ĐINH VĂN TUẤN
Các giai thoại văn chương của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm - tác giả Truyền kỳ tân phả (chữ Hán) và dịch giả Chinh phụ ngâm (chữ Nôm) - xưa nay được lưu truyền có nhiều khác biệt, lẫn lộn do nạn “Tam sao thất bản” và “nhuận sắc”1 của người đời sau nên thật khó xác định giai thoại nào là đúng thật của nữ sĩ.
Qua bài viết này, chúng tôi sẽ dựa vào các tài liệu cổ để cố gắng tìm hiểu, khảo sát… nhằm xác định tương đối những giai thoại văn chương có khả năng do Đoàn Thị Điểm làm ra.
Trong Đoàn thị thực lục chỉ ghi lại một vài giai thoại văn chương của Đoàn Thị Điểm:
- Câu đối nổi tiếng của anh em Đoàn Thị Điểm:
Đoàn Doãn Luân: “照鏡畫眉一點翻成兩點” (Soi gương vẽ lông mày, một nét điểm hóa thành hai nét điểm).
Đoàn Thị Điểm: “臨江玩月隻輪轉作雙輪” (Đến bờ sông ngắm nguyệt, một vầng hóa ra hai vầng)2.
- Câu thơ Nôm Đoàn Thị Điểm làm theo đề bài “一日不見如三秋” (Một ngày không gặp như bằng ba năm) của Thượng thư Lê Anh Tuấn:

Những màng mấy khắc giang (xoang) cầm hạc,
Ngỡ đã vài phen đổi lá ngô.
- Câu thơ điềm báo trước khi Đoàn Thị Điểm qua đời:
北闕雲騈昭妾瑞 (Cửa Bắc xe mây tỏ điềm thiếp),
南陲春雨著君恩 (Cõi Nam mưa xuân rạng ơn vua).
Tuy nhiên còn có các giai thoại văn chương khác được các văn nhân khác ghi chép lại nhưng lại không có trong Đoàn thị thực lục, tiêu biểu như:
1. Đại Nam kỳ truyện
Đoàn Doãn Luân: “禹之心從可識矣” (Tấm lòng của Vũ Vương thuận theo đạo lý, có thể hiểu được vậy).
Đoàn Thị Điểm: “堯之功顧不鉅乎”3 (Công lao của vua Nghiêu há lại chẳng lớn lao vậy sao).
- Nhị ty tổ chức khoa thi đầu ra đề 絳衣大冠 (Áo đỏ tía, mũ lớn), Đoàn Thị Điểm làm hộ văn4 cho người trong xã:
霞蒸海島三千丈 (Ráng mây đỏ tỏa lên phủ hải đảo ba ngàn trượng).
日出扶桑九萬班 (Mặt trời nhô ra khỏi Phù Tang (phương đông) chín vạn lớp hào quang)5.
- Nguyễn Huy Kỳ ở Thụy Nguyên, Trần Danh Tân6 ở Cổ Am, Nguyễn Bá Cư ở Cổ Đô, Vũ Toại7 ở Thiên Lộc.8
Bốn người ấy có tiếng hay chữ, người ta thường gọi là “Tràng An tứ hổ” (bốn con hổ ở chốn Tràng An) nghe danh của bà Điểm, muốn thử đố làm thơ. Đoàn Thị Điểm cho người bưng khay trầu ra mời, trên khay có đề một câu đối: “廷前少女勸檳榔” (Trước sân nhà thiếu nữ mời trầu cau9), bốn người không đối được, phải xấu hổ trở về.
- Đoàn Thị Điểm đang đi một mình, gặp quan Thượng thư là Nguyễn Công Hãng ở ngoài đường. Công Hãng bắt Thị Điểm vừa đi vừa ngâm một bài thơ Độc hành 獨行 (Đi một mình), Đoàn Thị Điểm ứng khẩu:
談論古今心腹友 (Bàn luận chuyện xưa nay đã có bạn gan, ruột).
周旋左右股肱人 (Theo hầu bên mình phía phải, phía trái thì có những người là tay, chân)10.
- Năm Long Đức (1732 - 1735) Bắc sứ sang sách phong11. Hoàng thượng lệnh Đoàn Thị Điểm đứng ở ngoài cửa Đoan môn.
Quan chính sứ:
安南一寸土不知幾人耕 (Một tấc đất nước An Nam không biết bao nhiêu người cày).
