông đã dần quên mặt chữ. Không có gì chứng tỏ ông có kiến thức văn tự Hán Việt cổ điển...”21.
Duy rằng, với tư chất thông minh và trí tuệ của mình, nhà vua đã lĩnh hội và vận dụng tương đối hiệu quả tinh thần Hiếu đạo trong Nho giáo. Tinh thần đó được biểu lộ ngay tại tên hiệu Tử Xuân子春 (rút gọn từ thành ngữ “Tử Xuân chi tật” 子春之疾, nói về điển cố Nhạc Chính Tử Xuân bị trật chân) của mình, cũng như ngay trong phong cách, nếp sống của cựu hoàng Hàm Nghi suốt những năm ở “quê người dặm khách” tại Alger.
Thấm nhuần đạo lý “Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất hủy cảm thương, hiếu chi thủy dã” 身體髮膚,受之父母,不敢毀傷,孝之始也 (Nghĩa là: Thân thể tóc da được nhận lãnh từ cha mẹ, không dám tùy tiện phá hủy, gây tổn thương, ấy là nền tảng của đạo hiếu vậy) của Hiếu kinh, vua Hàm Nghi là hiện thân cho sự bảo tồn, gìn giữ và phát huy rõ nét truyền thống văn hóa cổ truyền của dân tộc, nhất là trong nếp ăn mặc của ngài.
Tất cả các hình ảnh về vua mà ngày nay hiện hữu đều cho thấy vua Hàm Nghi luôn mặc áo ngũ thân hoặc các trang phục áo quần truyền thống Việt Nam, quấn khăn vấn đầu và không hề cắt tóc, không theo phong cách Âu hóa thời bấy giờ, dẫu đó là những ngày thường nhật hay các đại lễ quan trọng của bản thân (như các ngày đại hỷ: Lễ đính hôn và Lễ cưới của cựu hoàng Hàm Nghi với Marcelle Aimée Léonie Laloë năm 1904...).
Đối với vua Hàm Nghi, trọng đạo Hiếu chính là thước đo quan trọng nhất để giữ gìn phẩm giá, bảo tồn văn hóa truyền thống và cũng chính là cơ sở nền tảng để lấy Hiếu trị thiên hạ (dĩ hiếu trị thiên hạ 以孝治天下) đúng như tinh thần của Hiếu kinh. Và, giữ gìn hiếu đạo thể hiện ngay chính tên hiệu Tử Xuân cũng như ngay phong cách sống, cách cư xử, ăn mặc của cựu hoàng trong suốt cuộc đời bôn tẩu.
Đạo hiếu ấy còn là sợi dây liên kết xuyên suốt không hề đứt gãy trong gia tộc phủ Kiên Thái vương (cha của ba vua Kiến Phúc - Đồng Khánh - Hàm Nghi), thể hiện ngay ở nếp sống, cách ứng xử cũng như trong các câu đối, hoành phi phủ thờ và lăng mộ Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai.
Điều này được minh định rõ nét thêm một lần nữa chính tại các hình ảnh, phù điêu khảm sành sứ, trang trí trên lăng mộ ngài Kiên Thái. Đó là các bức tranh và đoạn chữ Hán giải thích về Nhị thập tứ hiếu (Chuyện về 24 tấm gương hiếu thảo), trong đó có chuyện Tăng Tử vi thân thái tân 曾子為親採薪 (Tăng Sâm vì mẹ, đi nhặt củi) - kể về việc Tăng Sâm đi nhặt củi trên núi, mẹ ở nhà thì có khách đến, mẹ ông bối rối nên cắn mạnh vào ngón tay mình. Tăng Sâm vì vậy đột nhiên thấy đau nhói ở tim, vội vác củi chạy về...
![]() |
| Hình ảnh chuyện Tăng Sâm vì mẹ, đi nhặt củi thuộc Nhị thập tứ hiếu, được thể hiện trên các phần trang trí lăng Kiên Thái vương. (Ảnh: Nguyễn Phong) |
Tóm lại, tên hiệu Tử Xuân của vua Hàm Nghi không hề mang ý nghĩa chỉ mùa xuân, hay “đứa con của mùa xuân” hay liên quan gì đến sự yêu mến mùa xuân... mà hàm ý sâu xa chính là Hiếu đạo.
Nhà vua sử dụng tên hiệu này gắn liền với cuộc đời mình, đề bút lên các bức tranh và bia đá người trân quý (trường hợp Judith Gautier) chính để luôn luôn tự nhắc nhở rằng đạo Hiếu là đạo lý đầu tiên để làm người, làm điều thiện lành và giáo dục truyền thống. Thông qua đó, Tử Xuân - Hàm Nghi cựu hoàng đế đã góp phần nêu cao đạo lý truyền thống, giữ gìn phẩm hạnh và những giá trị cổ truyền tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
V.V.Q
(TCSH449/07-2026)
----------------------
1 Kiên Thái vương Hồng Cai (1845-1876), hoàng tử thứ 26 của vua Thiệu Trị, mẹ ngài là Tài nhân Trương Thị Vĩnh. Vương là thân sinh của 3 vị hoàng đế triều Nguyễn, gồm: vua Đồng Khánh, vua Kiến Phúc và vua Hàm Nghi.
