TRUNG SƠN
Nhiều năm qua, công viên quanh đình Thương Bạc là một địa chỉ Hội Xuân thu hút hàng vạn người. Cho đến xuân 2026, công trình văn hóa tọa lạc bên bờ bắc sông Hương này có tuổi thọ tròn 90 năm.
Hơn mười năm trước, nhà nghiên cứu Huế Nguyễn Đắc Xuân, chuyển cho nhà văn Nguyễn Khắc Phê bức ảnh vừa tìm thấy chụp Lễ Khánh thành đình Thương Bạc Huế năm 1936, trong số người dự lễ có thân phụ nhà văn - cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889 - 1954), đương chức Phủ Doãn Thừa Thiên (sau đây xin gọi tắt là “cụ Hoàng”), là tác giả 4 câu đối được khảm xà cừ trên 4 cột trụ cao ở đây. Thông tin này đã được công bố trong cuốn sách “60 năm tưởng nhớ Thầy” (Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Khắc Phê, Nxb. Thuận Hóa, 2014). Do cuốn sách không phát hành rộng, nên gần đây, có thông tin cho rằng 4 câu đối ở đình Thương Bạc xuất hiện năm 1937, do tác giả dựa vào các nguồn tư liệu chưa được kiểm chứng. Về thời điểm các sự kiện cũng như năm sinh các nhân vật lịch sử xa xưa có tình trạng ghi không nhất quán trên sách báo cũng là chuyện thường - do tư liệu không đầy đủ, mặt khác còn tùy theo cách tính lịch âm hay dương, hoặc phải khai thêm tuổi để đủ điều kiện đi thi. Đây cũng là trường hợp của nho sinh Nguyễn Khắc Niêm. Theo bia tiến sĩ ở Văn Miếu Huế thì cụ Hoàng sinh năm Bính Tuất (1886), nhưng thực ra cụ sinh năm Kỷ Sửu (1889). Nhân đây cũng cần “đính chính”: cụ Hoàng chỉ giữ chức Phủ Doãn Thừa Thiên 2 năm 1936 và 1938. (Cuốn sách viết về “Cụ Hoàng Hương Sơn” khi in lần đầu năm 1997, do dựa theo cuốn “Souverains et Notabilités d’Indochine” - 1943 đã ghi: Cụ “giữ chức Phủ Doãn Thừa Thiên khoảng từ năm 1935 - 1939”). Sau này, khi tìm thấy tấm bia đá cổ khắc tên toàn bộ các vị từng giữ chức Phủ Doãn tại ngôi miếu phía sau trụ sở UBND thành phố Huế hiện nay, mới khẳng định thời điểm như trên…
Viết về di tích lịch sử phải dẫn thêm tư liệu cho chính xác, chứ nói đến Thương Bạc Huế, điều mà nhiều bạn đọc muốn hiểu rõ là 4 câu đối chữ Hán có ý nghĩa gì mà được gắn trên một địa chỉ đặc biệt như ông Nguyễn Đắc Xuân từng viết: “Ai đến Huế cũng đi qua đình Thương Bạc soi mình trên sông Hương ngay trước cửa Thượng Tứ, nhưng Thương Bạc là gì và ý nghĩa những câu đối chữ Hán khảm trên 4 cột trụ cao vút trước đình Thương Bạc ra sao?…” (Sách “700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân Huế” - Nxb. Trẻ, 2009). Những năm gần đây, khi nói đến cụ Hoàng, sách báo thường dẫn “Tứ tôn châm” là kế sách dựng nước mà vị tân tiến sĩ dâng lên vua Thành Thái, nội dung vẫn còn tính thời sự, lại ngắn gọn dễ nhớ: “Tôn tộc đại quy/ Tôn lộc đại nguy/ Tôn tài đại thịnh/ Tôn nịnh đại suy”. Nay nhân di tích Thương Bạc tròn 90 năm tuổi thọ, xin giới thiệu thêm di sản hiếm hoi của cụ Hoàng để lại ở đây.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, trong bộ sách đã dẫn, định nghĩa: “Thương là bàn luận, Bạc là nơi đò đậu. Thương Bạc là cơ quan của triều Nguyễn… có nhiệm vụ bàn luận ngoại giao với người ngoại quốc.” Ông Xuân cho biết thêm, từ thời vua Gia Long, Minh Mạng, có một cơ quan gọi là “Cung quán” ở gần Mang Cá, để đón tiếp sứ thần các nước; đến năm 1875, do e ngại người ngoại quốc vào sâu trong Kinh thành do thám, nên vua Tự Đức cho dời Cung quán ra vị trí rạp Hưng Đạo ngày nay và đặt tên là Thương Bạc. Còn theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia), sau khi Kinh đô Huế thất thủ (1885), Tòa Thương Bạc không được dùng làm nơi đón các sứ giả nước ngoài, mà lần lượt sử dụng vào các mục đích khác, trước khi bị bỏ hoang… Cho đến năm 1936, vua Bảo Đại cho dựng đình Thương Bạc để ghi nhớ di tích Tòa Thương Bạc ngày trước.
