NGỌC TUYẾT
Cơn mưa cổ độ và chiều Gia Hội
Mưa Cố đô miên man. Những sợi cước thủy tinh đan lồng ngực phố, giăng mắc lên những triền thành quách nứt nẻ, lách mình vào từng tĩnh mạch rêu phong. Dưới màn nước rũ rượi ấy, vạn vật như tước bỏ lớp vỏ kiêu hãnh thường ngày, chùng vai xuống, trầm mặc cúi đầu trước cái chớp mắt vô tình của hư vô.
Tôi vén những sợi mưa, cuốc bộ dọc theo mép đường Chi Lăng. Người ta rỉ tai nhau, muốn chạm tay vào phần hồn vía thẳm sâu của Kinh thành, phải bấu víu lấy Gia Hội. Dải đất nằm kẹt giữa một sông Hương mềm như dải lụa ướt và một sông Bạch Đằng đục ngầu phù sa.
Gót giày tôi gõ xuống mặt đường loang lổ vũng nước. Tiếng lách cách gãy vụn, sắc lẹm, rồi tức tưởi chìm nghỉm vào bản dạ khúc tí tách rỏ xuống từ những mái ngói âm dương thâm u. Tôi thả mình vào con phố này không để tìm một chốn trú mưa. Tôi đi săn lùng một vệt sắc màu bị dĩ vãng tước đoạt. Không phải màu sơn son thếp vàng nơi lăng tẩm. Tôi đi tìm “Hoa lửa nở trên thai đồng” - Tôi đi lật giở những tàn tro để tìm Pháp lam.
Dừng chân trước thềm nhà số 66. Một cơn ớn lạnh lướt qua gáy, không phải cái lạnh vật lý của khí trời, mà là huyễn cảm tột cùng khi rón rén chạm đầu ngón tay vào một xấp ký ức đã ngưng thở ngót nghét hai thế kỷ. Cánh cửa mộc khép hờ mở ra một chiều không gian dị biệt. Không khí đặc quánh. Mùi của mưa ngâu thảng thốt lùi lại, nhường chỗ cho cái mùi khét lẹt, cứng cỏi của kim loại tấy đỏ, vị hăng hắc bướng bỉnh của hóa chất, và lẩn khuất đâu đó, khói trầm hương uốn éo buông những tiếng thở dài. Đây rồi, xưởng chế tác của Đỗ Hữu Triết - người đàn ông vác trên vai nửa đời người đi gọi hồn một “nàng vương phi”.
Giữa bóng tối tĩnh mịch vờn quanh, những chiếc bình, ngọc đĩa, mảng tranh Pháp lam kiêu hãnh hắt ra những quầng sáng lộng lẫy, trang đài. Chúng như những giọt nước mắt của thần linh bị ném bỏ giữa dòng trôi phàm tục, nay bỗng cựa mình rực cháy dưới mười ngón tay của kẻ tình si. Tôi chôn chân tại chỗ. “Lưỡng long chầu nguyệt” đang nhảy múa. Rồng uốn vây cựa vảy lấp loáng như ngậm bích ngọc, sắc xanh thăm thẳm, hun hút và đoạt mạng như đáy vực trùng dương. Một nhan sắc đan cài giữa thực và mộng, mang cái gân guốc bất tử của kim khí, lại ngậm cái lả lướt, mỏng mảnh đến đau lòng của thủy tinh. Đó là thứ nhan sắc tái sinh qua ngàn độ lửa.
Giấc mơ xa hoa và vết cắt hai thế kỷ
Ngồi đối diện Đỗ Hữu Triết bên kỷ trà gỗ mộc, ngoài kia, mưa vẫn kiên nhẫn đan những sợi buồn lên phố cổ. Câu chuyện của chúng tôi bị bứt khỏi hiện tại, trôi tuột về dĩ vãng. Triết không mang cái vẻ cục mịch của thợ, ở anh toát lên cái cốt cách lạnh lùng của một khối óc khoa học (anh vốn dĩ mang hàm Thạc sĩ Vật lý). Thế nhưng, ẩn sâu dưới đáy mắt ấy lại nhen nhóm một ngọn cuồng phong của kẻ “bán mạng” vì cái đẹp.