2 Chapuis Gérard (2023), Vua Hàm Nghi - Hồi ức con đường El-Biar, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế - Nxb. Thuận Hóa, Huế.
3 Amandine Dabat (2024), Hàm Nghi - Hoàng đế lưu vong, nghệ sĩ ở Alger (bản dịch Nguyễn Thị Hiệp), Nxb. Khoa học Xã hội, HN.
4 Sách này vốn là luận án Tiến sĩ bằng tiếng Pháp với tiêu đề Hàm Nghi - Empereur en exil, artiste à Alger do Nxb. Sorbonne ấn hành năm 2019, được TS. Nguyễn Thị Hiệp dịch thuật và xuất bản tại Việt Nam vào tháng 10 năm 2024.
5 Amandine Dabat (2024), Hàm Nghi - Hoàng đế lưu vong, nghệ sĩ ở Alger, Sđd, tr.31.
6 Amandine Dabat (2024), Hàm Nghi - Hoàng đế lưu vong, nghệ sĩ ở Alger, Sđd, tr.31-32.
7 Theo chú thích của Amandine Dabat (sách đã dẫn), tr.162 thì đây là bức Chân dung tự họa của họa sĩ Tử Xuân - cựu hoàng Hàm Nghi ngày 24/07/1896 căn cứ vào ảnh chụp Thân vương D’Annam (Khuyết danh) năm 1890-1891. Nguồn ảnh: tại bài viết “Hàm Nghi (1871 - 1944), exiled emperor and first modern Vietnamese artist” của TS. Amandine Dabat, link: https://amis-musee-cernuschi.org/en/ham-nghi-1871-1944-empereur-exile-et-premier-artiste-modernevietnamien-2/.
8 Đặng Mậu Tựu, “Vua Hàm Nghi, họa sĩ thực thụ ở xứ trời Tây”, đăng tải tại trang web của Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế Xã hội Hà Nội, thứ năm, ngày 30/01/2019, 15:01. Link: https://vienktxh.hanoi.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/vuaham-nghi-hoa-si-thuc-thu-o-xu-troi-tay-102794.html (Thời gian truy cập: 15h42’ ngày 28/05/2026).
9 Đỗ Lai Thúy, “Hàm Nghi - đứa con của màu xuân”, Tạp chí Sông Hương số 445/ 03-2026, link online: http://tapchisonghuong. com.vn/tin-tuc/p4/c18/n34474/Ham-Nghi-Dua-con-cua-mau-xuan.html (truy cập: 15h52 ngày 28/05/2026).
10 PV Phương Thúy, “Mỹ thuật của vua Hàm Nghi - mầm xuân trong cõi lưu đày”, VOV5, mục Tạp chí văn nghệ, link online: https://vovworld.vn/vi-VN/tap-chi-van-nghe/my-thuat-cua-vua-ham-nghi-mam-xuan-trong-coi-luuday-2431391.vov5 đăng tải 17:32 ngày 29/04/2026 (thời gian truy cập: 16h, ngày 28/05/2026).
11 Ngự chế mạng danh thi là 1 bài thơ gồm 20 chữ có bộ Nhật, do vua Minh Mạng sáng tác để đặt Ngự danh (theo thứ tự) của các đời vua tiếp theo. Bài thơ như sau: 暶時昇昊明,昪昭晄晙晪。智暄暕晅㬏,晊晢曣曦㫟 “Tuyền - Thì - Thăng - Hạo - Minh - Biện - Chiêu - Hoảng - Tuấn - Thiển - Trí - Huyên - Giản - Huyên - Lịch - Chất - Tích - Yến - Hy - Duyên” (Ứng theo đó, ngự danh của vua Thiệu Trị là Tuyền 暶, vua Tự Đức có ngự danh Thì 時... vua Hàm Nghi có ngự danh Minh 明).
12 Hoàng triều ngọc điệp còn được gọi là Hoàng triều ngọc phả chính là bản gia phả gốc, mang tính chính thống của triều đình. Hoàng triều ngọc điệp của triều Nguyễn ghi chép về ngày sinh - mất, tiểu sử sự nghiệp (tóm lược) của các chúa Nguyễn, vua Nguyễn và hoàng hậu nhà Nguyễn. Do đó, Hoàng triều ngọc điệp được xem là “Quốc phả” 國譜 (phả ký mang tầm quốc gia), mang tính chất đặc biệt quan trọng và trân quý. Mọi thông tin trong Hoàng triều ngọc điệp chính là nguồn tư liệu chính thống giá trị nhất của quốc gia. Bên cạnh Hoàng triều ngọc điệp (ghi chép về vua, chúa, hoàng hậu), triều Nguyễn còn có các bộ sách liên quan đến hoàng gia như Hoàng Tử phả, Hoàng Nữ phả, Tiên nguyên toát yếu phả, Hoàng tộc lược biên...
