PHAN THANH HẢI
Nhà vườn, nhà rường đặc trưng xứ Huế - nhìn từ bề mặt kiến trúc - có thể được nhận diện bằng những nếp mái, vì kèo, bờ nóc, bình phong, cổng ngõ, bằng cấu trúc “nhà - vườn - ngõ - hàng rào xanh” và nghệ thuật bài trí lấy thiên nhiên làm chuẩn mực.
Nhưng nhìn từ chiều sâu văn hóa, đó là một “thiết chế sống”: nơi nếp nhà nuôi dưỡng nếp người, nơi gia phong đi cùng địa thế, nơi thẩm mỹ gắn chặt đạo lý, nơi con cháu học cách giữ gìn “gia tài tổ tiên” bằng chính cách cư trú hằng ngày. Chính vì vậy, câu chuyện bảo vệ và phát huy giá trị nhà vườn, nhà rường ở Huế không thể chỉ dừng ở việc “tu bổ vài ngôi nhà” hay “đưa thêm vài tour tham quan”, mà phải đặt trong một chiến lược dài hơi: bảo tồn như một nguồn lực phát triển bền vững, và phát triển như một cơ chế nuôi sống công cuộc bảo tồn.
Nhà vườn, nhà rường là một bộ phận đặc biệt của di sản văn hóa Huế - không chỉ ở phương diện kiến trúc, mà còn ở giá trị lịch sử, cảnh quan và lối sống. Đó là không gian kết tinh hài hòa giữa con người và thiên nhiên, giữa tư duy phong thủy phương Đông với thẩm mỹ tinh tế của văn hóa Huế; là nơi lưu giữ nếp nhà, nếp vườn, nếp sinh hoạt gắn với truyền thống hiếu học, trọng đạo, trọng tình của cư dân đất Cố đô. Bảo vệ và phát huy giá trị nhà vườn, nhà rường vì thế không chỉ là bảo tồn một loại hình kiến trúc, mà là giữ gìn một phần cốt lõi của bản sắc Huế - một bản sắc làm nên “chất Huế” trong cảm nhận của cộng đồng cư dân lẫn du khách, học giới, và bạn bè quốc tế.
Trong nhiều năm qua, thành phố Huế đã có những chính sách cụ thể nhằm hỗ trợ bảo tồn nhà vườn, nhà rường, tiêu biểu là Nghị quyết số 26/2022/NQHĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, ban hành và triển khai từ năm 2022. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn mới, đặc biệt từ năm 2025 khi Huế chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, bối cảnh thể chế, tổ chức bộ máy và phân cấp ngân sách đã có những thay đổi căn bản. Chính những thay đổi này đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh, bổ sung chính sách hiện hành để bảo đảm tính hợp pháp, thông suốt và khả thi trong thực tiễn.
Việc UBND thành phố Huế trình HĐND thành phố ban hành nghị quyết sửa đổi, bổ sung chính sách bảo vệ và phát huy giá trị nhà vườn, nhà rường vì thế là rất kịp thời và cần thiết. Trước hết, đây là yêu cầu mang tính pháp lý - kỹ thuật nhằm cập nhật thẩm quyền, đầu mối quản lý và cơ chế phân bổ ngân sách trong điều kiện không còn cấp huyện. Nếu không kịp thời điều chỉnh, chính sách dù đúng về mục tiêu cũng khó triển khai, dẫn đến ách tắc trong giải ngân và hỗ trợ người dân. Nhưng điều quan trọng hơn nằm ở chỗ: nếu chỉ “sửa cho đúng thẩm quyền” mà không tận dụng cơ hội để rà soát, hoàn thiện cách tiếp cận, thì chính sách sẽ khó tạo ra lực đẩy mới trong bối cảnh những thách thức đối với nhà vườn, nhà rường ngày càng gia tăng: chi phí tu bổ tăng cao; thiên tai, biến đổi khí hậu khốc liệt hơn; áp lực đô thị hóa và biến động sinh kế làm thay đổi lựa chọn của người dân; trong khi đó, chủ thể sở hữu nhà vườn, nhà rường hầu như đều là tư nhân, với khả năng tài chính và điều kiện tiếp cận chính sách rất khác nhau.
