NGUYỄN THÙY TRANG
1. Chủ nghĩa hậu nhân loại - cơ sở định vị mối quan hệ giữa con người và máy móc
“Hậu nhân loại” (Posthuman) là một thuật ngữ xuất hiện khá phổ biến trong đời sống gần đây qua những tác phẩm điện ảnh, văn học có tính khoa học viễn tưởng hay lĩnh vực công nghệ, thông tin. Thuật ngữ này lần đầu tiên xuất hiện dưới dạng “post-human” vào năm 1888 trong tác phẩm mang màu sắc giả tưởng The Secret Doctrine của Helena Blavatsky. Tuy nhiên, Blavatsky không đưa ra diễn giải cụ thể về khái niệm “hậu nhân loại”. Thời điểm đó, những nhận thức về “chủ nghĩa hậu nhân loại” vẫn còn mơ hồ, chưa đầy đủ. Từ những năm 70 của thế kỷ XX, Ihab Hassan là người đầu tiên định danh “văn hóa hậu nhân loại” trong báo cáo Prometheus as Performer: Toward a Posthumanist Culture? (Prometheus như một chủ thể trình diễn: Hướng tới một nền văn hóa hậu nhân loại?, 1976). Sau đó, Haraway với A Cyborg Manifesto: Science, Technology, and Socialist Feminism in the Late Twentieth Century (Tuyên ngôn Cyborg: Khoa học, Công nghệ và Chủ nghĩa nữ quyền xã hội vào cuối thế kỷ XX, 1991), đã triển khai khái niệm “Cyborg” (người máy) và xác lập một thời đại mới: “Vào cuối thế kỷ XX - thời đại của chúng ta, một thời đại mang tính huyền thoại - tất cả chúng ta đều là “những thực thể lai ghép”, những dạng lai ghép giữa máy móc và cơ thể sống đã được lý thuyết hóa và chế tác; nói ngắn gọn, chúng ta là Cyborg. Cyborg là bản thể luận của chúng ta; nó trao cho chúng ta chính trị của mình. Cyborg là một hình ảnh cô đặc của cả trí tưởng tượng lẫn hiện thực vật chất, hai trung tâm gắn kết cấu trúc nên mọi khả thể của sự biến đổi lịch sử” (tr.150). Quan điểm Haraway hướng đến phủ bỏ tính nhị nguyên và bản chất luận truyền thống, xóa nhòa ranh giới vốn được dựng lên bởi nam giới trong xã hội tư bản, tập trung vào mối quan hệ giữa người và máy.
Nhấn mạnh hơn tầm quan trọng của chủ nghĩa hậu nhân loại, chuyên luận How we became posthuman: Virtual Bodies in Cybernetics, Literature, and Informatics (Chúng ta đã trở thành hậu nhân loại như thế nào: Những cơ thể ảo trong Điều khiển học, Văn học và Tin học, 1999) của Katherine Hayles trình bày sự chuyển đổi từ chủ nghĩa nhân văn sang chủ nghĩa hậu nhân loại bằng cách kết nối các lý thuyết liên ngành giữa điều khiển học, công nghệ thông tin và văn học. Hayles không xem “hậu nhân loại” như một viễn cảnh khoa học viễn tưởng xa xôi, mà như một điều kiện văn hóa - tri thức hình thành từ cuối thế kỷ XX. “Quan điểm hậu nhân loại cấu hình con người theo cách cho phép nó được nối kết liền mạch với các cỗ máy thông minh. Trong hậu nhân loại, không tồn tại những khác biệt bản chất hay những ranh giới tuyệt đối giữa sự tồn tại của cơ thể và mô phỏng máy tính, giữa cơ chế điều khiển học và cơ thể sinh học, giữa mục đích luận của robot và các mục tiêu của con người” (tr.3). Đánh giá của Hayles có ý nghĩa đặc biệt đối với sự hình thành nền tảng tri thức chủ nghĩa hậu nhân loại đương đại, góp phần xác lập mô hình tư duy mới về con người trong thời đại hậu công nghiệp. Khác với cách tiếp cận thiên về biểu tượng và chính trị của Haraway, Hayles triển khai lối tiếp cận chủ nghĩa hậu nhân loại từ góc nhìn điều khiển học (cybernetics), công nghệ thông tin và khoa học nhận thức, nhằm giải thích sự biến đổi trong cách con người hiểu về cơ thể, ý thức và bản sắc dưới tác động của công nghệ số.
