TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG
Danh nhân Đặng Huy Trứ (1825 - 1874), 2 lần đỗ Cử nhân vào năm 1843 và năm 1847, ông được xem là bậc hiền tài nổi tiếng thanh liêm, có tư tưởng canh tân đất nước mà nhiều người còn nhớ đến ông với tư cách là vị thủy tổ ngành nhiếp ảnh Việt Nam.
Đặng Huy Trứ để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ bao gồm thơ và văn xuôi mà đến nay cũng đã được xuất bản và phát hành rộng rãi, được người đọc đón nhận và trân quý những tư tưởng tiến bộ của ông.
Bấy lâu nay, khi nhắc đến danh nhân Đặng Huy Trứ, người ta thường ngợi ca ông trên các lĩnh vực giáo dục, quân sự, văn hóa, kinh tế, luật pháp; và xem ông là người có tư tưởng canh tân cho đất nước. Ông cũng là người luôn hết lòng vì dân. “Làm quan cai trị dân nhưng ông rất quý trọng dân, coi dân như cha mẹ và tự coi mình là con của thứ dân”1. Nhưng cũng ít ai biết được rằng, với tấm lòng luôn cởi mở, ông cũng có những giờ phút thảnh thơi, yêu đời, yêu trẻ và luôn hướng thiện. Chính vì thế, khi sơ bộ khảo sát các tác phẩm thơ văn của ông, chúng tôi cảm nhận một điều rằng Đặng Huy Trứ cũng có những kiến giải về mỹ thuật một cách sâu sắc và ý nghĩa.
Trong tâm hồn Đặng Huy Trứ vẫn luôn có những thứ tươi trẻ, ông luôn chú ý đến việc giáo dục thẩm mỹ cho mọi người. Những vấn đề về mỹ thuật được ông đan xen, lồng ghép trong một số bài thơ tả về cảnh vật hoặc những bài tựa khi làm sách với những từ ngữ chỉ về màu sắc, tranh vẽ, phong cảnh như toát lên thần thái của một con người tuy lo vận nước nhưng cũng có những giây phút lãng mạn, trữ tình.
Trong bài thơ Tĩnh Tâm viên ngẫu hứng (Ngẫu hứng trong vườn Tĩnh Tâm) ông viết:
Lâu cao nhật nguyệt huyền kim kính,
Trì khoát hồng nghê giá thái kiều.
Nghĩa là:
Gương vàng hình mặt trời, mặt trăng treo trên lầu cao,
Chiếc cầu nhiều màu sắc như cầu vồng bắc qua hồ rộng.
Dịch thơ:
Cầu vồng nhịp bắc qua hồ rộng,
Nhật nguyệt gương vàng đỉnh gác treo2.
Các từ ngữ mặt trời, mặt trăng treo trên lầu cao, nghe qua người đọc tưởng tượng đó như một bức tranh vẽ về thiên nhiên tuyệt đẹp. Hoặc hình ảnh chiếc cầu vồng nhiều màu sắc thì yếu tố mỹ thuật lại hiện ra rõ nét, đã đan xen với lời thơ rất hợp lý.
Trong bài thơ Lan, ông viết:
Lan có hương vương giả,
Không cùng mọc với cỏ.
Thành tràng đeo bên mình,
Thân ngàn ý đẹp tụ3.
Cũng là một bức tranh thiên nhiên với cây hoa lan đẹp vương giả, quý phái tỏa ngát hương. Đọc bài thơ cũng cho người nghe cảm nhận được một giá trị thẩm mỹ từ lời thơ cho đến hình ảnh thiên nhiên hòa quyện đồng điệu một tâm hồn.
Bài thơ Trăng sáng chiếu rặng tùng, giá trị thẩm mỹ được đề cập đến rất nhiều ý:
Chiều tà, núi tỏ lúc tan mưa,
Tùng xứng bóng trăng, nguyệt xứng thu.
Trăng đậu cành cong đan ánh mộng,
Nguyệt rung bông nổi, ngả màu mơ.
Cành gió nghiêng dõi hình thanh nữ,
Lá kết chùm đùa thuyền lão ngư.