Về ý nghĩa 4 câu đối, cũng trong cuốn sách đã dẫn, ông Xuân giải thích bằng cách dẫn bản tạm dịch của nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh; nội dung phần tiếp theo sẽ nói rõ.
Với một di tích có bề dày lịch sử như thế, lại được dựng tại vị trí “vàng” của Huế, tôi bỗng hình dung… 90 năm trước, trong Kinh thành Huế hẳn là có không ít cuộc họp bàn các đại quan để chọn người đủ khả năng, uy tín viết 4 câu đối ở Thương Bạc. Với các nho sĩ, việc viết tặng câu đối, hoành phi cho một nhà thờ, một ngôi đình cũng phải đắn đo suy tính, nhưng dù sao đó chỉ là chuyện trong làng, trong huyện, ít người đủ “chữ nghĩa” để chất vấn, khen chê; còn câu đối trưng ra trên các trụ biểu cao ngất giữa kinh đô sẽ phải chịu sự bình phẩm, phán xét của thiên hạ và trước hết là của rất nhiều bậc thức giả trong cả nước qua nhiều năm tháng.
Chuyện đã qua gần một thế kỷ, chẳng còn ai chứng kiến để biết thực hư ra sao. Nhân ngày xuân, vẩn vơ đặt giả thiết này nọ cho vui. Điều chắc chắn là cụ Hoàng đã phải trải qua nhiều đêm mất ngủ, đắn đo khi nhận trách nhiệm vinh dự mà cũng đầy thách thức để rồi càng phải lao tâm khổ tứ tìm cho được chữ nghĩa tương xứng với vẻ đẹp và những giá trị văn hóa của Huế, của sông Hương. Có lẽ cụ Hoàng đã được chọn vì đương chức Phủ Doãn Thừa Thiên và là nhà khoa bảng có học vị cao nhất thời đó; hơn nữa, cụ đã kinh qua nhiều công việc, đủ bản lĩnh để đảm đương sứ mệnh tuy chỉ là sắp đặt 76 con chữ, nhưng đâu dễ được các học giả và mọi người “tâm phục khẩu phục”. Vậy nên xin “trích yếu” vài dòng về tiểu sử tác giả, trước khi giới thiệu kỹ về chữ nghĩa 4 câu đối ở Thương Bạc, trải qua 90 năm mưa nắng và chiến tranh, vẫn bền vững, nguyên vẹn như ngày mới khánh thành.
