NGUYỄN ĐỖ
Nói theo cách nói của Đỗ Khiêm, tác giả Kí sự đi Tây, đại ý là phải tranh thủ mọi cơ hội để quảng cáo văn thơ mình, vậy thì cái đầu đề bài viết này chính là một câu thơ của tôi, tôi ké vào.
Tôi ké nhưng không là tầm gửi, bởi câu thơ trên gần như là một niềm vui không khác chi dải Trường Sơn chạy xuyên suốt đời tôi mà tôi tìm thấy nó ở Đỗ Khiêm, ở Kí sự đi Tây (và sau này cả tập Cây gậy làm mưa và một số tập khác của anh).
Tôi không thích kí Nguyễn Tuân. Mặc dù nói đến kí, đến giang hồ ở văn chương Việt Nam người ta hay bíu vào Nguyễn Tuân. Tôi không thích bởi tôi thấy ông tính toán câu chữ chi li quá. Và quan trọng hơn, tôi là một đứa trẻ ranh (trong làng văn chương và cả ngoài đời) thấy người lớn hình như không thật thà lắm trong việc chơi chữ. Đó là chưa nói đến việc ông Nguyễn thích làm chính trị trong cả văn mình. Một bài kí của ông là có một chủ đề chính trị và cả bài là sự quanh co tô vẽ cho định đề ấy.
Đỗ Khiêm thì khác. Khác đến phủ định những gì với Nguyễn Tuân (mà tôi mạo muội, tựa lưng thật vững vào ghế, khi thốt ra như trên). Đỗ Khiêm có gì đó, dẫu không phải trùng lắp, cái hơi của Erich Maria Remarque. Ở đây tôi không nói thể loại, không nói đề tài v.v... mà tôi muốn nói đến cái hơi văn. Cái hơi này tạo ra một bản thể lang thang, một cá tính lang thang và đủ sức giang hồ bất tận. Không chủ đích, không chuẩn bị tư thế đứng trước đèn flash và nhất là không để cả viết văn và viết hồi kí.
Ở Kí sự đi Tây, 17 chương (hay 17 khúc đoạn) cứ như là mười bảy cái ga xép mà đường ray định mệnh xô đến. Tình cờ, khoan thai được chăng hay chớ. Kể. Tôi thấy, tôi nghe và tôi kể. Anh thích nghe thì nghe không thì thôi, đây không ép. Chính vì thái độ người viết như vậy cho nên không khí của kí vừa thực vừa trực thể nhưng vừa lãng mạn và khái quát. Ngôn ngữ của Đỗ Khiêm hoàn toàn là ngôn ngữ của khách bộ hành, của kẻ đợi tàu gặp nhau líu lít dăm câu ba sợi, gặp nhau cái hòn tim đa cảm thình thịch vụt lên, miệng chỉ kịp quệt lướt, tay chỉ kịp quờ quạng... rồi "bye", rồi ngay lập tức như một thước phim quay ngược về bất tận quá khứ.
Đỗ Khiêm có một cái hay mà những người viết kí hiện nay tôi thấy không có đó là anh đứng về một góc hẹp nhất của con người từ những cái ít nhạy cảm nhất của đồng loại để tạo ra thế đứng văn hóa, cách nhìn văn hóa (tôi không dám dùng từ nhân bản vì sợ người ta suy diễn sang địa hạt đạo đức học). Ví dụ Khiêm đứng ở chỗ mà cái khăn vuông lụa Hermès thòi ra, ló ra trong một cái bao ủ chân của một bà bác xa xứ. Ví dụ Khiêm đứng ở cái bánh mì baguette nơi mà sót lại cánh tay lẳn tròn hồng hào đung đưa mỗi ban mai. Ví dụ Khiêm đứng ở cái micromet khoảng cách tối thiểu giữa mình (mắt môi và...) với bộ phận thú tính nam nữ, chỉ tới một tẹo nữa là tục, nhưng chỉ lùi lại một tẹo nữa thì chúng ta giả dối (vì bản năng). Cái thế đứng của Khiêm bao quát hầu khắp chuyện nhưng là một thế đứng khiêm nhường bé nhỏ, không nhằm rút ra bài học về yêu tổ quốc, yêu đồng bào thường thấy... mà lóe lên một tư thế văn hóa. Và có lẽ đó là hiệu năng tự thức chứ bản thân Đỗ Khiêm cũng không dám định thế. Có lẽ vậy nên ngôn ngữ anh dùng hoàn toàn bản năng, tự nhiên, buột miệng, không một chút dụng công, rất phù hợp với kẻ lan man gặp chăng hay chớ, gặp ga nào có người con gái quyến rũ thì xuống, gặp tàu nào sắp đến giờ hú còi lăn bánh thì lên. Lúc đầu tôi tưởng cha này viết văn như nói văn (vì tôi chưa đọc các tác phẩm tiếp theo của anh) nhưng sau khi đọc tiếp Cây gậy làm mưa tôi mới "À, té ra ông để cho mình chảy một ngôn ngữ thích hợp với từng tạng văn, Cây gậy làm mưa, tiếp tục cái giang hồ, kề rề cà rà của KSĐT, nhưng là truyện ngắn, là hư cấu bác học, nên câu chữ trở lại văn viết chỉn chu, ngay hàng thẳng lối”.
Không kể các tác giả lừng danh về truyện và kí giang hồ của trái đất (mà cũng cực ít) thì từ khi chui khỏi bụng mẹ đến giờ tôi mới được đọc một cách khoái trá, thoải mái, đọc đi đọc lại nhiều lần mà không la vợ chửi con như vậy. Đêm nay tôi mới ngâm một hũ rượu thuốc, tôi chuyển rượu ra cái bầu của người Cadong - Tây Nguyên, tợp một ngụm và thong thả dạo quanh Con đường tối cổ chọc dăm cô gái bán hoa rồi bước vào cái Văn minh quầy quán để khen chê, bàn ra tán vào ông nhà văn nọ, bà nhà thơ kia..., bằng những Trạm tàu điện lẻ của Đỗ Khiêm. Và tôi lẩm bẩm: "Mẹ nó, Đỗ Khờ thì sao sướng thế". Đó là một câu thơ của tôi, xin lỗi vụ lợi. Và vì sao tôi và các bạn tôi gọi Đỗ Khờ là vì: sinh ở Hải Phòng, năm 68 sang Pháp, 75 sang Hoa Kì viết văn anh lấy bút danh là Đỗ KH. Bây giờ về lại quê hương anh lăm le lấy tên cúng cơm để bà con hay: À, té ra là thằng Khiêm con ông nọ bà kia đấy à...
S.G Mậu Tuất 1994
N.Đ
(TCSH62/04-1994)