Tác giả-tác phẩm
Cái buồn trong thơ Nguyễn Nhược Pháp
08:32 | 19/03/2026

NGUYỄN XUÂN PHƯƠNG

Nói đến thơ Nguyễn Nhược Pháp, người ta thường nói tới cái vui tươi, cái hóm hỉnh, hầu như không nghe ai nói tới cái buồn trong thơ anh.

Cái buồn trong thơ Nguyễn Nhược Pháp
Nhà thơ N. Nhược Pháp vẽ bởi Tam Xuyên - Nguồn ảnh: T.Trung Sáng (Báo Đà Nẵng)

Hoài Thanh viết: "Nguyễn Nhược Pháp đã làm sống lại cả một thời xa xưa gồm những màu sắc tươi vui, những hình dáng ngộ nghĩnh. Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đang khúc khích cười... Nguyễn Nhược Pháp chỉ muốn tìm những cảnh, những tình có thể mua vui" (Thi nhân Việt Nam).

Năm 1987 khi in lại "Ngày xưa" Nhà xuất bản Văn học cũng có những nhận xét tương tự: "Nguyễn Nhược Pháp dựng lại một thế giới dĩ vãng, nhưng không phải một dĩ vãng buồn thảm quạnh hiu và đậm màu tiếc nuối. Những chuyện ngày xưa ấy đã được ông kể lại bằng một giọng điệu đầy vui tươi hóm hỉnh."

Chúng tôi cho rằng những nhận xét trên đây chỉ đúng một nửa. Trong số mười bài thơ ít ỏi để lại cho đời của Nguyễn Nhược Pháp, có thể nói một nửa là thơ buồn. Đó là chưa kể ngay cả trong các bài thơ vui, cũng đan chéo những khổ thơ, những câu thơ buồn, rất buồn nữa là khác. Nhận xét trên đây của Hoài Thanh và của Nhà xuất bản Văn học chỉ đúng với các bài thơ: Sơn tinh, Thủy tinh - Chùa Hương - Đi cống - Tay ngà - Một buổi chiều xuân, còn lại các bài thơ: Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống, Mỵ Ê - Mỵ Châu - Giếng Trọng Thủy là những bài thơ buồn.

Cảm động nhất là bài thơ Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống:

Nhà tan, nước mất, chàng đi thôi
Thiếp nén lòng đau khóc nghẹn lời
Chậm bước đành nương mình bóng Phật
Màng tin trông ngóng nhạn chân trời.
Chuông đồng cảnh vắng, hồn mơ sảng
Trăng lạnh đêm sâu, cú đổ hồi.
Thê thảm chàng đi, về có vậy.
Thiếp chờ ai nữa? Hỡi chàng ơi!

Về hình thức, bài thơ này theo thể thất ngôn bát cú, các câu 3, 4, 5, 6 phải đối nhau, dễ rơi vào công thức ước lệ nhàm chán, nhưng ở đây, với lời thơ chân thành, nhà thơ đã khái quát được cảnh ngộ tâm trạng của hoàng phi không theo kịp xa giá, phải đi tu rồi tiếp đó tự sát theo chồng sau khi rước về làm lễ mai táng linh cữu Lê Chiêu Thống từ Trung Quốc đưa về nước. Có thể nói mỗi câu, mỗi chữ ở đây là một giọt lệ, một giòng lệ của người vợ ngày đêm mong chồng và cuối cùng thì tuyệt vọng. Chỉ có một câu, một lần kêu khóc ông vua cuối cùng của nhà Lê mạt, mà nghe não nuột tội nghiệp lạ thường: "Thiếp chờ ai nữa? Hỡi chàng ơi!". Đó là lời than khóc kết thúc một thời, một cảnh khắc khoải trông mong mà cũng kết thúc luôn cả đời người vương phi bạc mệnh.