Thời đại trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence) hay còn gọi là “thời đại AI” bước đầu đã đặt lại vấn đề về tính độc tôn của lý trí con người. Nếu ý thức không còn là trung tâm duy nhất của nhận thức, thì ranh giới giữa con người với máy móc thông minh cũng trở nên mong manh hơn. Máy tính, trí tuệ nhân tạo hay các hệ thống tự động - dưới góc nhìn hậu nhân loại - không phải là công cụ vô tri, mà trở thành những chủ thể có khả năng xử lý thông tin, học tập và phản hồi. Điều này làm xuất hiện những tranh luận mới về bản chất của trí tuệ, tính tự trị của máy móc cũng như khả năng cộng sinh giữa con người và công nghệ.
Cary Wolfe trong công trình What is posthumanism? (Chủ nghĩa hậu nhân loại là gì?, 2010) đưa ra quan điểm con người chỉ là một trong nhiều loài tồn tại giữa thế giới tự nhiên, bác bỏ ý niệm về sự thống trị tuyệt đối của con người. Dựa vào lý thuyết của Foucault và Luhmann, Wolfe đã làm rõ sự khác biệt giữa hậu nhân loại và chủ nghĩa nhân văn trong bối cảnh tư tưởng Khai sáng. Trong công trình The Order of Things, Foucault (1970) cho rằng “con người” là một phát minh tương đối mới trong lịch sử tri thức và đồng thời cũng đang tiến gần đến sự kết thúc của mình - điều có thể nhận thấy qua cách cấu trúc của tư duy hiện đại. Nói cách khác, hậu nhân loại đặt vấn đề tái cấu trúc cách con người suy nghĩ về chính bản thân mình và về ý nghĩa của việc “làm người”. Như vậy, Wolfe không định nghĩa hậu nhân loại trên nền tảng sự xuất hiện của AI, cyborg hay công nghệ mới; mà ông muốn nhấn mạnh sự thay đổi trong chính cấu trúc của tư duy. “Cách hiểu của tôi về chủ nghĩa hậu nhân loại hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa xuyên nhân loại (transhumanism), và dưới ánh sáng đó, chủ nghĩa xuyên nhân loại nên được xem như một sự tăng cường của chủ nghĩa nhân văn” (tr.xv). Nói cách khác, hậu nhân loại không chỉ là vấn đề con người đang trở thành gì, mà còn là vấn đề chúng ta phải suy nghĩ như thế nào sau khi từ bỏ vị thế trung tâm của con người. “Khi nói đến chủ nghĩa hậu nhân loại, chúng ta không chỉ nói về chủ đề phi trung tâm hóa con người trong tương quan với các tọa độ tiến hóa, sinh thái hay công nghệ (mặc dù đây thường là nơi cuộc thảo luận bắt đầu và cũng quá thường xuyên là nơi nó kết thúc). Thay vào đó, tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng ta còn phải bàn đến cách thức tư duy đối diện với chính chủ đề ấy, hay nói cách khác, tư duy phải trở thành cái gì trước những thách thức đó” (tr.xvi). Đây chính là điểm khác biệt căn bản giữa Wolfe với chủ nghĩa xuyên nhân loại của Bostrom và cũng là cơ sở lý thuyết quan trọng cho các lĩnh vực như nghiên cứu động vật, nghiên cứu khuyết tật (disability studies), sinh thái học hậu nhân loại và nghiên cứu AI đương đại.
Tiếp nối, qua The Posthuman (Hậu nhân loại, 2013), Rosi Braidotti xem xét khái niệm “hậu nhân loại” trong sự truy nguyên lịch sử phát triển của chủ nghĩa nhân văn, khám phá nó như một bước tiến mới, làm thay đổi quan niệm nhân văn trước đây. Thay vì coi hậu nhân loại như sự mất đi khả năng tự chủ về nhận thức và đạo đức con người, Braidotti nhận thấy nó giúp chúng ta hiểu sâu hơn về bản sắc đa dạng và linh hoạt của mình. Bà viết: “Cảm quan hậu nhân loại của tôi có thể bị xem là mang tính viễn kiến, thậm chí nóng vội, nhưng nó hết sức chủ động - hay theo thuật ngữ tôi ưa dùng: mang tính khẳng định. Chính sự khẳng định kết hợp phê phán với sáng tạo trong quá trình theo đuổi những tầm nhìn và dự án thay thế. Theo quan điểm của tôi, thách thức của điều kiện hậu nhân loại nằm ở việc nắm bắt những cơ hội do sự suy tàn của vị thế chủ thể đơn nhất mà chủ nghĩa nhân văn từng duy trì mang lại - một vị thế nay đã biến đổi theo nhiều hướng phức tạp” (tr.54). Trên cơ sở này, Braidotti phân tích những tác động ngày càng gia tăng của tư duy hậu nhân loại như “cuộc sống thứ hai” của không gian kỹ thuật số, thực phẩm biến đổi gene, các bộ phận chân tay giả tân tiến, robot và công nghệ sinh sản mới… Bà nhận ra, nền kinh tế thị trường hiện nay đang thu lợi từ việc kiểm soát và thương mại hóa tất cả những gì đang sống, dẫn đến sự lai tạp, xóa bỏ sự phân biệt giữa con người và các loài khác, từ hạt giống, mầm cây, thực vật, động vật đến vi khuẩn. Những sự xáo trộn do văn hóa và kinh tế toàn cầu gây ra là tiền đề để chúng ta có căn cứ phê phán chủ nghĩa nhân loại trung tâm, đồng thời cũng đặt ra vấn đề phát triển bền vững của loài người trên trái đất.