Cụ Nguyễn Khắc Niêm đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ (thường gọi là Hoàng giáp) năm 1907; lại là người thi đỗ khi chưa đầy 20 tuổi, nên học giả Cao Xuân Dục (1843 - 1923), Thượng thư Bộ Học, người chủ trì nhiều công trình lịch sử, địa lý, pháp luật quan trọng thời Nguyễn, trong bức trướng tặng vị Hoàng giáp trẻ tuổi nhất (tức Nguyễn Quân) trong các kỳ thi giai đoạn đó đã viết: “…Khoảng 15 tuổi, mũi kiếm sắc mới thử một lần, văn chương hầu như đã hợp quy cách song quan giám khảo mùa thu (tức thi Hương) cho rằng tuổi còn quá nhỏ nên gác lại… Quả nhiên, mùa thu năm ngoái thi Hương một lần là đỗ, được đặc cách vào thẳng Kinh đô thi Hội mà không cần địa phương tiến cử, và mùa Xuân năm nay, mới 19 tuổi, đã đỗ liền thủ khoa… Người có đức thì lời văn thuần nhất, người có học vấn thì tri thức toàn diện, người có lý lẽ minh bạch thì sách luận khúc chiết. Ở Nguyễn Quân hội đủ tất cả những điều trên…”. Trước khi được cử giữ chức Phủ Doãn Thừa Thiên năm 1936, cụ Hoàng từng là Tư nghiệp (Hiệu phó Quốc Tử Giám), Tham Tri (như là Thứ trưởng) Bộ Hình, Tuần Vũ Khánh Hòa… Cụ còn tham gia ban giám khảo các kỳ thi… Sau khi được cử giữ chức Quyền Tổng đốc Thanh Hóa (1942), chán cảnh làm quan nước thuộc địa, cụ xin về hưu sớm khi mới 53 tuổi. Sau Cách mạng Tháng 8, cụ hoạt động trong các đoàn thể từ xã, huyện, tỉnh cho đến Ủy viên Ủy ban Liên Việt khu 4 (tương tự như Mặt trận Tổ quốc hiện nay).
Có lẽ cũng nên biết thêm vì sao cụ không ngồi ghế Phủ Doãn Thừa Thiên liên tục từ 1936 - 1938. Người biết rõ thông tin sự việc này là bác Lê Văn Yên, con trai họa sỹ Lê Văn Miến; khi cụ Miến làm Tế Tửu Quốc Tử Giám thì cụ Niêm làm “Phó” (Tư Nghiệp) nên thông tin bác Lê Văn Yên cung cấp là chính xác. “Cũng khoảng thời gian 1936 - 1937, cụ làm Phủ Doãn Thừa Thiên, chức quan đầu tỉnh ở kinh đô triều Nguyễn, có viên tri huyện Phú Vang là TTK, xài hoang tiêu lạm hết tiền thuế của dân nộp, bày mưu đốt xe ở Đập Đá, rồi nói xe chở tiền thuế bị cháy; mưu bị lộ; cụ chẳng như ai kết tội riêng cho thuộc hạ, mà tự nhận lấy lỗi của mình bất minh, tự ý xin thôi quan, không chịu làm Phủ Doãn nữa. Người đương thời ai ai cũng lấy làm cảm phục.” “Sự cố” trên đã in trong sách Cụ Hoàng Hương Sơn Nguyễn Khắc Niêm (Nguyễn Đắc Xuân, Nxb. Thuận Hóa, 2012) nhưng chỉ hiện diện ở phần chú thích một câu trong bài thơ “Nhớ cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc”, nên nhiều người chưa biết. Như thế là sau một năm từ chức, năm 1938, triều đình lại cử cụ về Phủ Doãn.
*
Trước khi “giải nghĩa” bốn câu đối, mời bạn xem 4 câu đối chữ Hán hiện vẫn còn nguyên vẹn:
![]() |
CÂU ĐỐI TRÊN CỘT TRỤ THƯƠNG BẠC HUẾ
Để tiện theo dõi tiếp, xin tạm đánh số 4 câu đối như sau:
(I). Câu đối trên 2 cột ngoài (mặt phía Thượng Tứ):
Phiên âm:
Vương hội đồ khai, chu xa bức tấu,
Thần kinh cảnh thắng, sơn thủy cao thanh.
Tạm dịch:
Tranh vương hội mở màn, thuyền xe tấp nập,
Cảnh thần kinh đẹp đẽ, non nước thanh cao.