Đoàn Thị Điểm:
北朝諸大夫多由此途出 (Các đại phu triều đình phương Bắc, đa số từ chỗ ấy mà ra)12
2. Hát Đông thư dị
Đoàn Doãn Luân:
白蛇當道季拔劍而斬之 (Rắn trắng giữa đường, ông Quý tuốt gươm mà chém).
Đoàn Thị Điểm:
黄龍負舟禹仰天而嘆曰 (Rồng vàng đội thuyền, ông Vũ ngửa mặt mà than).13
3. Đăng khoa lục sưu giảng
Đoàn Doãn Luân:
兄來堂上尋雙月 (Anh lên nhà trên tìm hai mặt trăng).
Đoàn Thị Điểm:
弟向窗前捉半風 (Em đến trước cửa sổ bắt nửa làn gió).14
Nhìn chung, có thể vì phong cách viết gia phả và quan điểm cá nhân, gia tộc nên soạn giả - cháu rể của Đoàn Thị Điểm - Đoàn thị thực lục chỉ đưa vào gia phả Đoàn Thị Điểm mấy giai thoại đặc sắc, đáng tin mà thôi. Cũng có thể vào thời điểm viết gia phả, nhiều giai thoại văn chương được ghi chép hay truyền miệng chưa được xác thực là của Đoàn Thị Điểm nên soạn giả không tiện đưa vào? Tuy vậy, như trên đã dẫn (Đại Nam kỳ truyện, Hát Đông thư dị, Đăng khoa lục sưu giảng), nhiều giai thoại văn chương có khả năng là của Đoàn Thị Điểm vì hành trạng đã được gia phả, thư tịch ghi chép: chuyện bà Điểm kén chồng, liên quan đến giai thoại Tràng An tứ hổ; cuối cùng hơn 30 tuổi mới làm vợ lẽ Nguyễn Kiều; chuyện bà Điểm làm hộ văn phù hợp lịch sử; chuyện đối đáp sứ Trung Quốc xảy ra khoảng thời gian bà Điểm từng dạy học ở phủ Chúa trùng hợp với thời điểm sứ giả Trung Quốc sang sách phong; đối xướng về sử của anh em Đoàn Thị Điểm là hợp lý vì bà Điểm giỏi văn chương, tinh thông sử sách nên người đời gọi bà là Hồng Hà nữ sĩ 紅霞女士, Hồng Hà nữ sử 紅霞女史.
Ngoài ra còn có một số giai thoại văn chương liên quan đến Đoàn Thị Điểm xuất hiện trong các sách Quốc ngữ chẳng hạn như về câu đối đáp giữa hai anh em bà Điểm:
Đoàn Thị Điểm: “半夜生孩, 亥子二時未定” (Nửa đêm sinh con, Hợi Tý 2 giờ chưa định).
Đoàn Doãn Luân: “两情相
, 巳酉双合乃成” (Đôi tâm tình phối hợp nhau, Tỵ Dậu hai bên hợp nhau mà thành)15.
Tuy nhiên vì không dẫn nguồn văn bản Hán Nôm, có thể là do truyền khẩu từ dân gian nên khó xác định có phải thuộc giai thoại Đoàn Thị Điểm hay không. Riêng về các giai thoại đối đáp giữa Đoàn Thị Điểm và Trạng Quỳnh đã được Đăng khoa lục sưu giảng nhắc đến (Nguyễn Quỳnh và Nguyễn Thị Điểm), vậy ít nhất các giai thoại Đoàn Thị Điểm và Trạng Quỳnh đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XVIII. Sau này được ghi chép trong Sự tích ông Trạng Quỳnh, như câu đối nổi tiếng của bà Điểm: “Da trắng vỗ bì bạch” nhưng những giai thoại này vì không có căn cứ lịch sử và có thể thuộc sáng tác hư cấu dân gian, mang sắc thái dung tục, châm biếm16 cho nên chúng tôi không kể ra.
Đ.V.T
(TCSH450/08-2026)
--------------------
1 Nhuận sắc: thêm vào cho đẹp; sửa sang lời văn cho hay, cho đẹp.
2 點 là tên của bà Điểm, 輪 là tên của người anh là Luân. Dị bản: Tang thương ngẫu lục: 臨池玩月隻輪轉作雙輪; Đăng khoa lục sưu giảng: 臨池洗足隻輪轉作雙輪; Nam thiên trân dị tập và Đại Nam hiển ứng truyện: 臨池玩月隻輪轉作重輪; Đại Nam kỳ truyện: 適池泛月隻輪轉作重輪.