13 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 9 (bản dịch Viện Sử học), Nxb. Giáo dục, H. tr.97.
14 Nguyễn Đăng Na (2015), “Tên húy, tên tự, tên hiệu của cụ Nguyễn Đình Chiểu” trích trong sách Nguyễn Đăng Na di cảo và hoài niệm, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.277.
15 Nguyễn Đăng Na, “Tên húy, tên tự…”, Sđd, tr.278.
16 Cũng trên mộ đó, về sau khắc thêm tên bà Suzanne Meyer-Zundel (1882-1971) ở phần dưới.
17 Xem thêm ở bài “Judith Gautier, Hàm Nghi ở Saint-Énogat” của Nguyễn Ngọc Giao ở trang https:// www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/ham-nghi-nghe-si/ (truy cập 9h ngày 01/06/2026).
18 Tăng Sâm là con trai của Tăng Điểm 曾点 - cũng là học trò đầu tiên của Khổng Tử (Tăng Sâm cách Khổng Tử 46 tuổi). Tăng Sâm được hậu thế tôn vinh là người chí hiếu (hết lòng hiếu thảo). Ông cùng Khổng Cấp, Nhan Hồi, Mạnh Tử được tôn xưng là Tứ Phối của Nho gia; và chính ông cùng Khổng Cấp [Tử Tư] làm ra sách Trung Dung. Sách Nhị thập tứ hiếu (24 câu chuyện về tấm gương đạo Hiếu) ghi chép câu chuyện thứ ba về Tăng Sâm: mẹ cắn ngón tay, tim con đau xót.
19 Hiếu kinh 孝經 là 1 trong 13 sách Kinh điển (Thập tam kinh) của Nho giáo, do Tăng Sâm (Tăng Tử) biên chép trên cơ sở những lời dạy của Khổng Tử. Về sau, được các học trò Tăng Tử theo trường phái Hiếu đạo này phát huy mạnh mẽ, có tầm ảnh hưởng to lớn trong đời sống văn hóa, chính trị của các nước Á Đông truyền thống.
20 Nguồn ảnh: tại mục “Marcelle_Laloë “ trên Wikipea, https://vi.wikipedia.org/wiki/Marcelle_Lalo%C3%AB (truy cập 21h, 01/06/2026).
21 Amandine Dabat (2024), Hàm Nghi - Hoàng đế lưu vong, nghệ sĩ ở Alger, Sđd. tr.211.
____________________
Tài liệu tham khảo chính:
1. Amandine Dabat (2024), Hàm Nghi - Hoàng đế lưu vong, nghệ sĩ ở Alger (Nguyễn Thị Hiệp dịch), Nxb. Khoa học Xã hội, H.
2. Chapuis Gérard (2023), Vua Hàm Nghi - Hồi ức con đường El-Biar, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế - Nxb. Thuận Hóa, Huế.
3. Nguyễn Đăng Na (2015), Nguyễn Đăng Na di cảo và hoài niệm, Nxb. Đại học Sư phạm, HN.
4. Nguyễn Ngọc Giao, “Judith Gautier, Hàm Nghi ở Saint-Énogat” ở trang https://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/ham-nghi-nghe-si/
5. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 9 (bản dịch Viện Sử học), Nxb. Giáo Dục, H.
6. Đỗ Lai Thúy, “Hàm Nghi - đứa con của màu xuân”, Tạp chí Sông Hương số 445/03-2026, link online: http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p4/c18/n34474/Ham-Nghi-Dua-con-cua-mau-xuan.html
7. PV Phương Thúy, “Mỹ thuật của vua Hàm Nghi - mầm xuân trong cõi lưu đày”, VOV5, mục Tạp chí văn nghệ, link online: https://vovworld.vn/vi-VN/tap-chi-van-nghe/my-thuat-cua-vua-ham-nghi-mam-xuan-trong-coi-luu-day-2431391.vov5 (29/04/2026).
8. Đặng Mậu Tựu, “Vua Hàm Nghi, họa sĩ thực thụ ở xứ trời Tây”, đăng tải tại trang web của Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế Xã hội Hà Nội, thứ Năm, ngày 30/01/2019, 15:01. Link: https://vienktxh.hanoi.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/vua-ham-nghi-hoa-si-thucthu-o-xu-troi-tay-102794.html.
9. Hoàng triều ngọc điệp, quyển 2 - bản Hán văn (Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh lưu trữ).
10. Đại Nam thực lục (bản Hán văn, tập 19), Đại học Keio - Nhật Bản lưu trữ.