Tác giả-tác phẩm
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút...
14:46 | 10/06/2026

ĐỖ LAI THÚY

Tôi biết anh Đào Thái Tôn theo đuổi Hồ Xuân Hương từ lâu, như một định mệnh. Luận văn tốt nghiệp khóa Cao học Hán học của anh về Hồ Xuân Hương. Cái "vạ vịt" năm ấy ở Viện Văn, nghe đâu, cũng vì Hồ Xuân Hương. Và gần đây, luận văn phó bảng (PTS) cũng lại Hồ Xuân Hương.

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút...
Ảnh: tư liệu

Bởi thế, cuốn Thơ Hồ Xuân Hương, từ cội nguồn vào thế tục(1) của anh lần này, có thể nói, là sự không thiệt thòi của công đeo đẳng. Biết anh từ thuở cùng mặc áo xanh, đọc anh cũng lắm, dầu vậy tôi vẫn ngần ngại khi cất bút... Những dòng tản mạn này, bất quá, cũng chỉ là sự nhân hứng.

Công trình khảo cứu (tôi muốn phân biệt với nghiên cứu) công phu, lại được đốn ngộ bởi một công án - bài báo của một bậc chưởng môn chánh phái đầy uy tín như giáo sư Hoàng Xuân Hãn, nên đọc rất thú vị. Nó tổng kết và đẩy xa hơn một khuynh hướng nghiên cứu, một giả thuyết khoa học, có tính chất văn bản học - một lĩnh vực khoa học còn xa lạ với lối tư duy đại khái. Để bạn đọc dễ theo dõi vấn đề trình bày, tôi xin làm một việc thô bạo là rút ra sợi dây cái xuyên qua một rừng những luận cứ, tham khảo, đối chiếu, suy lý trên khối tư liệu hiện có của tác giả: Hồ Xuân Hương tác giả của Thơ nôm truyền tụng (TNTT) là Hồ Xuân Hương tác giả của Lưu Hương ký (LHK). Cuốn sách Lưu Hương đáng tin cậy hơn về mặt văn bản (vì nó được ghi chép sớm hơn và hiện còn ngậm viên ngọc từ cổ "sương siu mấy") nên phải lấy phong cách LHK làm chuẩn để tuyển lựa TNTT. Có thể nói, trong bối rối nhiều năm của việc xử lý văn bản và tiểu sử Hồ Xuân Hương, nay bỗng có được lập luận gọn gàng, chặt chẽ, đẹp lạnh lùng như trên thật dễ có ma lực, gây ấn tượng "quả trứng Cô-lông". Nhưng, có lẽ, điều thú vị hơn là trên hành trình "Từ cội nguồn về thế tục", anh Đào Thái Tôn đã không lôi độc giả đi một mạch, thẳng băng, mà biết tạo ra nhiều đoạn quanh co, uốn lượn, thậm chí lối rẽ, để bạn đọc được tự do nhẩn nha, suy nghĩ và mơ mộng. Kể cả sự mơ mộng về những giả thuyết khác, hướng đi khác.

Vốn có một hứng thú lâu bền với chữ nghĩa của TNTT, nhất là khi nó được nhìn ngắm từ một nguồn sáng uyên nguyên, trí tưởng tôi luôn mơ về một chân trời khác, khá ngược hướng với luận lý của nhà khảo cứu. Sự thật trong phê bình và nghiên cứu văn học là một điều quan trọng, nhưng mở rộng không gian thẩm mỹ là một điều quan trọng khác, miễn là đạt đến sự nhất quán của tư duy. Nói như anh Đào Thái Tôn, những sai lầm tôi phô bày ra đây, có thể, là những "sai lầm hợp lý hơn" những người đi trước, dĩ nhiên, những người cùng một đường với mình.

Trước hết, tôi cho rằng, vấn đề Hồ Xuân Hương tác giả TNTT và Hồ Xuân Hương tác giả LHK có phải tuy hai mà một không còn chưa giải quyết xong. Hình như mọi người thừa nhận điều đó một cách tiên nghiệm. Quả thật, trong quá trình truy tìm tiểu sử Hồ Xuân Hương, một tiểu sử vốn gồm nhiều đoán định, việc phát hiện ra LHK với những dữ kiện lịch sử dễ làm người ta ngộ nhận, mặc dù chưa có những bằng cớ xác thực để hợp nhất hai cái tên trùng ấy với nhau.