Hồn luyến đêm thu hương ngát tỏa,
Dùng dằng về ở, vướng dây tơ4.
Bài thơ như một bức tranh thủy mặc, có đủ thời gian và không gian nghệ thuật. Thời gian gồm chiều tà, trăng, đêm thu. Không gian là núi, sông, thuyền. Trong đó, chỉ riêng 2 câu:
Cành gió nghiêng dõi hình thanh nữ,
Lá kết chùm đùa thuyền lão ngư.
Đã làm cho người đọc hình dung ra một bức tranh thu rất đẹp được thể hiện bằng ngôn từ mang tính mỹ thuật cao.
Đến với bài thơ Trong thuyền ngắm mặt trời mọc, ông không giấu được cảm xúc trước cái đẹp, ông tả:
Thuyền dong ngắm trời mọc,
Trời mọc phía non đông.
Non đông treo gương lửa,
Gương lửa rọi thuyền dong5.
Giá trị nghệ thuật của bài thơ này mang tính mỹ thuật cao bởi cấu trúc lặp vòng: cụm từ trời mọc nằm cuối câu 1 và cụm từ Trời mọc nằm đầu câu 2; cụm từ non đông nằm cuối câu 2 và cụm từ Non đông nằm đầu câu 3; cụm từ gương lửa nằm cuối câu 3 và cụm từ Gương lửa nằm đầu câu 4. Và cấu trúc lặp đầu cuối cụm từ Thuyền dong nằm đầu câu 1 và cụm từ thuyền dong nằm cuối câu 4. Chính vì các hình ảnh mặt trời mọc, non đông, gương lửa (ánh nắng), thuyền đã tạo nên bức tranh thơ đầy tính mỹ thuật.
Trong thời gian đi sứ Trung Quốc, Đặng Huy Trứ được Lý Trọng Nham vẽ cho ông 2 bức tranh truyền thần. Khi về quê, ông đã cho mọi người xem, và ông đã làm bài thơ Đối thân tân (Gặp họ hàng và bạn bè), hai câu thơ cuối có nhắc đến 2 bức ảnh truyền thần như sau:
Phiên âm:
Việt cảnh, Dương tình mang ứng đối,
Diệt nhi chi giải khán truyền thần.
Nghĩa là:
Mãi trả lời về tình hình ở Quảng Đông và của bọn Tây dương.
Bọn con cháu thì chỉ mê xem bức truyền thần.
Dịch thơ:
Chuyện Quảng, chuyện Tây dồn dập hỏi.
Cháu con chỉ ngắm bức chân dung6.
Theo chúng tôi nghĩ, cũng chính từ những bức truyền thần này mà khi Đặng Huy Trứ mở hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường, dù ít dù nhiều ông cũng đã đề cao giá trị mỹ thuật trong từng lời chữ cho bảng quảng cáo về hiệu ảnh.
Đến phần văn xuôi có một số tác phẩm được Đặng Huy Trứ bàn về mỹ thuật rất ý nghĩa, đó là Lời tựa tập “Thơ và tranh vẽ bốn mươi tám người con có hiếu” được viết vào năm Đinh Mão 1867 như sau: “Hiếu là đạo thường của trời, nghĩa lớn của đất, đức hạnh của dân. Một điều hiếu được lập nên thì muôn điều thiện nối theo. Trải xem đời trước, trên từ thiên tử, dưới đến thứ dân, những người hiển danh bằng đức hiếu được vẽ ra để truyền bá, đâu chỉ một ngọn bút là có thể viết được hết.
Mùa xuân năm Đinh Tỵ (1857), tập sự ở Hòa Vang, được Lý Văn Trinh đưa tặng tập tranh vẽ có thơ về hai mươi bốn người con có hiếu, tôi rất lấy làm mừng. Tôi lấy ra đề thơ văn giúp cho trẻ học, nhân chuyện mà biết được thơ, nhân thơ mà biết được tranh vẽ. Sau những thơ ấy thì chép được, còn những bức vẽ thì không được lưu truyền.