Soi chiếu nền tảng lý thuyết trên, chủ nghĩa hậu nhân loại đã vượt ra phạm vi là diễn ngôn triết học - công nghệ chuyên biệt, từng bước thâm nhập vào đời sống văn hóa và văn học của nhiều quốc gia. Dù chưa hình thành như một khuynh hướng độc lập hay một hệ hình sáng tác rõ rệt, văn học Việt Nam đương đại đã có những dấu hiệu phản ánh sự dịch chuyển từ tư duy nhân văn truyền thống sang cảm quan hậu nhân loại. Hơn nữa, khác với phương tây, Việt Nam vẫn đang trong quá trình tiến tới công nghiệp hóa, chưa bước sang xã hội hậu công nghiệp; tuy nhiên, sự phát triển của internet, trí tuệ nhân tạo và hệ thống dữ liệu trong khoảng hơn hai thập niên gần đây đã làm thay đổi sâu sắc trải nghiệm tồn tại của người Việt. Võ Quốc Việt khẳng định: “không thể định vị được thế giới hôm nay và mai sau nếu không xem xét nó trong quy hệ tác động của gia tốc khoa học công nghệ” (tr.661). Điều này tạo nên những tiền đề quan trọng để văn học tiếp cận các vấn đề hậu nhân loại như một phương thức phản ánh hiện thực mới.
2. Chất vấn chủ nghĩa nhân văn và những giả định hòa giải hay đối kháng giữa con người - máy móc
Chủ nghĩa nhân văn hình thành mạnh mẽ từ thời kỳ Phục hưng và Khai sáng ở châu Âu, với niềm tin con người là trung tâm của thế giới, là chủ thể lý tính có khả năng nhận thức, cải tạo tự nhiên và kiến tạo lịch sử. Khác với tư tưởng trung cổ vốn đặt Thượng đế ở vị trí tuyệt đối, chủ nghĩa nhân văn đề cao phẩm giá cá nhân, tự do ý chí và năng lực tư duy của con người. Từ René Descartes với mệnh đề nổi tiếng “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”, cho đến tư tưởng Khai sáng thế kỷ XVIII, con người được xem như một cá thể tự trị, thống nhất và có ý thức rõ ràng về bản thân. Trên nền tảng đó, khoa học, dân chủ, nhân quyền và nhiều thành tựu văn minh hiện đại được hình thành. Dẫu thế, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản công nghiệp, chiến tranh thế giới thứ nhất, thứ hai, khủng hoảng môi trường và đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ số, mô hình “con người trung tâm” của chủ nghĩa nhân văn dần bộc lộ những giới hạn. Bên cạnh đó, khủng hoảng sinh thái toàn cầu cũng đặt ra câu hỏi về hậu quả của tư duy “nhân loại trung tâm”, khi con người xem tự nhiên chỉ là đối tượng để khai thác và chiếm hữu.
Văn học Việt Nam đương đại đã bắt đầu ghi nhận những chất vấn về quan niệm nhân văn truyền thống. Trong văn học giai đoạn trước, con người thường giữ vai trò chủ động kiến tạo thế giới và xác lập các giá trị đạo đức. Nhưng qua nhiều sáng tác gần đây, con người xuất hiện như một thực thể bất ổn, phân mảnh và bị chi phối bởi hệ thống công nghệ vô hình. Tác phẩm đầu tiên đề cập đến vấn đề này là Hoa cúc xanh trên đầm lầy của nhà soạn kịch Lưu Quang Vũ. Nội dung vở kịch nói đến mối tình tay ba giữa Hoàng, Vân và Liên. Hoàng yêu Liên và tỏ tình với cô, nhưng bị từ chối, xác nhận cô đang yêu Vân. Vì mặc cảm bị cự tuyệt và khát khao chiếm hữu, Hoàng đã chế tạo ra hai người máy, đặt tên là Vân B, Liên B. Hoàng đẩy Vân B xuống hầm, bắt làm việc trong bóng tối; còn Liên B lại được nâng niu. Khi hai người máy trốn thoát được, tìm đến phiên bản thực là Vân và Liên, mới xót xa hiểu được chân tướng sự tình. Vở kịch bước đầu đặt ra mối quan hệ giữa con người và máy móc, hạnh phúc và chấn thương, tình yêu và sự thấu hiểu trong xã hội kỹ trị.