(II). Câu đối trên 2 cột ngoài (mặt phía sông Hương):
Phiên âm:
Cận thủy lâu đài, hướng dương hoa thảo,
Mê tân kha hạm, phốc địa lư diêm.
Tạm dịch:
Lâu đài ven mép nước, hoa cỏ ngóng ánh xuân tươi,
Thuyền nôốc bến sông mê, xóm làng bủa đầy mặt đất.
(III). Câu đối trên 2 cột giữa (mặt phía Thượng Tứ):
Phiên âm:
Vũ trụ thái hòa thiên, ngọc bạch y thường thử hội,
Kinh sư thủ thiện địa, thanh danh văn vật sở đô.
Tạm dịch:
Trời vũ trụ thái hòa, ngọc lụa áo xiêm hội ấy,
Đất kinh sư đẹp đẽ, tiếng tăm văn vật đô này.
(IV). Câu đối trên hai cột giữa (mặt phía sông Hương):
Phiên âm:
Trụ đối Ngự Bình cao, vạn cổ cương thường đặc lập,
Môn y kinh khuyết cận, tứ phương thị thính nhất tân.
Tạm dịch:
Trụ sánh Ngự Bình cao, muôn thuở cương thường vững chãi,
Cổng nương kinh khuyết cận, bốn phương nghe thấy thêm tươi.
Nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh là người đã “tạm dịch” 4 câu đối ở trên và đã in trong sách Cụ Hoàng Hương Sơn Nguyễn Khắc Niêm. Do sách không đưa ra thị trường, nên nhiều người chưa biết. Mặt khác, việc dịch câu đối rất khó - phải thông thạo Hán - Nôm “cỡ” như ông Trần Đại Vinh mới dịch được như thế. Tuy vậy, do chữ Hán thường súc tích, nhất là trong câu đối và thơ Đường, diễn tả được hết ý nghĩa thì phải dài dòng, để giữ hình thức gần dạng một câu đối tiếng Việt thì lại không đủ nghĩa. Nhiều bài thơ Đường của các nhà thơ nổi tiếng Trung Quốc, có đến mấy bản dịch ra Việt ngữ là vì thế. Với 4 câu đối Thương Bạc, nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh chỉ ghi là “tạm dịch” và có một số cụm từ để nguyên như phiên âm, nhiều người không hiểu nghĩa là gì (như “kinh khuyết cận”); hoặc “nhất tân” dịch là “thêm tươi” thì chưa ổn; cụm từ “hướng dương hoa thảo” (câu II) mà dịch là “ngóng ánh xuân tươi” thì chỉ là cách dịch “đại ý” mà thôi… Theo nhà thơ Nguyễn Phước Hải Trung, trong 4 câu đối, câu số 3 được nhiều người nhớ đến nhất; có lẽ một phần do câu đối này hiện diện ở mặt phía cửa Thượng Tứ, trên 2 cột trụ ở giữa, nên ai qua bờ bắc sông Hương đều thấy; hơn nữa, đọc theo phiên âm chữ Hán nghe cũng êm tai: “Vũ trụ thái hòa thiên, ngọc bạch y thường thử hội/ Kinh sư thủ thiện địa, thanh danh văn vật sở đô”. Và ông đề nghị dịch như sau:
“Trời vũ trụ thái hòa, ấy lúc phồn hoa áo xiêm ngọc lụa;
Đất Kinh sư tốt đẹp, này nơi văn vật tài danh.”
Như đã viết ở trên, với các chuyên gia Hán Nôm khác, sẽ có cách dịch khác. Dịch câu đối khó vậy đó, nên phải “dông dài” một chút.
*
Trong 4 câu đối, các câu số I, II, III, chỉ cần đọc phiên âm cùng với câu “tạm dịch” của nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh đã có thể nắm được ý nghĩa chủ yếu. Theo các chuyên gia Hán Nôm mà tôi tìm hỏi thêm thì câu IV (trên cột chính, mặt phía sông Hương) là có ý tứ hay nhất, sâu xa nhất nhưng cũng khó dịch nhất.