Ôi! Làm cảm động lòng người chẳng có gì hay bằng thơ, mà gợi mở trẻ nhỏ càng không có gì hay bằng họa, bởi tính trẻ đều thích tranh vẽ. Nhân sự ưa thích ấy mà dẫn dắt chúng đến với điều thiện, đó cũng là một thuật dạy bảo trẻ nhỏ. Thế thì chuyện bốn mươi tám người con có hiếu đã có thơ rồi, có thể không cần tranh vẽ chăng?
Mùa hè năm nay tôi lại sang Quảng Đông, tìm được người vẽ giỏi nhờ vẽ sự tích của bốn mươi tám người ấy ở bên trái bài thơ, nhân đó làm thành một tập, lấy đề là Thơ và tranh vẽ bốn mươi tám người con có hiếu (Tứ thập bát hiếu thi họa), rồi đưa khắc ván in ghi lại mãi chuyện những người con bất hủ. Sau này cháu con truyền nhau mà học tập. Tranh để nuôi con mắt, thơ để nuôi tấm lòng, mà cái lương tri giữ đạo thường chuộng đức tốt sẽ tự nhiên nảy sinh dồi dào trong lúc vui chơi. Trẻ còn bế ẵm cũng thích, người năm mươi tuổi cũng ưa, một mai có thể lập thân, hiển danh làm rỡ ràng cho cha mẹ thì tập sách này cũng ít nhiều có ích vậy”7.
Qua lời Tựa này, chúng tôi rút ra được một số quan điểm của Đặng Huy Trứ bàn về mỹ thuật như sau:
- Trải xem đời trước, trên từ thiên tử, dưới đến thứ dân, những người hiển danh bằng đức hiếu được vẽ ra để truyền bá, đâu chỉ một ngọn bút là có thể viết được hết.
Đó là đề cao giá trị của mỹ thuật, tranh vẽ có tác dụng giáo dục thẩm mỹ cho mọi người, bổ sung cho ngòi bút rất nhiều.
- Tôi lấy ra đề thơ văn giúp cho trẻ học, nhân chuyện mà biết được thơ, nhân thơ mà biết được tranh vẽ.
Ông muốn nói rằng mỹ thuật và thơ có mối quan hệ tương duyên bổ túc qua lại với nhau.
- Sau những thơ ấy thì chép được, còn những bức vẽ thì không được lưu truyền.
Ông cũng nhắc nhở rằng, việc sáng tác thơ văn bằng ngòi bút, cảm hứng thì được nhưng liên tưởng đến mỹ thuật thì rất khó cho nên biết giá trị của mỹ thuật là to lớn đến nhường nào.
- Mà gợi mở trẻ nhỏ càng không có gì hay bằng họa, bởi tính trẻ đều thích tranh vẽ.
Ông hiểu được sở thích của trẻ nhỏ, tranh vẽ minh họa sẽ là điều mà mọi trẻ em nào cũng thích nhìn bởi sự bắt mắt của đường nét, màu sắc.
- Nhân sự ưa thích ấy mà dẫn dắt chúng đến với điều thiện, đó cũng là một thuật dạy bảo trẻ nhỏ.
Chính từ sự bắt mắt đó, khiến trẻ có sự sáng tạo trong suy nghĩ. Ở ý này, Đặng Huy Trứ nhấn mạnh giá trị giáo dục nhân cách làm điều thiện đối với trẻ nhỏ qua quan niệm mỹ thuật đó cũng là một thuật dạy bảo trẻ nhỏ.
- Thế thì chuyện bốn mươi tám người con có hiếu đã có thơ rồi, có thể không cần tranh vẽ chăng?
Chính vì những giá trị thiết thực đó của mỹ thuật cho nên khi làm sách, Đặng Huy Trứ đã đề cao vai trò của mỹ thuật trong từng trang sách của mình.
- Mùa hè năm nay tôi lại sang Quảng Đông, tìm được người vẽ giỏi nhờ vẽ sự tích của bốn mươi tám người ấy ở bên trái bài thơ, nhân đó làm thành một tập, lấy đề là Thơ và tranh vẽ bốn mươi tám người con có hiếu (Tứ thập bát hiếu thi họa).