3 Hai câu này đều trích từ sách Trung Dung 中庸. Dị bản: Đại Nam hiển ứng truyện, Nam thiên trân dị tập: 堯之功固不鉅乎.
4 Theo Đại Việt sử ký tục biên: năm 1726, bấy giờ người đỗ thi Hương phần nhiều nhờ người gà văn cho, lấy đỗ một cách quá lạm. Chúa Trịnh bèn ra lệnh thi lại Cống sĩ. Vậy chuyện Đoàn Thị Điểm làm hộ văn có thể xác thực.
5 霞蒸: ráng mây đỏ ám chỉ 絳衣 (áo đỏ tía); 日出: mặt trời mọc ám chỉ 大冠 (mũ lớn).
6 Trần Danh Tân: Bia Văn Miếu Bắc Ninh, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ: Niên hiệu Vĩnh Hựu thời Lê khoa Bính Thìn (1736), Trần Danh Tân 陳名濱 người xã Bồng Trì huyện Gia Định, làm Đô Ngự sử, tặng Thị lang, theo Viện nghiên cứu Hán Nôm, Bia Văn miếu Bắc Ninh, nguồn: http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=1331&Catid=560
7 Vũ Toại: tức Vũ Diệm, Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 5 (1739), Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân: Vũ Diệm 武琰 người xã Thổ Vượng huyện Thiên Lộc, Tri phủ. Theo Gia phả Vũ tộc ở xã Vượng Lộc, huyện Can Lộc được ghi chép vào năm Cảnh Hưng thứ 48 - 1787, cho biết ông Vũ Diệm còn có tên là Vũ Toại, hay Vũ Viêm sinh năm Ất Dậu, Chính Hòa thứ 26 (1705) tại làng Đông Hòa, xã Thổ Vượng, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An, nay thuộc xóm 13, xã Vượng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Năm Bảo Thái thứ 10 (1729) ông dự kỳ thi hương đậu đầu (giải nguyên). Năm Vĩnh Khánh thứ 4 (1732) triều đình mở khoa thi hoành từ, ông đã dự thi và đứng đầu, được bổ vào chức Thị nội, tức là người giúp việc giấy tờ ở trong phủ chúa Trịnh. Năm Vĩnh Hựu thứ 5 (1739) đời vua Lê Ý Tông, Vũ Diệm dự kỳ thi hội được xếp thứ nhì. Đến kỳ thi đình (cùng năm) sau đó, quan chấm quyển tính điểm tâu xin lên vua ban cho Vũ Diệm vào hạng Đệ nhất giáp Đệ nhị danh (tức Bảng nhãn). Nhưng khi vua cầm bút ngự phê thì sơ ý ghi nhầm thành: Đệ nhị giáp, Đệ nhất danh (tức là Hoàng Giáp - tụt mất một bậc so với nhất giáp), theo Ngọc Bé, Cuộc đời và sự nghiệp của danh nhân văn hóa Vũ Diệm, nguồn: https://hatinh24h.com.vn/so-luoc-cuoc-doi-va-su-nghiep-cua-danh-nhan-van-hoa-vu-diem-tin-a20111.html.
8 Theo Nam thiên trân dị tập: Đỗ Huy Kỳ ở xã Thử Cốc, huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hóa, Thám hoa năm Tân Hợi (1731), Nguyễn Bá Lân ở xã Cổ Đô, huyện Tiên Phong, trấn Sơn Tây, Tiến sĩ năm Tân Hợi (1731).
[Đỗ Huy Kỳ (1695-1748): người xã Thử Cốc, huyện Thụy Nguyên (nay thuộc xã Thiệu Tâm huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa). Đỗ Thám hoa niên hiệu Vĩnh Khánh thứ 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường. Làm quan đến Thừa chánh sứ, tước bá. Theo Đinh Khắc Thuân, “Người đỗ đại khoa và bài thi Tiến sĩ thời Lê - Trịnh”, Tạp chí Hán Nôm, số 4/2009. Nguyễn Bá Lân: sinh năm Tân Tỵ (1701), niên hiệu Chính Hòa thứ 22 triều vua Lê Hy Tông. Quê gốc ở làng Hoài Bão, huyện Tiên Du (Bắc Ninh), có ông tổ 3 đời “giỏi địa lý, thích phong thủy làng Cổ Đô” (huyện Tiên Phong, Sơn Tây - nay là huyện Ba Vì, Hà Tây) “mới dời đến ở đó”. Năm Tân Hợi (1731) đỗ Tiến sĩ, cùng khoa với Nguyễn Nghiễm, theo Lại Văn Hùng, “Về hai bài phú của Nguyễn Bá Lân”, Tạp chí Hán Nôm, số 1/2007.]