Giáo sư Nguyễn Lộc, một người nghiên cứu và giảng dạy thơ Hồ Xuân Hương lâu năm, bày tỏ sự hoài nghi của mình khi thấy sự khác nhau quá xa giữa hai nhóm thơ. "So sánh những bài thơ trong LHK với những bài thơ lâu nay được truyền tụng là của Hồ Xuân Hương, thì trừ cái tình cảm phóng túng ra, nó khác nhau về mọi phương diện, đến nỗi khó có thể nghĩ rằng đó là tác phẩm của cùng một người sáng tác... Không phải chỉ khác nhau vì một đằng thuần túy trữ tình, còn một đằng thì có cả thơ trào phúng. Mà khác nhau từ phong thái, cá tính đến cách cảm nhận cuộc sống, cách sử dụng ngôn từ, bút pháp... có thể đến một lúc nào đó, có những cứ liệu vững chắc cho phép khẳng định hai nhóm thơ này tuy khác nhau như thế nhưng vẫn là của cùng một tác giả (bởi vì dù sao cũng phải tính đến khả năng có những ngoại lệ), khi ấy cố nhiên chúng ta sẽ nói về Hồ Xuân Hương trên cả hai nhóm thơ"(2).

Có lẽ, cái "lúc nào đó" mà giáo sư Nguyễn Lộc nói ở trên còn chưa phải là lúc này, bởi vì người ta chưa thấy những "cứ liệu vững chắc". Với truyền thống "bảo quản miệng" của chúng ta, sự chờ đợi có thể không biết đến bao giờ. Giá như trong LHK có lẫn vào đấy dù chỉ một bài thơ thuộc nhóm TNTT gần với nó hơn cả như chiếc bách chẳng hạn, giá như có một bài thơ nào đó còn ở dạng "cội nguồn" mà sau đó mới bị "thế tục" hóa đi thì thật dễ đi đến một kết luận. Nhưng điều đó không có. Còn như sự giải thích hiện trạng này mang tính phỏng đoán của giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì, vô hình trung, chỉ làm lộ ra cái khoảng cách mà cầu kiều cũng khó bắc nổi giữa hai nhóm thơ: "Có một thứ thơ bỡn cợt, tinh nghịch của Hồ Xuân Hương thời son trẻ. Ấy là những bài thơ ứng tác "trong khi phải đương đầu với những thư sinh chòng ghẹo, thử thách" mà Xuân Hương đã làm. Bà không quan tâm đến loại thơ này, nên không đưa vào Lưu Hương ký. Ngược lại, truyền tụng dân gian thường chỉ nhớ loại thơ ấy mà thôi"(3).

Theo anh Đào Thái Tôn, chung quanh Hồ Xuân Hương luôn luôn diễn ra sự dân gian hóa thơ và huyền thoại hóa tiểu sử. Bởi vậy, bên cạnh một Hồ Xuân Hương tác giả LHK, còn có một Xuân Hương của Xuân Đường đàm thoại (nguyên là một kỹ nữ thời Tự Đức)... Nếu vậy, Hồ Xuân Hương của TNTT cũng có thể là một người khác trùng tên, hoặc được gán tên. Thậm chí, có khi đấy chỉ là sự mạo danh của những Hồ Xuân Hương đực thì cũng chẳng sao, miễn không phải là thứ "nhị vị nhất thể".

Hồ Xuân Hương của LHK và Hồ Xuân Hương của TNTT đã cầm chắc không phải là một thì hà tất phải đặt ra vấn đề lấy LHK làm thước đo, làm hệ quy chiếu để tuyển chọn TNTT. Nhưng giả thử hai vị là một thì đó chưa chắc đã phải là một giải pháp tối ưu, bởi vì lấy một tập thơ trung bình làm khuôn thước để đong đo một tập thơ độc đáo, đặc sắc thì tránh sao khỏi làm thiệt thòi cho tác giả đã đành, mà, quan trọng hơn, cả độc giả. Đó là còn chưa nói đến sự lý giải nhóm TNTT từ trước đến nay chủ yếu vẫn trên quan điểm xã hội học, đạo đức học... nên nhiều khi hắt nước bẩn hắt luôn cả đứa trẻ trong chậu.