Tiếp nối những gợi mở từ vở kịch Hoa cúc xanh trên đầm lầy, văn học Việt Nam ngày càng xuất hiện nhiều tác phẩm đặt con người vào trạng thái khủng hoảng căn tính trong thời đại AI. Nếu ở Lưu Quang Vũ, hình tượng “người máy” còn mang tính giả tưởng và ẩn dụ, thì ở sáng tác đầu thế kỷ XXI, cảm quan hậu nhân loại đã dần trở thành một vấn đề của sự tồn tại. Con người bị phân mảnh giữa không gian mạng, nhập nhằng trong ký ức cá nhân và dữ liệu số. Dấu ấn hậu nhân loại xuất hiện như một nỗ lực tái định nghĩa con người trong mối quan hệ với công nghệ, môi trường và các dạng tồn tại phi nhân loại khác; đặc biệt nó nhấn mạnh tính kết nối, lai ghép và phụ thuộc lẫn nhau giữa con người với máy móc, động vật, dữ liệu và hệ sinh thái toàn cầu. Qua các tác phẩm Trò chơi hủy diệt cảm xúc (Y Ban), NYM - Tôi của tương lai (Nguyễn Phi Vân), Miên trạng (Mạc Yên), Người ngủ thuê (Nhật Phi), Nhà máy sản xuất linh hồn (Nguyễn Nguyên Phước), Dị bản (Nguyễn Đinh Khoa), Biến thể của cô đơn (Yang Phan), Tổng tài kể chuyện lúc 0 giờ (Emma Hạ My), Lớp học cuối cùng (Albus D. Hoàng),... con người hiện lên như những chủ thể không còn khả năng kiểm soát hoàn toàn đời sống nội tâm, luôn bị chi phối bởi môi trường Internet và những dòng thông tin thao túng.
Cân nhắc việc nên hòa giải hoặc đối kháng với trí tuệ nhân tạo, tiểu thuyết Trò chơi hủy diệt cảm xúc của Y Ban đặt ra nguy cơ đánh mất cảm xúc của chúng ta nếu cứ đắm chìm vào thế giới ảo. Các nhân vật thường sống trong trạng thái cô độc giữa đô thị hiện đại, giao tiếp qua màn hình nhiều hơn đối thoại trực tiếp. Tài khoản mạng xã hội, Email, dữ liệu cá nhân hay các nền tảng truyền thông số khác đã thâm nhập vào cấu trúc tồn tại của chủ thể nhân loại. Con người hiện đại đặt trước thử thách về cuộc chơi phải hủy diệt cảm xúc của mình, “đóng giả” nhân vật trong thế giới ảo đó. Song, khi “nhập vai” quá dài, con người “ngộ nhận” về vai trò của mình, đồng thời vừa đối diện nguy cơ đánh mất chiều sâu tâm hồn và tính xác thực của bản ngã. Tác phẩm bước đầu đặt ra yêu cầu làm chủ lý trí, cân bằng cảm xúc giữa không gian thực và đời sống ảo.
Ở tác phẩm Biến thể của cô đơn, Yang Phan tập trung miêu tả lớp người giãy giụa trước bi kịch và giới hạn cuộc đời khi phải song hành cùng nguồn tài nguyên vô tận của hệ thống thông tin. Đối mặt với cái chết, chấn thương tâm lý, rạn vỡ gia đình, khủng hoảng hiện sinh, họ đã giải quyết bằng việc nương nhờ vào người máy, tìm niềm an ủi từ robot, sự cứu cánh của hệ thống dữ liệu USB, Chatbot. Tuy nhiên, thế giới ảo không làm cho con người trở nên phi thường, bất tử. Ngược lại, sau thời gian tương tác với chatbot hẹn hò AI, nhân vật ngỡ ngàng: “thoát khỏi thế giới ảo, tao nhận ra mình bị tổn thương. Dẫu biết Henry không thực sự có cảm xúc nhưng tao vẫn không ngừng tức giận. Tao nghĩ mọi thứ sẽ qua thôi, cho đến khi tâm thức tao nhắc nhở điều đó, rằng tao đã trở nên mong manh thế nào trước loại công nghệ có thể đi vào những tầng sâu thẳm tâm hồn mà chính tao cũng chưa từng biết nó tồn tại” (2024, tr.66). Yang Phan đã hình dung về một tương lai tuyệt vọng, mà ở đó, con người tự ti trong rào cản thân thể sinh học và chắp nối niềm tin bằng sự dẫn dắt vào công nghệ số.