Ông đã thể hiện một trách nhiệm to lớn của mình để vun trồng nhân đức cho trẻ nhỏ, đó là tìm người vẽ giỏi, nhờ vẽ sự tích các nhân vật có hiếu với cha mẹ, hình thành tập thơ có họa. Thực là một điều trân quý mà Đặng Huy Trứ dành cho con trẻ, một vị quan thanh liêm, bận việc công nhưng vẫn luôn hướng về mầm non của quê hương, đất nước, người thân trong gia đình, dòng họ, làng quê xứ Huế.
Cách làm của ông là chính ông đã tìm đến mỹ thuật, những giá trị thẩm mỹ có thể nói là bất biến trong sáng tác của ông và còn ảnh hưởng đến ngày hôm nay trong từng họa sĩ trẻ nếu họ muốn tìm về cội nguồn sáng tạo mà Đặng Huy Trứ đã dày công gây dựng.
- Tranh để nuôi con mắt, thơ để nuôi tấm lòng, mà cái lương tri giữ đạo thường chuộng đức tốt sẽ tự nhiên nảy sinh dồi dào trong lúc vui chơi.
Ý kiến này của Đặng Huy Trứ bàn về mỹ thuật lại có tầm nhìn rất sâu xa, ông cho rằng tranh - mỹ thuật là để dung dưỡng tố chất hiền lành, nhân hậu tấm lòng, là nuôi dưỡng lương tri hướng thiện cho trẻ nhỏ. Giáo dục mỹ thuật là bước quan trọng để thế hệ trẻ có đủ tâm trí, sức khỏe mà vững bước trên con đường phụng sự đất nước.
Như vậy, tập sách Tứ thập bát hiếu thi họa gồm 98 trang, dùng để dạy về đạo đức luân lý cho lớp trẻ được Đặng Huy Trứ dày công thực hiện làm cho chúng ta hiểu rõ hơn về giá trị của mỹ thuật trong việc giáo dục nhân cách trẻ nhỏ mà ông đã để lại cho đời là to lớn biết nhường nào!
Trong tác phẩm “Đề bức tranh cổ hoa mẫu đơn và gà do Cao Nhuận Sinh tặng”, năm 1868, ông đã bày tỏ sự trân trọng cái đẹp như sau: “Trong thời gian tôi ở Quảng Đông, phàm những người buôn bán và làm nghề thủ công có kiến thức đôi chút, tôi đều vui vẻ chuyện trò với họ để mở rộng tầm hiểu biết của mình.
Làng bên có Cao Nhuận Sinh vốn làm nghề thợ sơn, tính rất hiếu thảo; mẹ 72 tuổi, vợ yếu con thơ, Nhuận Sinh một mình chạy vạy đó đây, dốc sức ra cung cấp gạo nước cho gia đình, không lúc nào ngơi. Tôi đánh giá cao đức hạnh của anh ta nên thường đến thăm. Vả chăng anh cũng làm nhiều tấm biển để đỡ tiền nuôi mẹ. Kinh Thi có câu: “Hiếu từ bất quý, vĩnh tích nhĩ loại” (Người con hiếu không bao giờ hết, mãi mãi ban khen cho người cùng loại với người). Tôi trộm để tâm câu ấy.
Một hôm, Nhuận Sinh đem bức tranh cổ vẽ hoa mẫu đơn và gà mà cha anh để lại tặng cho tôi, có ý mong tôi phú quý. Tôi thấy anh chân tình nên vái nhận. Giở ra xem tấm tắc khôn xiết, bèn viết mấy lời trên bức tranh để làm rõ cái nết giữ đạo trời, chuộng đức tốt của Nhuận Sinh, không thể gộp chung anh ấy với người làm nghề mọn được. Nếu chỉ vì nghề mà coi thường anh ấy thì Biến, người làm bánh xe ở nước Tề và An Dân, người làm thợ đá ở nước Tống là những người như thế nào của thời xưa? Vì vậy mà viết bài này”8.