Bài thơ "Mỵ Châu" gồm ba đoạn. Đoạn một tả Mỵ Châu nằm chết một mình trên bờ biển cạnh núi Dạ Sơn (Thuộc xã Cao Xá, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) mà tưởng chừng như đang thiêm thiếp chờ người yêu - giữa cảnh lạnh lùng cô quạnh chỉ có trời, biển, trăng, sao, sương gió với tiếng kêu của chim muông. Đoạn hai và ba là cảnh Trọng Thủy chạy theo tìm Mỵ Châu và cuối cùng chỉ thấy xác nàng bên đường, đồng thời cũng nói lên nỗi niềm chờ mong trách móc của Mỵ Châu đối với Trọng Thủy cùng với bao nhiêu kỷ niệm ân ái một thời. Nhưng dù có phải chết bất đắc kỳ tử, Mỵ Châu vẫn "Phơn phớt hồn em bay, ngậm cười". Ý chừng nhà thơ muốn chứng minh tấm lòng trong trắng của Mỵ Châu vì tin người yêu nên bị lừa mà mắc tội với cha và Tổ quốc. Sử chép rằng, trước khi bị vua cha giết chết, Mỵ Châu khấn rằng: "Trung tín trọn đời, bị người đánh lừa, xin hóa thành ngọc châu để rửa thù nhục này", cho nên nàng chết mà lòng thanh thản.

Cái chết của Trọng Thủy (Giếng Trọng Thủy) cũng trong một cảnh cô quạnh, chỉ có "đêm khuya, gió lốc, mây đen, mưa đập, sấm chuyển, hồn ma, quỷ khóc, dơi bay, tiếng tù và rên văng vẳng". Hẳn là thương nhớ người yêu đồng thời hối hận về sự lừa lọc, phản bội của mình đã gây nên cái chết thê thảm của người yêu, những nhân tố này tác động qua lại khiến Trọng Thủy - theo sử cũ chép - sau khi ôm xác người yêu đem về chôn ở Loa Thành, trở lại chỗ Mỵ Châu tắm gội ngày trước và cuối cùng nhảy xuống giếng tự sát.

Về bài thơ "Mỵ Ê" sử chép năm 1044 vua Lý Thái Tôn phá thành Phật Thệ, giết vua Xa Đẩu, bắt Vương phi Mỵ Ê sang hầu thuyền ngự trên đường về; Mỵ Ê một lòng thủ tiết nhảy xuống sông tự tử.

Ủ lệ tay ngà ôm ngực huyết
Mỵ vờn theo sóng dạt bờ hoang.

Những bài thơ trên nói lên tâm sự, cảnh ngộ, số phận bi thảm của những kẻ chung tình mà mệnh bạc. Ngoài ra chính Hoài Thanh cũng có một nhận xét khác là bên cạnh những câu thơ đến buồn cười, có cả những câu tình tứ mà không chút bỡ ngỡ. Đó chính là những cái buồn, những nỗi niềm cảm động trên những cái vui, cái hóm hỉnh của Nguyễn Nhược Pháp. Như trong bài Sơn tinh, Thủy tinh, khi Sơn tinh đến đón dâu, Mỵ nương bịn rịn không muốn xa rời cung cấm, không muốn ly biệt cha già, và nơi chôn nhau cắt rốn; chỉ mấy câu thơ giản dị, dễ thương cũng nói lên khá đầy đủ cái tâm trạng công chúa phải theo về với chồng:

Lầu son nàng ngoái trông lần lữa
Mi xanh lệ ngọc mờ hơi sương.

Quỳ lạy cha già lên kiệu bạc
Thương người, thương cảnh xót lòng đau.
Nhìn quanh khói tỏa buồn man mác
Nàng kêu "Phụ vương ơi! Phong Châu!"

Vua cha cũng đầm đìa nước mắt vì phải xa con gái yêu.

Hùng vương mơ vịn tay bờ thành
Trông bụi hồng tuôn xa, xa lắc
Mắt nhòa lệ ngọc ngấm đầm quanh...