Lạm dụng sự tương tác thế giới ảo, con người mất kết nối với nhau. Họ phải sử dụng các phần mềm hẹn hò, các công cụ người máy, thiết bị AI để tìm kiếm bạn tình. Một số ngành nghề mới trong tương lai được hình thành, vì nhiều công việc con người không thể giải quyết tốt bằng robot. “Ngành dịch vụ đào thải dần con người rồi thay bằng máy móc… máy móc nhớ yêu cầu của khách hàng hơn và nó chẳng bao giờ biết mệt trước đòi hỏi của Thượng Đế” (Yang Phan, 2024, tr.12-13). Con người trở nên thừa thãi, nên phải chuyển sang các dịch vụ như Người Trung Gian. “Đó là một nghề nghiệp mới phát triển trong thời gian gần đây, với nhiệm vụ trở thành cầu nối giữa chatbot AI hẹn hò với người. Ngày nay, rất nhiều người chọn hẹn hò với trí tuệ nhân tạo. Thông qua một ứng dụng, chúng ta có thể chia sẻ mọi bí mật mà không sợ bị phán xét. Tuy nhiên, người ta còn muốn những tiếp xúc thật hơn như trò chuyện, ôm hôn, ân ái. Công việc của Người Trung Gian là hóa thân thành AI và đem đến cho khách hàng trải nghiệm giống vậy” (Yang Phan, 2024, tr.9). Công việc này mang đến một sự cảnh báo chấn động về vị thế con người. Giờ đây, con người không nằm ở “Trung Tâm” của các ngành nghề trong xã hội, mà trở thành “Trung Gian” để giúp trí tuệ nhân tạo có thể giao tiếp mật thiết với con người. AI điều khiển con người bằng cách thuê con người “nhập vai”, gắn chip có loa siêu nhỏ cùng hệ thống tiếp nhận xung điện vào cơ thể người. Mọi hoạt động giao tiếp và phát triển các mối quan hệ trong xã hội loài người đều do AI điều khiển, chi phối, thống trị.
Không gian mạng và công nghệ tân tiến cũng làm thay đổi căn bản quan hệ giữa con người với thực tại. Trong Lớp học cuối cùng, Albus D. Hoàng đã kiến tạo một viễn cảnh về lớp học tương lai. Mối quan hệ giữa thầy - trò theo quan niệm của giáo dục và văn hóa trước đây bị thay đổi. Người thầy không còn ở vai trò trung tâm, điều khiển lớp học. Tinh thần giáo dục cũng không còn theo phương châm “không thầy đố mày làm nên”. Máy móc trở thành “người thầy vĩ đại”. Phương pháp học thay đổi từ cách thức truyền giảng, cảm nhận, tiếp thu. Mượn thi pháp giả tưởng, tác giả truyền tải nhận thức mới về quy trình dạy học của giáo viên và phương pháp giáo dục trong thời đại cách mạng công nghệ. Qua đó, sáng tác mang tinh thần hậu nhân loại đã đặt ra nguy cơ con người đánh mất khả năng hoài nghi, phản biện và tự kiến tạo ý nghĩa cho đời sống của chính mình nếu lệ thuộc vào công nghệ.
Trước nỗi bất an về sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin - tin học - sinh học, con người cần xem xét lại vị thế và thái độ của mình với thế giới phi nhân loại. Đối kháng, chống cự, cực đoan chưa hẳn là giải pháp phù hợp; còn hòa giải, liên loài vẫn là một trong số lựa chọn của nhiều nhà văn, dù mỗi người có những định hướng và cách giải quyết khác nhau. Đề ra các giả thuyết xác lập mối quan hệ giữa con người và máy móc, văn học Việt Nam bước đầu tham dự vào quá trình tái định nghĩa con người trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghệ số.
3. Hình tượng lai ghép “cơ thể ảo” và sự tái định vị ý nghĩa độc tôn của thân xác, linh hồn, ký ức con người
Trong Tuyên ngôn Cyborg: Khoa học, Công nghệ và Chủ nghĩa nữ quyền xã hội vào cuối thế kỷ XX, Haraway cho rằng Cyborg là hình tượng tiêu biểu của thời đại hậu nhân loại bởi nó phá vỡ hàng loạt cặp đối lập từng được xem là nền tảng của tư duy phương Tây: con người/máy móc, tự nhiên/văn hóa, hữu cơ/vô cơ, nam/nữ. Theo bà, cyborg không đơn thuần là một thực thể cơ giới được gắn thêm bộ phận sinh học, mà là một mô hình tồn tại mới, trong đó các ranh giới bản thể học truyền thống trở nên bất ổn và liên tục bị tái cấu trúc (1991, tr.150). Hiện thực ngày nay cho thấy rất nhiều người đang sống phụ thuộc vào máy móc cơ giới, dù muốn hay không muốn. Đôi khi, con người không thể cưỡng lại được nếu chẳng may thành một bệnh nhân phải đặt stent để ngăn ngừa chứng nhồi máu cơ tim, hay một lão niên phải thay khớp gối kim loại cho đôi chân đã mòn mỏi; một người khuyết tật đeo máy trợ thính để nghe rõ hơn… Rõ ràng, ngay trong thân thể con người đương đại đã chứa đựng máy móc như một phần níu kéo sự sống, duy trì sức khỏe.