Nhìn lại Báo cáo tổng hợp tình hình triển khai Nghị quyết số 26/2022/NQHĐND từ năm 2022 đến ngày 31/8/2025 của Sở Tài chính, có thể thấy khung chính sách đã được thiết kế tương đối đầy đủ: hỗ trợ trùng tu nhà chính; hỗ trợ tôn tạo, phát triển khuôn viên vườn; hỗ trợ tổ chức kinh doanh khai thác dịch vụ - du lịch (lưu trú, đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, truyền nghề; khảo sát xây dựng tua - tuyến); hỗ trợ quy hoạch - hạ tầng; hỗ trợ tài chính tín dụng. Phạm vi và “trọng điểm không gian” cũng đã được xác định rõ, tập trung ở Thủy Biều, Kim Long, Làng cổ Phước Tích (đối với nhà vườn), và Bao Vinh (đối với nhà rường). Đây là những địa bàn hội tụ đầy đủ cả yếu tố di sản vật thể (nhà, vườn, cấu kiện, cảnh quan) lẫn di sản phi vật thể (lối sống, nghề truyền thống, nghệ thuật ẩm thực - tiếp khách, tập quán canh tác vườn, tri thức bản địa về cây trái), tạo nên lợi thế khác biệt của Huế trên bản đồ đô thị di sản.
Đáng chú ý, chính sách không “đứng một mình” mà đi kèm hệ thống văn bản triển khai khá dày, từ cấp tỉnh/thành phố đến cấp địa phương: phê duyệt Đề án nhà vườn đặc trưng (Quyết định 3191/QĐ-UBND ngày 29/12/2023), Đề án nhà rường cổ Bao Vinh (Quyết định 1383/QĐ-UBND ngày 29/5/2024), cùng các kế hoạch triển khai và cơ chế tiếp nhận - chuyển tiếp nhiệm vụ sau khi tổ chức lại đơn vị hành chính. Khi Huế bước sang giai đoạn mới, yêu cầu quản trị di sản càng đặt ra rõ hơn: không chỉ “có chính sách” mà phải “vận hành được chính sách”, biến nguồn lực phân bố thành công trình hoàn thành, biến công trình hoàn thành thành sinh kế và sức hút văn hóa, và cuối cùng biến sức hút ấy thành nguồn tái đầu tư cho bảo tồn.
Bức tranh nguồn lực giai đoạn 2023 - 2025 là một lát cắt nhiều ý nghĩa để nhìn thẳng vào tính khả thi. Tổng nguồn vốn huy động thực hiện Nghị quyết giai đoạn 2023 - 2025 từ tất cả các nguồn đạt 193.008 triệu đồng; trong đó tổng ngân sách nhà nước 17.970 triệu đồng, còn lại thuộc các nguồn xã hội hóa và nguồn khác. Riêng cơ cấu theo năm cho thấy: năm 2023 tổng nguồn 71.140 triệu đồng; năm 2024 là 42.118 triệu đồng; năm 2025 là 79.750 triệu đồng. Những con số này phản ánh một thực tế quan trọng: để bảo tồn di sản cư trú như nhà vườn, nhà rường, “ngân sách tu bổ” chỉ là một phần; phần còn lại - đôi khi lớn hơn nhiều - nằm ở đầu tư hạ tầng, chỉnh trang không gian, lồng ghép chương trình đô thị, và đặc biệt là nguồn lực từ chính cộng đồng cư dân sở hữu di sản.
Nhưng mặt khác của bức tranh là “độ trễ thực thi”. Báo cáo nêu rõ: ngân sách thành phố năm 2023 và 2024 bố trí cho các địa phương là 8.000 triệu đồng đã bị hủy dự toán, nộp lại ngân sách do các địa phương không triển khai và giải ngân đúng tiến độ theo Luật Ngân sách. Đây không chỉ là một “vướng mắc kỹ thuật” mà là tín hiệu cảnh báo về năng lực tổ chức thực hiện ở cơ sở: nếu không tháo gỡ các nút thắt về thủ tục đầu tư, hồ sơ tu bổ, năng lực lập dự án - thẩm định - đấu thầu - giám sát; nếu không có đầu mối điều phối đủ mạnh và đủ chuyên môn; nếu thiếu cơ chế “cầm tay chỉ việc” cho chủ nhà, thì chính sách dù đúng vẫn dễ rơi vào tình trạng chậm, hụt, hoặc thực hiện nửa vời.