Vậy tuyển chọn thơ Hồ Xuân Hương (tức TNTT) nên dựa vào tiêu chí gì, vì ở đấy rõ ràng có sự xâm thực của dòng văn học dân gian. Năm 1961, trên Tạp chí Văn học ông Trần Thanh Mại đã chia thơ Hồ Xuân Hương thành ba loại: a) những bài thơ có tính tư tưởng cao và phương pháp nghệ thuật thanh nhã, b) những bài thơ có yếu tố tục, nhưng yếu tố đó nhằm mục đích yêu cầu tiến bộ, c) những bài có tính chất khêu gợi không lành mạnh, những bài có yếu tố dâm. Dĩ nhiên, hai loại thơ sau sẽ không phải là của Hồ Xuân Hương, một "nhà thơ phụ nữ nghiêm túc". Nhưng biện pháp này gặp phải những chướng ngại không dễ khắc phục bởi hiểu thế nào là dâm, thế nào là tục thật không đơn giản. Và trong thơ Hồ Xuân Hương liệu có ranh giới giữa thanh và tục?... Dường như cảm nhận được những khó khăn đó, ông Mại đã bắt đầu viện dẫn đến phạm trù phong cách. Đến năm 1982, giáo sư Nguyễn Lộc kiên quyết dựa vào phong cách để tuyển chọn tác phẩm Hồ Xuân Hương. Đây là một quyết định hết sức đúng đắn, khả thi. Bởi vì, theo giáo sư, "phong cách của một nhà thơ dù thay đổi, vẫn có những mặt thống nhất mà căn cứ vào đó, người ta vẫn có cơ sở nhận diện được nhà thơ ấy"(4).

Thống nhất với ý kiến của giáo sư Nguyễn Lộc, đến đây nhà khảo cứu lại gặp phải hai vấn đề cần giải quyết: 1- thế nào là phong cách và 2- liệu có thể tìm được phong cách thơ Hồ Xuân Hương trên một văn bản đã bị "nhuận sắc, thêm bớt"?

Theo anh Đào Thái Tôn, cho đến nay chưa ai đưa ra được một định nghĩa rõ ràng về phong cách nói chung và phong cách thơ Hồ Xuân Hương nói riêng. "Đó đây chúng ta chỉ đọc được một vài đoạn nhận xét, bình giảng của các nhà thơ, nhà nghiên cứu... Đại loại như: "Hồ Xuân Hương là con người của trần tục, là người chỉ ca ngợi vẻ trần tục và những niềm vui trần tục" hay "với Hồ Xuân Hương không có cảnh nào chết cứng, đứng yên, bất động. Cảnh của Xuân Hương luôn luôn sống động cựa quậy, luôn luôn dồi dào sức trẻ..."(5). Không coi những lời bình tán trên là những mệnh đề xác định phong cách thơ Hồ Xuân Hương, anh Đào Thái Tôn tìm phong cách thơ của nữ sĩ qua lời của Tốn Phong Thị và ý kiến của các nhà nghiên cứu ba chục năm qua. Đó là "học rộng mà thuần thục", "vui mà không buông tuồng, buồn mà không đau thương, khôn mà không lo phiền, cùng mà không bức bách"...(6). Có lẽ, những mệnh đề xác định phong cách này cũng chẳng sáng rõ được bao nhiêu. Chúng luôn luôn bị nhập nhằng giữa con người và tác phẩm, văn và người. Bảo rằng nói về bản thân Hồ Xuân Hương cũng được, mà nói về thơ của bà cũng được. Có tình trạng chồng chéo như vậy là do từ lâu người ta quá gắn bó với định nghĩa về phong cách của Buffon: "Phong cách, đó là con người" (Le style, c'est l'homme). Định nghĩa này ra đời nhằm chống lại lối nghiên cứu văn học quy phạm không chú ý gì đến cá nhân tác giả (tâm hồn, tâm lý, lý tưởng, cá tính...), nhưng rồi lại chỉ chú ý đến tiểu sử tác giả, nhất là tiểu sử xã hội; không thừa nhận tác phẩm có tính tự tại (autonomie) và đời sống vô thức của nhà văn; đồng nhất tác giả và tác phẩm nên sinh ra lối nhận xét tác phẩm dựa vào những sự kiện đời sống của nhà văn. Cũng vì vậy mới có kiểu làm ngược lại là dựa vào văn bản tác phẩm để xây dựng tiểu sử tác giả như Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến đã làm với trường hợp Hồ Xuân Hương.