Ở đây, nhà văn xây dựng hình ảnh “chủ thể lai ghép và xuyên loài” cho phép có các nhân vật như người máy, AI, các sinh thể bán hữu cơ (động vật nhân bản, thực vật đã biến đổi gene) thậm chí hệ thống dữ liệu, vật thể vô tri cũng trở thành nhân vật. Vì vậy, hình tượng người máy, cơ thể nhân tạo và các dạng sống lai ghép là một trong những biểu hiện nổi bật nhất của cảm quan hậu nhân loại trong văn học. Tiểu thuyết Nhà máy sản xuất linh hồn của Nguyễn Nguyên Phước đã đặt giả thuyết khi cơ thể có thể được tái tạo, thay thế hoặc nhân bản, đâu là giới hạn cuối cùng của bản ngã? Trước đây, linh hồn và ý thức là những điều mà con người vẫn luôn tự hào rằng chỉ duy nhất giống loài mình có. Nhưng giờ, ý thức có thể trở thành dữ liệu để lưu trữ và nhân bản, còn linh hồn có thể sao chép và sản xuất hàng loạt. Những nhân vật như Lâm, Ngọc, Công trong nhà máy đang ngày càng bào mòn linh hồn. Việc linh hồn có thể sao chép hoặc tái tạo đã làm lung lay quan niệm truyền thống về tính duy nhất của con người. Tiểu thuyết Nhà máy sản xuất linh hồn cho thấy nghịch lý của việc đồng nhất con người với thông tin: dù linh hồn và ý thức có thể được sao chép, chúng vẫn không thể thay thế hoàn toàn trải nghiệm sống cụ thể của một cơ thể đang hiện hữu. Đó là lý do ở cuối tác phẩm, Lâm quyết định rời nhà máy, phản đối việc bị thao túng, chấp nhận hứng chịu những đau đớn, rã nát trên cơ thể để nuôi khát vọng đến một vùng đất tự do của thân xác và tâm hồn.
Một biểu hiện khác của cảm quan hậu nhân loại là sự xuất hiện của các nhân vật được hình thành từ dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo. Trong Biến thể của cô đơn, các thực thể trí tuệ nhân tạo như Ly, MineGPT, USB trở thành đối tượng để nhân vật gửi gắm cảm xúc, xây dựng quan hệ tình cảm và tìm kiếm sự cứu rỗi tinh thần. Điều đáng chú ý là ranh giới giữa “người thật” và “thực thể nhân tạo” dần bị xóa nhòa. Chẳng hạn như Leo, mặc dù biết Ly chỉ là một robot, luôn ấp ủ mưu kế để “ông chủ” phải chi những khoản tiền khổng lồ cho công ty sản xuất của Ly, vậy mà hắn vẫn nảy sinh những trạng thái yêu thương, thất vọng và tổn thương như trong một mối quan hệ “người - người” thực sự.