Bài thơ "Mây" cũng chứa đựng những tưởng nhớ đối với người thân:

Khi thấy hồn người thân
Nhìn mây lệ không cầm!
Trên bầy xe tứ mã,
Tiếng bánh lăn âm thầm.

Như thế, thơ Nguyễn Nhược Pháp đâu chỉ có tiếng cười hóm hỉnh mà còn có cả tiếng khóc, có buồn thương, đâu chỉ có những hình dáng ngộ nghĩnh màu sắc tươi vui, mà còn có cả những cảnh thê lương buồn tê tái. Nhưng cái buồn trong thơ anh khác hẳn cái buồn của nhiều nhà thơ xưa và đương thời. Thơ buồn của anh không có cái chán chường mênh mông bế tắc, không có sầu vạn cổ, không có thương hão nhớ hờ. Thơ buồn của anh luôn luôn có đối tượng, có nội dung, có lý do, có hoàn cảnh cụ thể. Nhân vật trong thơ anh là con người thật trong lịch sử hay chỉ có trong truyền thuyết, trong dã sử, tiêu biểu cho con người của một thời nhưng cũng là con người nói chung của muôn thuở, với những tình cảm thực sự của con người, những tình cảm bẩm sinh tất yếu Tạo hóa đã phú cho, thể hiện dưới mọi hình thái trong những tình huống bất hạnh cụ thể.

Những bài thơ, những đoạn, những khổ, những câu thơ buồn của anh đều nói lên tư tưởng nhân văn vị tha rộng lớn của anh đối với những đau khổ của người đời, đặc biệt trong vấn đề tình yêu, đối với những tâm hồn sắt son chung thủy trước cảnh nghịch, trước những bước ngoặt bi thảm của cuộc đời, đối với những ước mơ, khát vọng bâng khuâng khắc khoải của tuổi trẻ, của lứa đôi, đối với những nỗi lòng của kẻ làm cha, làm chồng, làm vợ, làm con. Cái chất lãng mạn trong thơ buồn của anh không hề mang dấu ấn của cái "tôi" hẹp hòi ích kỷ khinh bạc mà trái lại rất ấm áp tình người. Nó không có ý nghĩa tác động tiêu cực mà ngược lại nó lay động, thức tỉnh, phát huy những tình cảm cao quý trong sáng, làm cho con người biết yêu thương hơn, bởi vì nó gắn bó với thực tại, thông suốt với những số phận, cảm nhận được chân giá trị của con người.

Nguyễn Nhược Pháp là một nhà thơ có phong cách bút pháp riêng biệt, không giống bất cứ ai trong bốn mươi lăm nhà thơ trong Thi nhân Việt Nam, cũng không giống bất cứ nhà thơ đương thời nào khác. Đặc điểm nổi bật trong thơ anh - vui cũng như buồn - là sự mộc mạc hồn nhiên trong sáng, là sự khiêm tốn hết sức dễ thương, người đọc không hề cảm thấy một sự điêu luyện, một sự kỹ xảo nào, vì thế thơ anh rất dễ hiểu, rất gần gũi với quảng đại quần chúng, với mọi lứa tuổi, mọi tâm hồn. Và chính đấy là tài hoa, là nghệ thuật của riêng anh. Đọc thơ anh người ta nhận thức rằng thơ phải là nỗi niềm thực sự của trái tim trước khi trải qua những đắn đo, cân nhắc thêm cho hoàn chỉnh của lý trí. Nguyễn Nhược Pháp biết vui cái vui của con người, một cách nồng nàn đôn hậu thì cũng biết buồn cái buồn của con người một cách rất tha thiết yêu thương.

Ban-zắc nói nghệ thuật đi ra từ khối óc chứ không phải từ trái tim, nhưng với Nguyễn Nhược Pháp, chúng tôi thấy ngược lại.

N.X.P
(TCSH61/03-1994)

 

 

Các bài đã đăng