9 Tân lang 檳榔: trầu cau, tượng trưng cho việc cưới hỏi. Có người cho Tân lang 檳榔 trùng âm với tân lang 新郎: chàng rể nhưng vì tự dạng quá khác nhau nên chúng tôi không nghĩ bà Điểm vụng về như vậy.
10 心腹: tim, bụng, nghĩa bóng là người tâm phúc, đáng tin cậy; 股肱: đùi và cánh tay, nghĩa bóng là bề tôi, trợ thủ đắc lực. Dị bản: Đại Nam hiển ứng truyện: 談調古今心腹友; Sơn cư tạp thuật: (không nói gặp Nguyễn Công Hãng) 談笑古今心腹客; 扶持左右股肱人; Quốc văn tùng ký: 追隨左右股肱臣.
11 Đại Việt sử ký tục biên: tháng 8 năm Long Đức 3 (1734), sai quan hầu mệnh là Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Tông Quai đem bọn Đồng Trung Thư, Nguyễn Đình Bảng, Nguyễn Đăng Cao đến trước ở cửa quan Lạng Sơn nghênh tiếp sứ Trung Quốc sang sách phong. Tháng 11, sứ nhà Thanh là bọn Khởi cư chú Hàn lâm viện thị giảng học sĩ kiêm tá lĩnh Xuân Sơn, Binh khoa cấp sự trung lý Học Dụ sang nước ta. Ngày mùng 9 tháng chạp (tức 2/1/1735) làm lễ sách phong. Trùng với thời điểm Đoàn Thị Điểm vào phủ Chúa dạy học cho con của một cung nhân (Đoàn thị thực lục). Như vậy sự kiện sứ Thanh liên quan giai thoại Đoàn Thị Điểm là phù hợp.
12 一寸土: một tấc đất, ý tục chỉ phần kín của phái nữ, dùng để trêu ghẹo bà Điểm. 由此途出: đều từ chỗ ấy mà ra, ý tục ám chỉ các ông cũng từ chỗ ấy (1 tấc đất) chui ra. Dị bản: Nam thiên trân dị tập: 北國两大夫皆由此途出; Đại Nam hiển ứng truyện: 北朝士大夫多由此途出; Quốc văn tùng ký: 北國大丈夫多由此途出; Xuyết thập tạp ký: 南邊一寸地不知幾人耕, 北國二大夫皆由此途出; Sự tích ông Trạng Quỳnh: 事跡翁狀瓊: 北國大丈夫皆由此途出.
13 Hai câu đối đều lấy từ sử sách Trung Hoa. Quý 季 là tên húy của Hán Cao Tổ Lưu Bang. Vũ 禹 là vua Đại Vũ nhà Hạ.
14 雙月: 2 chữ nguyệt 月 ghép lại là chữ Bằng 朋, bằng hữu. 半風 là nửa làn gió, nửa chữ Phong 風 tức là chữ Sắt 虱, con rận.
15 亥 và 子 ghép lại thành 孩. 巳 và 酉 ghép lại thành chữ
(dị thể của 配).
16 Có khả năng từ giai thoại đối xướng giữa sứ Trung Hoa và Đoàn Thị Điểm có thâm ý thô tục, khinh mạn nên người đời sau mới sáng tác nên những giai thoại hư cấu đối xướng tục tĩu, châm biếm giữa Trạng Quỳnh và Thị Điểm.
_________________
Tài liệu tham khảo:
1. Đoàn thị thực lục (theo Một điểm tinh hoa - Thơ văn Hồng Hà nữ sĩ, Trần Thị Băng Thanh (dịch - phiên âm), Nxb. Phụ nữ, 2017).
2. Đại Nam hiển ứng truyện 大南顯應傳 A.386, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
3. Đại Nam kỳ truyện 大南奇傳, Sơn cư tạp thuật 山居雜述, Nam thiên trân dị tập 南天 珍異集, Hát Đông thư dị 喝東書異, theo Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tập thành 越南漢文小說集成, nguồn: https://tuantdtcn.blogspot.com/2020/06/pdf-viet-nam-han-van-tieu- thuyet-tap.html
4. Đạm Nguyên (dịch), Đăng khoa lục sưu giảng, Bộ Giáo dục - Trung Tâm Học Liệu xuất bản, 1968.
5. Nhật Nham Trịnh Như Tấu, Hưng Yên địa chí, Nhà in Ngô Tử Hạ, in lần thứ hai, năm 1937.