Không chỉ truy vấn về linh hồn và cảm xúc, văn học Việt Nam đương đại còn đặt ra vấn đề về ký ức như một thành tố cấu thành bản ngã. Theo quan niệm truyền thống, ký ức là nền tảng tạo nên tính liên tục của chủ thể. Song, khi công nghệ số phát triển tân tiến, ký ức đã không hoàn toàn thuộc về cá nhân mà được ngoại hóa thành dữ liệu, lưu trữ trên các thiết bị điện tử và hệ thống đám mây. Nỗi lo ngại về việc ký ức bị chỉnh sửa hoặc tái cấu trúc trở thành một ám ảnh mới trong nhiều sáng tác khoa học viễn tưởng và giả tưởng. Dị bản của Nguyễn Đinh Khoa là một tác phẩm như thế. Lấy bối cảnh phản địa đàng, câu chuyện xoay quanh Phúc, một kỹ sư cầu đường, được nhà bác học thiên tài Frank cứu sống khi Phúc gặp tai nạn sập giàn giáo. Anh viết lại câu chuyện từ điểm nhìn của “một người đã từng chết”. “Chết về mặt vật lý, tức là tôi đã ngừng thở. Và cũng về mặt vật lý thì tôi đã được cứu sống. Não của tôi được cấp ghép vào một cơ thể được nhân bản từ chính mình. Tôi đã được trao tặng một cơ hội để sống cuộc đời thứ hai. Nhưng tôi không chắc việc sống thêm một lần nữa có ý nghĩa gì không. Tôi vẫn là tôi trước khi chết, không có gì khác biệt lắm. Chỉ có điều tôi không phải là một con người tự do như tôi đã từng. Giờ đây tôi được xem như một sản phẩm, một kết quả thí nghiệm nhằm phục vụ cho một mục đích lớn lao hơn. Tôi không biết mình có phải chết thêm một lần nào nữa không?” (tr.5). Dường như, ý định của Nguyễn Đinh Khoa không đơn thuần mang đến sự hình dung về công nghệ kỹ thuật vượt bậc ở tương lai, Dị bản mở ra một cuộc truy vấn mang tính hiện sinh về ý nghĩa tồn tại của con người. Khi thân xác có thể được thay thế, ký ức có thể được sao lưu và ý thức có thể được tái tạo dưới dạng dữ liệu, vấn đề cấp thiết đặt ra không còn là con người có thể sống lâu đến đâu, mà là điều gì khiến một đời sống trở nên có ý nghĩa. Các nhân vật như Phúc trong Dị bản, Lâm trong Nhà máy sản xuất linh hồn hay Leo trong Biến thể của cô đơn đều rơi vào trạng thái hoài nghi về chính sự tồn tại của mình. Họ hiện diện trong thế giới nhưng không còn chắc chắn về bản chất của sự hữu tồn ấy; họ sống nhưng cảm thấy mình bị tách khỏi đời sống, đứng bên ngoài quan sát chính mình.
Do đó, có thể khẳng định, cảm quan hậu nhân loại trong văn học Việt Nam đương đại có sự gặp gỡ mật thiết với tư tưởng hiện sinh. Nếu các triết gia hiện sinh từng đối diện với nỗi cô đơn của con người trong một thế giới không có bảo chứng siêu hình vì “Chúa đã chết” (Nietzsche), thì các nhân vật trong sáng tác mang dấu ấn hậu nhân loại lại phải đối diện với một dạng khủng hoảng mới khi không còn biết đâu là ranh giới giữa con người và máy móc, giữa ký ức thật và ký ức được kiến tạo, giữa trải nghiệm sống và dữ liệu được lưu trữ. Càng tiến gần đến khả năng vượt qua giới hạn sinh học, con người lại càng đứng trước nguy cơ đánh mất điểm tựa để xác nhận mình là ai. Thế nên, bi kịch lớn nhất trong các tác phẩm này không phải là cái chết, mà là sự tan rã của cảm thức về cái tôi. Như nhà văn Nguyễn Phi Vân trong tác phẩm NYM - Tôi của tương lai nhận thấy: “Công nghệ, cuối cùng chỉ là một công cụ giúp ta thể hiện quan điểm, mong muốn, mục đích và khả năng của bản thân mình. Công nghệ không phải là phép thuật để xóa sạch mọi phiền não quá khứ hay kiến tạo mọi tương lai hạnh phúc. Công nghệ càng không phải là điểm đến đánh mất bản thân của cả loài người” (2020, tr.333).
Đặc biệt, nhiều sáng tác của Việt Nam đương đại bày tỏ nghịch lý của thời đại công nghệ: càng được kết nối bằng mạng lưới dữ liệu toàn cầu, con người càng có nguy cơ rơi vào trạng thái cô độc sâu sắc hơn. Những chatbot, robot hay các mạng lưới diễn đàn Internet có thể lấp đầy khoảng trống giao tiếp, nhưng không thể xóa bỏ cảm giác lạc lõng vốn thuộc về thân phận người. Từng nhân vật trong Biến thể của cô đơn của Yang Phan tìm kiếm sự đồng cảm từ trí tuệ nhân tạo, xoa dịu nỗi đau hậu chấn thương qua hệ thống USB 2.500TB không phải vì họ thiếu thông tin, mà vì họ thiếu sự hiện diện sống động của một chủ thể khác. Chính khoảnh khắc nhận ra sự bất khả thay thế của kinh nghiệm sống, của đau đớn, mất mát và tình yêu đã khiến họ ý thức sâu sắc hơn về giới hạn tồn tại của mình. (tr.116).