Sang năm 2025, sau khi giải thể Quỹ hỗ trợ, bảo vệ và phát huy giá trị nhà vườn Huế đặc trưng (Quyết định 1329/QĐ-UBND ngày 09/5/2025), quỹ đã nộp gần 2.040 triệu đồng vào ngân sách thành phố. Thành phố đã phân bố kinh phí thực hiện 2 đề án cho 3 địa phương với tổng ngân sách nhà nước cấp năm 2025 là 9.970 triệu đồng (Thuận Hóa 1.200 triệu; Phú Xuân 5.770 triệu; Phong Điền 3.000 triệu). Đến 31/8/2025, giải ngân ước 5.184 triệu đồng/9.970 triệu đồng, đạt 52%, còn tồn khoảng 4.786 triệu đồng. Con số 52% có thể đọc theo hai cách: tích cực ở chỗ guồng máy đã chạy và có sản phẩm cụ thể; nhưng cũng đặt ra yêu cầu cấp bách về cải cách quy trình để đồng vốn “đúng địa chỉ” không bị nghẽn ngay trên đường đi.
Ở chiều xã hội hóa - vốn là “xương sống” của bảo tồn di sản cư trú - báo cáo ghi nhận nguồn huy động từ chủ nhà vườn, nhà rường cổ khoảng 1.912 triệu đồng. Trong đó có những ví dụ rất đáng suy nghĩ: nhà vườn ông Phạm Đăng Thiêm ở Kim Long (loại 1) chủ động tự trùng tu, tôn tạo nhà chính khoảng 1.800 triệu đồng; nhà vườn ông Hồ Xuân Đài ở Thủy Biều chủ động cải tạo vệ sinh, thiết kế cải tạo vườn và mua cây giống 110 triệu đồng. Những con số không chỉ phản ánh “khả năng đối ứng” mà quan trọng hơn là phản ánh “tinh thần sở hữu di sản”: khi người dân tin rằng chính sách minh bạch, thủ tục rõ ràng, và di sản của họ có cơ hội chuyển hóa thành giá trị kinh tế - văn hóa, họ sẽ sẵn sàng tham gia như một chủ thể, không phải như người thụ hưởng thụ động.
Đáng chú ý nữa là nguồn lực lồng ghép. Báo cáo nêu: nguồn lồng ghép từ đầu tư công và Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐND, các chương trình khác khoảng 69.780 triệu đồng; riêng ở Phước Tích có dự án con đường gốm tổng mức đầu tư 69.500 triệu đồng, cùng hỗ trợ du lịch cộng đồng lũy kế 250 triệu và lớp tập huấn chế biến món Á Âu cho 25 học viên (30 triệu đồng). Đồng thời, các dự án thuộc Chương trình phát triển các đô thị loại II (đô thị xanh) tại Kim Long, Thủy Biều giai đoạn 2023 - 2024 đầu tư hạ tầng với tổng kinh phí 103.346 triệu đồng. Đây là hướng đi đúng: bảo tồn nhà vườn, nhà rường không thể tách khỏi hạ tầng đô thị, cảnh quan, thoát nước, giao thông mềm, không gian đi bộ, biển chỉ dẫn, bãi đỗ xe hợp lý… Một ngôi nhà đẹp không thể “tự tỏa sáng” nếu nằm trong một không gian lộn xộn, ngập úng, hoặc bị bức tử bởi xây dựng thiếu kiểm soát.
Kết quả cụ thể đến 31/8/2025 cho thấy chính sách đã tạo ra sản phẩm rõ ràng ở mảng tu bổ. Báo cáo cho biết đã thi công, hoàn thành trùng tu, tôn tạo 07 nhà vườn/nhà rường cổ với tổng kinh phí 6.572 triệu đồng (trong đó ngân sách nhà nước 4.692 triệu đồng, xã hội hóa 1.800 triệu đồng), phân bố: Kim Long 02 nhà vườn; Phước Tích 04 nhà vườn; Bao Vinh 01 nhà rường cổ. Danh mục và kinh phí từng trường hợp cũng được nêu cụ thể: Nhà thờ họ Lê Ngọc 783 triệu; Nhà thờ họ Trương Công 706 triệu; Nhà vườn Sử Kim Tiến 606 triệu; Nhà vườn Hồ Thị Thanh Nga 976 triệu (đều tại Phước Tích); Nhà vườn Nguyễn Thị Ngộ 740 triệu (Kim Long); Phủ Đức Quốc Công/nhà vườn Phạm Đăng Thiêm 1.800 triệu (xã hội hóa); Nhà rường Phan Thị Diệu Liên 881 triệu (Hóa Châu).