Qua tác phẩm này cho thấy Đặng Huy Trứ rất yêu cái đẹp, ông cảm nhận được tranh quý, nội dung tranh tặng và trân trọng người đã ngưỡng mộ tài năng của mình, ông nói: “Giở ra xem tấm tắc khôn xiết, bèn viết mấy lời trên bức tranh để làm rõ cái nết giữ đạo trời”. Quan điểm khen chê của Đặng Huy Trứ khi xem tranh mà Cao Nhuận Sinh tặng, điều này để thấy được rằng, “Đặng Huy Trứ tự đặt cho mình là Tĩnh Trai để luôn luôn tự nhắc nhở không để cho ham muốn tầm thường làm u mê; là Vọng Tân để luôn luôn hướng về bến bờ của Đạo đức và Trí tuệ, và mong đạt tới hai chữ Đức - Tài”9.
Trong bài Quảng cáo hiệu ảnh Cảm Hiếu đường, ông đã bàn về cái đẹp, tính mỹ thuật trong nghệ thuật nhiếp ảnh như sau: “Trộm nghe: Từ xưa đến nay không ai tái sinh được xương thịt. Tay ứng theo lòng, chụp ảnh tái hiện được tinh thần. Muốn đi sâu vào ngọn nguồn, xin thử trình bày gốc ngọn của việc đó.
Từ thuở mới có trời đất, chỉ có con người là tinh anh. Và trong cái đức tốt đẹp của đạo lý thì hiếu là đầu của trăm nết. Vì thân thể người ta là nhận được của cha mẹ. Sau ba năm mới khỏi phải bế ẵm. Cực kỳ phú quý như các bậc công hầu, khanh tướng cũng không có cách nuôi nào khác, dù chỉ trong một ngày. Khi bé bỏng thì bồng bế yêu thương, suốt đời thì nhớ thì quý, lòng này lẽ ấy như nhau. Gặp ngày giỗ thì khóc, ngày sinh thì thương, lương tri lương năng đều vậy. Đi ắt thưa, về ắt trình, người có nhân không nỡ có lòng xa rời cha mẹ. Chết như sống, mất như còn, người con hiếu không nỡ có ý quên cha mẹ. Dù ở nơi quan san cách trở, mãi vẫn ôm trong lòng nỗi nhớ. Huyên cỗi xuân già, không kịp báo đáp thì suốt đời ôm mối hận ngàn thu. Một bức thư nhà gửi đến, thuật lại việc ăn ở, thức ngủ nhưng chẳng thấy dung nhan. Hai hàng thần chủ nương hồn ghi rõ họ tên mà không tường diện mạo. Trèo lên núi Hỗ trông cha, trèo lên núi Dĩ trông mẹ mong ngóng mà nào thấy mặt. Cầu cõi âm, cầu cõi dương hòng mắt thấy tai nghe nào gặp được.
Xưa: Vương Kiên thành tâm ứng mộng nhưng thức ngủ đều không thấy hình, thấy ảnh. Thiếu Nguyên trích máu, nhận hài cốt nhưng nhan diện đã cùng nát với cỏ cây. Thọ Xương từ quan đi tìm mẹ nhưng bóng dâu đã ngả. Đinh Lan đẽo tượng thờ cha mẹ nhưng e rằng tóc da khắc lên khó giống. Tình này, cảnh ấy ai có ai không? Nay muốn sớm tối vui như trẻ được mặc áo hoa, ngoài nghìn dặm mà dường như dưới gối, luôn luôn thấy mặt, trăm năm sau mà vẫn in như trước mắt, khiến mọi người đều tỏ được tấm lòng thành hiếu thì chỉ có cách chụp ảnh là hay nhất”10.