Vào lúc thời đại số lên ngôi, kể thêm chuyện này cũng vui. Một “lão sư” về Hán Nôm ở Hà Nội mà tôi nhờ dịch câu đối này đã “tham khảo“ thêm ý kiến một học trò - chuyên gia Hán Nôm trẻ tuổi. Không ngờ, cô học trò của “lão sư” đã tìm câu trả lời từ… AI. Nó đã trả lời như thế này: Câu hỏi về cặp câu đối ở đình Thương Bạc rất thú vị.
- Vế trước: “Trụ đối Ngự Bình cao, vạn cổ cương thường đặc lập”. Dịch nghĩa: Cột (đình) đối diện với núi Ngự Bình cao, muôn thuở nền nếp cương thường (đạo lý) vững vàng sừng sững.
- Vế sau: “Môn y kinh khuyết cận, tứ phương thị thính nhất tân”. Dịch nghĩa: Cổng dựa gần Kinh đô, bốn phương trông nghe (về đây) đều một (cảnh tượng) mới mẻ.
AI còn “hào phóng” giải nghĩa mở rộng các từ: “Trụ” vừa chỉ cột đình, vừa có nghĩa bóng là trụ cột của đạo lý... “Cương thường” là tam cương ngũ thường, tượng trưng cho trật tự xã hội và đạo đức Nho giáo… Còn “Nhất tân”: nghĩa gốc, trực tiếp là “Một (cảnh tượng) mới mẻ”. Nhưng “Nhất” ở đây không chỉ là số một, mà còn mang tính chất “toàn bộ, tất cả đều”. Kết hợp lại, “nhất tân” có nghĩa là “tất cả đều mới mẻ”, “thay đổi hoàn toàn, trở nên mới”…
Tất nhiên AI không biết vì sao có chữ “môn” (nghĩa là “cổng” hay “cửa”) ở câu đối này. Đình Thương Bạc trống tứ phía hiện nay làm gì có “môn”! Tôi cũng “thắc mắc” chuyện này nên nhân đến thăm chuyên gia Hán Nôm lão thành Lê Nguyễn Lưu - tác giả bộ tuyển dịch Thơ Đường gần ngàn trang, nay đã gần cửu tuần, mắt mờ, tai lãng, nhưng còn minh mẫn; ông vui vẻ nói: Dịch câu đối khó lắm, chỉ nên dịch nghĩa thôi. Chữ “môn” ở đây là cụ Hoàng Giáp gợi nhắc cửa Tòa Thương Bạc trước đây, hàm ý nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở cửa đối ngoại…
Sau khi tham khảo hết người đến máy (AI), tôi tạm đưa ra cách dịch nghĩa câu số 4 như sau:
“Bốn cột trụ Thương Bạc đối diện với núi Ngự Bình - biểu tượng (hoặc là sự nhắc nhở) kỷ cương, đạo lý đặc sắc, bền vững (của vùng đất này) cả nghìn đời - Cánh cửa Tòa Thương Bạc cạnh Kinh đô (là nơi), mỗi ngày đón thông tin, kiến văn mới từ bốn phương.”
Theo nghĩa trên đây, nói một cách “nôm na”, ý tứ câu đối này rất gần với nhận thức của chúng ta thời nay: Giữ vững cốt cách, truyền thống tốt đẹp ngàn năm của dân tộc, đồng thời phải biết mở cửa tiếp nhận cái hay của thiên hạ!
Cách dịch này chưa hẳn đã thật đúng và hay nhất. Chuyện dịch câu đối cũng như thơ Đường xưa nay đều vậy. Ngày xuân xin được “vẽ” chuyện “chơi chữ” của người xưa cho vui… Nếu như có bậc thức giả nào tìm được cách dịch đúng và hay nhất, chắc rằng ở nơi “cao xanh”, tác giả - cụ Hoàng Giáp - Phủ Doãn 90 năm trước cũng sẽ thích thú mỉm cười.
T.S
(TCSH444/02-2026)