Ở mảng tôn tạo khuôn viên vườn - phần làm nên “hồn vía” nhà vườn Huế - bước đầu đã có hoạt động thiết kế cải tạo vườn, mua cây giống tại 02 nhà vườn (Kim Long và Thủy Biều) với nguồn xã hội hóa 80 triệu đồng; tại Phước Tích đang lập hồ sơ thiết kế cải tạo khuôn viên vườn và mua cây giống cho 09 nhà vườn. Điều này rất đáng mừng, nhưng cũng gợi một yêu cầu: chính sách cần nhấn mạnh hơn “chuẩn mực vườn Huế” (cấu trúc cây tầng cao - tầng trung - tầng thấp; hệ thống hàng rào xanh; ao, giếng, lối đi; cây bản địa; mùa hoa - mùa quả…) và đi kèm tư vấn kỹ thuật cảnh quan, để tránh tình trạng cải tạo theo thị hiếu ngắn hạn làm giảm bản sắc.
Mảng phát huy giá trị thông qua dịch vụ - du lịch đã có chuyển động nhưng còn khiêm tốn về quy mô. Tổng kinh phí thực hiện nhóm chính sách này là 604 triệu đồng (ngân sách nhà nước 292 triệu, xã hội hóa 312 triệu). Báo cáo ghi nhận một số nhà vườn đã chủ động khai thác tham quan, ẩm thực, lưu trú như Hồ Xuân Đài, Tôn Thất Phương, Hoàng Xuân Bậc, Hồ Xuân Doanh… Đặc biệt ở Phước Tích đã lồng ghép chính sách du lịch cộng đồng để hỗ trợ 02 nhà vườn (80 triệu đồng) và tổ chức 03 khóa tập huấn (hướng dẫn viên du lịch; truyền nghề bánh truyền thống; kỹ thuật chế biến món ăn Á Âu; nâng cao ngoại ngữ) với tổng 280 triệu đồng. Đồng thời có hoạt động truyền thông: phối hợp báo - đài thành phố xây dựng phim, phóng sự, chuyên trang quảng bá về nhà vườn, nhà rường và dịch vụ du lịch.
Nhưng báo cáo cũng chỉ ra khoảng trống lớn ở trụ cột “quy hoạch - hạ tầng cơ bản”: đến 31/8/2025, việc lập quy hoạch chi tiết đối với Kim Long, Thủy Xuân, Hóa Châu chưa triển khai; đầu tư hạ tầng cơ bản tại các địa bàn này cũng chưa triển khai. Đây là vấn đề cốt lõi, bởi nhà vườn và nhà rường không thể được bảo vệ lâu dài nếu xung quanh vẫn diễn ra tình trạng phân lô nhỏ, mật độ xây dựng tăng, kiến trúc “lạc giọng”, không gian công cộng thiếu, và dòng chảy du lịch thiếu tổ chức. Quy hoạch ở đây không phải để “vẽ” mà để “giữ”: giữ hành lang cảnh quan, giữ cấu trúc sinh thái vườn, giữ chiều cao - khoảng lùi, kiểm soát vật liệu - màu sắc, và quan trọng nhất là xác lập quyền phát triển hợp lý cho người dân sở hữu di sản (được sửa chữa đúng cách, được khai thác hợp pháp, được hưởng lợi công bằng).
Từ thực tiễn triển khai đề án đến ngày 31/8/2025, có thể thấy bài toán bảo vệ - phát huy nhà vườn, nhà rường không còn là câu chuyện “tốt hay không tốt”, mà là câu chuyện “làm thế nào cho đúng và cho trúng”. Một hạn chế dễ nhận thấy của chính sách hiện hành là vẫn thiên về hỗ trợ tài chính đơn thuần, trong khi những khó khăn lớn nhất của chủ nhà không chỉ nằm ở tiền. Nhiều gia đình sở hữu nhà rường xuống cấp không biết bắt đầu tu bổ từ đâu, tu bổ thế nào cho đúng kỹ thuật, tìm thợ ở đâu, xin phép ra sao, và sau khi tu bổ thì có được phép khai thác, phát huy giá trị hay không. Nếu chính sách chỉ dừng ở mức hỗ trợ một khoản kinh phí cố định, hiệu quả bảo tồn sẽ rất hạn chế; và nguy cơ lớn hơn là “bảo tồn nửa vời”: nhà vẫn còn đó, nhưng yếu tố gốc bị thay thế dần, không gian vườn biến dạng, trong khi động lực duy trì dài hạn không hình thành.