Đằng sau hình tượng người máy, cơ thể nhân tạo hay ý thức số hóa, văn học Việt Nam đương đại thực chất đang đặt lại một vấn đề muôn thuở của nhân loại: con người là gì khi mọi dấu hiệu từng dùng để nhận diện chúng ta đều trở nên bất ổn? Câu hỏi ấy không chỉ mang ý nghĩa công nghệ, sinh thái hay khoa học, mà còn là một câu hỏi đầy tính hiện sinh. Nó phản ánh tâm thế của con người trong thế kỷ XXI khi đứng trước khả năng vượt qua những giới hạn sinh học của chính mình, nhưng đồng thời lại đối diện với nguy cơ đánh mất ý nghĩa của sự tồn tại. Chính trong khoảng chênh vênh giữa khát vọng vượt thoát và nỗi bất an về bản ngã ấy, cảm quan hậu nhân loại đã trở thành một trong những chiều kích tư tưởng đáng chú ý của văn học Việt Nam đương đại.
4. Tạm kết
Trên cơ sở vận dụng lý thuyết chủ nghĩa hậu nhân loại vào văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XXI, bài viết chỉ ra cách thức các tác phẩm định vị mối quan hệ giữa con người và máy móc trong thời đại AI. Qua các hình tượng người máy, chatbot, cơ thể nhân tạo, ký ức số hóa, văn học đã phản ánh những biến đổi của đời sống công nghệ - sinh học - truyền thông, từ đó đặt ra hàng loạt vấn đề mang tính bản thể luận: điều gì làm nên con người, đâu là giới hạn của thân xác, ký ức, ý thức và bản ngã trong thời đại số. Khảo sát các tác phẩm tiêu biểu cho thấy, văn học Việt Nam đương đại không nhìn nhận công nghệ hoàn toàn như một mối đe dọa hay một cứu cánh tuyệt đối. Thay vào đó, các nhà văn chủ yếu tập trung khám phá những trạng thái lưỡng nan, những khả năng hòa giải lẫn đối kháng giữa con người với máy móc. Trong khi một số tác phẩm bày tỏ nỗi lo về sự lệ thuộc vào công nghệ, sự mất kết nối cảm xúc và nguy cơ tan rã bản sắc cá nhân, thì nhiều tác phẩm khác lại xem công nghệ như một cơ hội để mở rộng giới hạn tồn tại của con người. Chính sự đan xen giữa hy vọng và bất an ấy đã tạo nên chiều sâu tư tưởng của cảm quan hậu nhân loại trong văn học Việt Nam hiện nay. Khép lại phía sau những viễn tượng về AI, robot hay kỹ thuật số, các tác phẩm vẫn hướng tới một câu hỏi mang tính nhân văn về giá trị con người trước một thế giới thực ảo lẫn lộn và đang dần bị chia sẻ với các thực thể phi nhân loại. Bởi vậy, chủ nghĩa hậu nhân loại trong văn học Việt Nam không phải là sự phủ nhận con người, mà là nỗ lực tái định vị con người trong mạng lưới tương tác rộng lớn giữa công nghệ, môi trường và các dạng sống khác. Vì thế, văn học trở thành không gian quan trọng để suy ngẫm về tương lai của nhân loại trong kỷ nguyên AI, đồng thời góp phần mở rộng hành trình nhận thức lại con người trước những thách thức và cơ hội của thời đại công nghệ.
N.T.T
(TCSH449/07-2026)
____________________
Tài liệu tham khảo:
- Y Ban. 2012. Trò chơi hủy diệt cảm xúc. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb. Trẻ.
- Braidotti, R. 2013. The posthuman. UK: Polity Press.
- Phát Dương. 2023. 2 người trong 1 ngăn tủ. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb. Trẻ.
- Albus D. Hoàng. 2025. Lớp học cuối cùng. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb. Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hayles, N.K. 1999. How We Became Posthuman - Virtual Bodies in Cybernetics, Literature, and Informatics. Chicago: University of Chicago Press.
- Haraway, D. 1991. “A Cyborg Manifesto: Science, Technology, and Socialist Feminism in the Late Twentieth Century”. Simians, Cyborgs and Women: The Reinvention of Nature. New York; Routledge. PP.149-181.
- Nguyễn Đinh Khoa. 2023. Dị bản. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb. Trẻ.
- Yang Phan. 2024. Biến thể của cô đơn. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb. Trẻ.
- Nguyễn Nguyên Phước. 2021. Nhà máy sản xuất linh hồn. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb. Trẻ.
- Ranisch, R. (2014). Morality (of transhumanism and posthumanism). In S. L. Sorgner (Ed.), Post- and transhumanism: An introduction (Vol. 1, pp. 149-172). Frankfurt: Peter Lang.
- Nguyễn Phi Vân. 2020. NYM - Tôi của tương lai. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb. Văn hóa - Văn nghệ.
- Võ Quốc Việt. 2024. “Từ hậu nhân luận đến phê bình hậu nhân”. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tập 21, số 4: 650-664.
- Mạc Yên. 2020. Miên trạng. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb. Thanh niên.
- Wolfe, C. (2010). What is posthumanism?. London: University of Minnesota Press.