Ngày nay, xác định phong cách tác phẩm, trước hết, người ta xác định nó qua ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ của tác phẩm đó. Sau những phát kiến của nhà ngôn ngữ học Saussure, ngôn ngữ không còn là một thứ vỏ đựng thông thường nội dung của tác phẩm văn học. Bởi mỗi một mã ngôn ngữ đồng thời cũng là mã tâm lý (cá nhân và dân tộc), là tư tưởng, là triết học. Cho nên phong cách là sự lệch chuẩn của ngôn ngữ tác phẩm so với những chuẩn mực của ngôn ngữ chung (cũng có khi thứ ngôn ngữ chung này được đại diện bằng ngôn ngữ của những tác phẩm khác). Độ chênh của sự lệch chuẩn như một vết nứt địa chấn cho phép nhìn sâu vào lòng tác phẩm để khám phá, tưởng tượng.

Bởi vậy, muốn tìm phong cách thơ Hồ Xuân Hương chỉ có thể và phải tìm ở chính TNTT. Người ta không thể đi tìm chuẩn của nó ở tiểu sử tác giả hay ở một tác phẩm khác, dẫu của chính bà. Có thể chọn lấy 20 hoặc 30 bài thơ theo sự mách bảo của trực giác nghệ thuật hay theo ý kiến của đa số nhà nghiên cứu cho là của chính Hồ Xuân Hương, rồi so sánh tìm ra những yếu tố bất biến, những nét được lặp đi lặp lại ở hầu hết những bài thơ, tổng hợp lại và so với chuẩn, lý giải được tính thống nhất của chúng. Đó là phong cách thơ Hồ Xuân Hương. Phong cách là một yếu tố kiến trúc của bài thơ thấm vào mọi cấp độ của thi phẩm nên mọi sự "nhuận sắc, thêm bớt" chỉ có thể tô đậm, hoặc làm mờ nhạt đi những nét phong cách chứ không làm mất phong cách được. Khi đã tìm được phong cách rồi, có thể dùng nó để soi vào những bài thơ còn lại. Nếu bài nào chứa đựng nhiều nét phong cách thì đúng là của Hồ Xuân Hương, còn nếu bài nào không có, hoặc có ít mà lại mang tính ngẫu nhiên (nghĩa là không tạo nên sự thống nhất, không có ý tưởng) thì đích thị là một thứ con ranh con lộn. Tuy nhiên, trong việc nghiên cứu thế giới thơ Hồ Xuân Hương một cách tổng thể chứ không phải tầm chương trích cú, thì những cận văn bản hay văn bản chầu rìa (paratexte) này cũng có ích theo kiểu của nó, chớ nhiều rẻ rúng.

Tôi mong có một dịp khác được trình bày phong cách thơ Hồ Xuân Hương theo phương hướng nghiên cứu này. Ở đây, trong phạm vi cho phép của một bài báo "nhân đọc" tôi muốn nhắc đến vài công trình của người đi trước đã có nói đến những nét phong cách ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương như việc dùng nhiều động từ(7), tính từ hoặc trạng từ(8) để cực tả... trong sự đối sánh với thơ Bà Huyện Thanh Quan dùng nhiều danh từ. Dĩ nhiên, phong cách thơ Hồ Xuân Hương không chỉ có những nét này, và các tác giả trên cũng không chỉ nói có thế, chẳng qua chỉ là sự đơn cử.

Thơ Hồ Xuân Hương, từ cội nguồn vào thế tục là tiêu biểu cho một hướng đi. Và anh Đào Thái Tôn là người bộ hành không mệt mỏi trên lộ trình đó. Và chắc chắn còn nhiều lối đi khác. Chúng không loại trừ nhau mà trở thành đối tác của nhau, bởi lẽ mọi con đường đều đi đến chỗ làm đẹp cho nàng thơ Việt.

Chùa Thầy, 1-1994
Đ.L.T.
(TCSH62/04-1994)

--------------------
(1) Nhân đọc: Đào Thái Tôn, Thơ Hồ Xuân Hương, từ cội nguồn vào thế tục, Nxb Giáo dục, H., 1993.
(2) Nguyễn Lộc, Thơ Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, H., 1982, tr. 8, 9.
(3) Đào Thái Tôn, sđd, tr 42.
(4) Nguyễn Lộc, sđd, tr. 13.
(5) Đào Thái Tôn, sđd, tr. 37
(6) Đào Thái Tôn, sđd, tr. 38.
(7) Đỗ Đức Hiển, Thế giới thơ nôm Hồ Xuân Hương trong Đổi mới phê bình Văn học, Nxb Khoa học xã hội và Mũi Cà Mâu, 1993.
(8) Nguyễn Văn Trung, Nhận Định, T. IV.

 

 

Các bài đã đăng