Do vậy, trong bối cảnh mới, chính sách bảo vệ nhà vườn, nhà rường cần chuyển mạnh từ tư duy “Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí” sang mô hình “Nhà nước đồng hành cùng chủ sở hữu tư nhân”. Ở mô hình này, Nhà nước không làm thay, nhưng đóng vai trò kiến tạo: xây dựng khung tiêu chí, cung cấp tư vấn kỹ thuật, hỗ trợ thủ tục, kết nối nguồn lực, đồng thời chia sẻ trách nhiệm với người dân thông qua cơ chế đồng tài trợ phù hợp. Cách tiếp cận ấy không chỉ hợp lý về quản trị, mà còn phù hợp với thực tiễn: nhà vườn, nhà rường là tài sản tư nhân; nếu người dân không thấy mình là chủ thể, không thấy việc giữ nhà - giữ vườn đem lại lợi ích tương xứng, thì không chính sách nào có thể đủ lực để “giữ di sản” bằng mệnh lệnh hành chính.
Bên cạnh hỗ trợ tài chính, điều người dân cần nhất nhiều khi là “hỗ trợ phi tiền tệ”. Việc xây dựng bộ mẫu kỹ thuật tu bổ nhà rường, danh mục cấu kiện truyền thống, hệ thống định mức - đơn giá tham khảo, danh sách thợ và đơn vị có năng lực… là những việc rất thiết thực, giúp người dân tránh được rủi ro tu bổ sai nguyên tắc hoặc bị đội giá. Song song với đó, cần thiết kế quy trình “một cửa” cho nhà vườn, nhà rường, rút ngắn thời gian thẩm định, cấp phép và nghiệm thu, bởi với tài sản tư nhân, thời gian kéo dài đồng nghĩa với chi phí và rủi ro tăng lên.
Một nội dung khác không thể thiếu là cơ chế bảo vệ khẩn cấp đối với nhà rường xuống cấp nặng sau thiên tai. Thực tế cho thấy, chỉ sau một mùa mưa lũ, nhiều nhà rường có thể bị hư hỏng nghiêm trọng; nếu không can thiệp kịp thời sẽ dẫn đến sập đổ, mất mát không thể phục hồi. Vì vậy, bên cạnh cơ chế hỗ trợ theo kế hoạch hằng năm, cần có nguồn dự phòng và quy trình can thiệp nhanh để gia cố, chống dột, chống sập trong những tình huống cấp bách.
Phát huy giá trị nhà vườn, nhà rường cũng là một yêu cầu tất yếu, nhưng phải được tiếp cận một cách thận trọng và nhân văn. Không thể áp đặt chủ nhà phải “làm du lịch” hay mở cửa đại trà, bởi đây trước hết vẫn là không gian sống của người dân. Chính sách cần định nghĩa rõ các mức độ phát huy, từ lưu giữ - số hóa tư liệu, tham quan hạn chế, sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đến khai thác du lịch di sản có điều kiện. Mỗi mức độ cần đi kèm tiêu chí cụ thể về an toàn, bảo tồn, môi trường và quyền riêng tư, để người dân có thể lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh của mình. Nói cách khác, phát huy không phải là “thương mại hóa giản đơn”, mà là tổ chức một dòng chảy giá trị hợp lý để di sản sống được trong đời sống hiện đại mà vẫn giữ được phẩm chất truyền thống.
Trong quá trình triển khai, vai trò của chính quyền cơ sở và các sở, ngành liên quan là hết sức quan trọng. UBND thành phố cần giữ vai trò điều phối, ban hành kế hoạch và danh mục hỗ trợ hằng năm; ngành văn hóa giữ vai trò “gác cổng” về giá trị di sản và nguyên tắc tu bổ; ngành tài chính bảo đảm cơ chế phân bổ, giải ngân minh bạch; ngành xây dựng, tài nguyên - môi trường tháo gỡ các vướng mắc kỹ thuật, đất đai; còn chính quyền xã, phường là lực lượng tuyến đầu trong việc kiểm kê, tuyên truyền, vận động và giám sát cộng đồng. Nếu thiếu sự vào cuộc đồng bộ này, chính sách rất dễ bị “đứt đoạn” giữa chủ trương và triển khai, giữa thiết kế trên giấy và thực tiễn đời sống.