![]() |
![]() |
| Hai bức vẽ truyền thần về danh nhân Đặng Huy Trứ được thờ trong nhà thờ |
Qua lời lẽ của bảng quảng cáo cho thấy việc vẽ lại các bức truyền thần chân dung ông bà cha mẹ và chụp lại những thần thái của mẹ cha giúp cho con cháu sau này thấy được tổ tiên, hướng lòng về tổ tiên và hết lòng vì hiếu đạo. Bởi vì mỹ thuật trong nhiếp ảnh là “ảnh chân dung không chỉ giống diện mạo mà còn nói lên được nỗi lòng (tái hiện được tinh thần) của nhân vật ở thời điểm chụp. Đây là quan điểm hiện đại về ảnh chân dung mà bất cứ ai muốn thể hiện được bức chân dung tốt, trước hết phải lột tả được linh hồn của nhân vật. Nói cách khác ghi lại được khoảnh khắc có sức biểu hiện cao nhất của đối tượng… Nhờ tấm ảnh mà con cháu muôn đời lưu giữ được hình ảnh của các bậc tiền nhân để giữ trọn chữ hiếu”11.
Tóm lại, khi tìm hiểu những quan điểm của danh nhân Đặng Huy Trứ về mỹ thuật, chúng tôi thấy rằng giữa thơ văn - mỹ thuật và nhiếp ảnh có mối quan hệ qua lại với nhau rất khăng khít. Trong thơ văn thì có tranh để minh họa, để thu hút và giáo dục tính thiện cho người đọc, người nghe, người xem. Còn trong nhiếp ảnh lại có yếu tố mỹ thuật mang hàm ý “mang đến cho người xem khả năng nhận thức được những hiện thực của quá khứ một cách khách quan, khiến cho người xem tin tưởng sự hiện diện của quá khứ là có thật. Đó là sức mạnh tính tài liệu của ảnh”12.
Ngày 14/3/2026, tôi cùng KTS. Nguyễn Xuân Lực đã đi viếng lăng mộ danh nhân Đặng Huy Trứ ở làng Hiền Sỹ, phường Phong Thái và đến chiêm bái Khu di tích nhà thờ Đặng Huy Trứ ở làng Thanh Lương, phường Kim Trà, thành phố Huế. Và thật may mắn cho chúng tôi là được người quản lý Khu di tích nhà thờ mở cửa vào thăm viếng nội thất nhà thờ. Mở ra trước mắt chúng tôi là cả một di sản đồ sộ về mỹ thuật từ cách bài trí thờ tự, ảnh thờ, hệ thống chạm khắc gỗ, những câu đối, hoành phi sơn son thếp vàng. Và đặc biệt là 2 bức chân dung danh nhân Đặng Huy Trứ được vẽ truyền thần, đã trên 100 năm nhưng vẫn còn tươi nguyên của nét vẽ, mực màu và sự thần thái của 2 bức tranh. Đây đúng là một tuyệt tác mỹ thuật mà chính Đặng Huy Trứ lúc sinh thời cũng đã hiểu và luôn bàn về giá trị của mỹ thuật. Chúng tôi rất cảm kích những gì mà danh nhân Đặng Huy Trứ đã để lại cho hậu thế, cho Huế hôm qua và hôm nay.
T.N.K.P
(TCSH447/05-2026)
--------------------------
1 Nhóm Trà Lĩnh: Đặng Huy Trứ con người và tác phẩm. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1990, tr. 13.
2 Nhóm Trà Lĩnh: Sđd, tr. 230.
3 Nhóm Trà Lĩnh: Sđd, tr. 64.
4 Nhóm Trà Lĩnh: Sđd, tr. 66.
5 Nhóm Trà Lĩnh: Sđd, tr. 67.
6 Nhóm Trà Lĩnh: Sđd, tr. 353.
7 Nhóm Trà Lĩnh: Sđd, tr. 442.
8 Nhóm Trà Lĩnh: Sđd, tr. 487.
9 Đặng Huy Trứ: Đặng Dịch Trai ngôn hành lục (Lời nói việc làm của cha tôi). Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2007, tr. 267.
10 Nhóm Trà Lĩnh: Sđd, tr. 498.
11 Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật, Hội Nhiếp ảnh Thừa Thiên Huế: Kỷ yếu tọa đàm Kỷ niệm 155 năm thành lập Hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường. Huế, ngày 14/3/2024, tr. 29, 30.
12 Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật, Hội Nhiếp ảnh Thừa Thiên Huế: Sđd, tr. 30.