Từ nền tảng thực tiễn, có thể khái quát một số hướng cần nhấn mạnh để nâng chính sách từ “hỗ trợ theo hồ sơ” lên “quản trị theo hệ sinh thái”. Con số 193.008 triệu đồng tổng nguồn huy động 2023 - 2025 cho thấy nguồn lực không nhỏ; vấn đề là tổ chức như một hệ sinh thái: (i) quy hoạch - kiến trúc - cảnh quan; (ii) tu bổ - bảo trì định kỳ; (iii) sản phẩm du lịch - dịch vụ; (iv) truyền thông - giáo dục cộng đồng; (v) cơ chế tài chính - khuyến khích đầu tư. Khi năm 2023 - 2024 đã từng bị hủy dự toán 8.000 triệu đồng vì chậm triển khai, bài học là phải có “đầu mối điều phối chuyên nghiệp” và một quy trình rút gọn, minh bạch cho các loại công việc lặp lại (khảo sát, lập thiết kế tu bổ, thẩm định, lựa chọn đơn vị thi công có kinh nghiệm với nhà rường).
Cũng cần chuyển trọng tâm từ “trùng tu xong” sang “vận hành được sau trùng tu”. Báo cáo ghi nhận 07 nhà đã hoàn thành tu bổ; đây là thành tựu, nhưng cần bảo đảm ngay sau khi hoàn thành phải có quy chế sử dụng, kế hoạch bảo trì, hướng dẫn phòng chống mối mọt - ẩm mốc, và đặc biệt là kịch bản khai thác mềm (tham quan theo giờ, trải nghiệm làm bánh - làm vườn, lớp học văn hóa Huế). Nếu không, công trình tu bổ dễ rơi vào “đẹp lúc khánh thành” nhưng thiếu động lực duy trì dài hạn.
Phát triển sản phẩm du lịch nhà vườn theo “chuỗi giá trị”, không theo “điểm lẻ”, cũng là một hướng cần đẩy mạnh. Các hoạt động hỗ trợ dịch vụ - du lịch mới ở mức 604 triệu đồng; trong đó đào tạo ở Phước Tích khá nổi bật (03 khóa, 280 triệu). Cần mở rộng mô hình này sang Kim Long - Thủy Biều - Hóa Châu: đào tạo hướng dẫn viên “tại chỗ”, ngoại ngữ giao tiếp, an toàn thực phẩm, thiết kế trải nghiệm; đồng thời kết nối nhà vườn với ẩm thực Huế, áo dài, nhã nhạc/ca Huế, nghề thủ công… để du khách không chỉ “xem nhà” mà “sống trong văn hóa Huế” vài giờ hoặc vài ngày.
Đặc biệt, quy hoạch chi tiết và đầu tư hạ tầng phải đi trước một bước, coi đó là điều kiện nền tảng. Việc chưa triển khai quy hoạch chi tiết ở Kim Long, Thủy Xuân, Hóa Châu chính là khoảng trống cần lấp sớm. Quy hoạch chi tiết, nếu làm đúng, sẽ là công cụ “giữ” - giữ hành lang cảnh quan, giữ cấu trúc sinh thái vườn, kiểm soát mật độ xây dựng, hình thái kiến trúc, vật liệu, màu sắc; và quan trọng hơn, xác lập quyền phát triển hợp pháp để người dân sở hữu di sản không bị đặt vào thế “không biết làm gì cho đúng”.
Cơ chế tài chính cũng cần linh hoạt hơn, thay vì chỉ trông vào “vay tín dụng” truyền thống. Báo cáo cho thấy chính sách hỗ trợ tài chính tín dụng hầu như không thực hiện do các nhà vườn không đăng ký/không có nhu cầu vay. Điều này dễ hiểu: người sở hữu di sản thường ngại rủi ro vay vốn nếu chưa chắc khai thác dịch vụ có doanh thu ổn định. Vì vậy cần nghĩ tới các công cụ khác: quỹ bảo tồn theo mô hình “đối ứng - đồng tài trợ”, tài trợ nhỏ cho bảo trì định kỳ, ưu đãi phí/lệ phí với hộ gia đình mở cửa phục vụ tham quan đúng chuẩn, hoặc cơ chế đặt hàng truyền thông - giáo dục cộng đồng để tạo dòng tiền gián tiếp cho chủ thể di sản.
Cuối cùng, kế hoạch 2026 là một cơ hội để chuyển từ giai đoạn “khởi động” sang giai đoạn “tăng tốc có kiểm soát”. Báo cáo đã nêu kế hoạch 2026 ngân sách thành phố bố trí 7.450 triệu đồng cho 4 địa phương (Phong Dinh 2.150; Thủy Xuân 1.500; Kim Long 800; Hóa Châu 3.000). Đồng thời, kế hoạch đến 31/12/2026 dự kiến tổng kinh phí 30.168 triệu đồng; trong đó riêng nhóm trùng tu - tôn tạo dự kiến 11.390 triệu đồng cho 11 nhà (trùng tu nhà chính 9.950 triệu; tôn tạo khuôn viên 1.440 triệu). Danh mục 07 nhà rường Bao Vinh dự kiến hỗ trợ thủ tục đầu tư trùng tu (tổng 7.150 triệu), cùng 04 nhà vườn Phước Tích (2.800 triệu)… cho thấy “đích đến” đã khá rõ. Điều cần nhấn mạnh là: phải có cam kết về tiến độ - chất lượng - hiệu quả sau đầu tư; có cơ chế giám sát cộng đồng; có bộ tiêu chí đánh giá phát huy giá trị (lượng khách, doanh thu dịch vụ, số lao động địa phương tham gia, mức độ hài lòng, mức độ bảo tồn yếu tố gốc, và chỉ số “sống được với di sản”).
Nhà vườn, nhà rường Huế là một “di sản sống”, mà đã là di sản sống thì không thể bảo tồn bằng tư duy “đóng băng”, càng không thể phát huy bằng tư duy “thương mại hóa giản đơn”. Bảo vệ đúng nghĩa là giữ được yếu tố gốc, giữ được không gian và hệ sinh thái văn hóa; phát huy đúng nghĩa là làm cho di sản tiếp tục có ích trong đời sống hôm nay, tạo sinh kế cho người gìn giữ di sản, tạo sức hút cho đô thị, và tạo ra nguồn lực quay lại cho bảo tồn. Những con số trong báo cáo - từ 193.008 triệu đồng huy động 2023 - 2025, đến 07 công trình đã hoàn thành, đến tỷ lệ giải ngân 52% năm 2025, đến kế hoạch 30.168 triệu đồng đến 2026 - đều đang nói với chúng ta một điều: Huế đã có khung chính sách, đã có bước khởi động và những kết quả cụ thể; việc còn lại là nâng năng lực thực thi, tháo nghẽn quy hoạch - thủ tục, và tổ chức phát huy giá trị theo mô hình hệ sinh thái.
Bảo vệ và phát huy giá trị nhà vườn, nhà rường xứ Huế trong bối cảnh mới vì thế không chỉ là câu chuyện sửa một nghị quyết, mà là bài toán tổng hợp về tư duy chính sách, cách tiếp cận di sản và mối quan hệ giữa Nhà nước với người dân. Nếu làm tốt, Huế không chỉ giữ được những ngôi nhà rường, khu nhà vườn quý giá, mà còn giữ được linh hồn của đô thị di sản - nơi truyền thống và hiện đại có thể chung sống hài hòa, bền vững. Và khi đó, nhà vườn - nhà rường sẽ không chỉ là “ký ức đẹp” của một Cố đô, mà thực sự trở thành một trụ cột mềm nhưng bền của kinh tế di sản, một không gian văn hóa giúp Huế bước vào tương lai mà vẫn giữ được chính mình.
P.T.H
(TCSH447/05-2026)
________________
Tham khảo:
1. Sở Tài chính thành phố Huế (2025), Báo cáo tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 26/2022/NQ-HĐND ngày 08/12/2022 của HĐND tỉnh ban hành quy định “Một số chính sách hỗ trợ, bảo vệ và phát huy giá trị nhà vườn đặc trưng, nhà rường cổ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”.
2. Phan Thanh Hải (2009) “Nhà rường Huế”, in trong tạp chí Di sản văn hóa của Cục Di sản văn hóa, số 26.