Anh rưới một chén trà lạt, giọng trầm đục vén bức rèm mang tên “Pháp lam”. Ngược dòng phù sa, chạm vào triều vua Minh Mạng năm thứ 8 (1827). Vị hoàng đế nức tiếng với tư duy sắc sảo và gu thẩm mỹ đoạt mệnh ấy đã hạ chỉ lập “Pháp lam tượng cục”. Một xưởng chế tác biệt lập, chễm chệ ngay rốn Kinh thành, bòn rút những thợ thủ công cự phách nhất cõi An Nam, chỉ để nặn ra những món xa xỉ phẩm phục vụ sự thụ hưởng xa hoa của cung đình, đồ tế khí thiêng liêng, và khoác lên những công trình kiến trúc hoàng gia một lớp y phục vĩnh cửu.
Pháp lam (Émaux cloisonnés / Hermailles) bản chất là một thứ ma thuật tráng men trên cốt đồng, một đứa con lai mang dòng máu phương Tây, theo những chuyến tàu buôn trôi dạt qua phương Bắc trước khi thả neo tại bến nước Việt Nam. Nhưng chạm vào tay người thợ Huế, thứ nghệ thuật ngoại lai ấy bị tước đoạt sự lạnh lùng nguyên bản, bị “Việt hóa” đến tận cùng gốc rễ, trở thành một tuyệt sắc giai nhân mang cốt cách giao chỉ. Pháp lam Huế khước từ cái khuôn sáo của Cảnh Thái Lam (Trung Quốc) hay cái diễm lệ phù phiếm của Limoges (Pháp). Nó chọn cho mình nét cọ lơi lả nhưng dứt khoát, những mảng màu trầm uất như giấu cả vạn nỗi niềm, và thứ bản lĩnh lì lợm, dám trơ gan vươn mình thách thức cái nắng cháy da và những cơn mưa của xứ nhiệt đới.
Tôi nhắm mắt, để tâm thức tái tạo lại những tháng năm huy hoàng đã tàn lụi. Tôi thấy những lò nung hực lửa như chảo vạc ngày đêm nhai nuốt bóng tối bên đôi bờ Hương giang. Tôi thấy những người thợ rạp mình, đôi tay chai sần cặm cụi nghiền nát những khối đá, pha màu bằng mồ hôi, đắp điếm từng thớ men lên thai đồng lạnh lẽo. Họ đã sinh ra những kiệt tác làm lóa mắt người đời, ngự trị trên những mái nghi môn nghễnh ngãng, bờ nóc điện Thái Hòa, lăng Minh Mạng... Những khối màu ngang tàng: vàng hoàng yến bức người, xanh lục bảo sâu thẳm, đỏ son rực rỡ và tím than day dứt... đã nhào nặn nên một chốn lầu son gác tía uy linh đến rợn ngợp. Lúc bấy giờ, Pháp lam là máu thịt của hoàng triều, là sự kiêu hãnh của một quốc gia.
Nhưng hỡi ôi, con tạo xưa nay vốn tàn nhẫn với hồng nhan. Gió bụi thời cuộc gào thét. Qua thời Thiệu Trị, sang thời Tự Đức, súng lệnh của thực dân gầm xé toạc cả bầu không khí vương giả của hoàng triều. Bầu sữa kinh tế cạn kiệt. Pháp lam tượng cục lay lắt như ngọn nến trước bão, rồi lụi tàn. Những mật mã pha màu bị niêm phong, những bậc thầy thủ công kẻ tản mác như bèo dạt, người mang theo bí thuật câm nín xuống đáy huyệt sâu. Gần hai trăm năm sau đó, “nàng vương phi” ấy chỉ còn vương lại những mảng bong tróc, lở loét trên các vành mái di tích, nằm thoi thóp trong những dòng sử liệu lạnh tanh.
“Cô biết không,” giọng anh Triết vỡ ra, như thể thanh âm vừa tựa vào một vết cứa, “nhiều bận đứng dưới cửa Ngọ Môn, nhìn những phiến Pháp lam bị thời gian cào rách, trơ lại phần thai đồng xám xịt, đen đúa, tôi nghe da thịt mình tấy buốt. Đó đâu chỉ là sự mục rữa của gạch đá vô tri. Đó là một mảng văn hóa đang ứa máu.”
Cái vỏ bọc kiêu sa mòn mỏi của tôi bỗng nhiên vỡ nát trước một câu nói sắc như dao cạo của người nghệ nhân. Tôi bừng tỉnh. Sự lãng mạn mà tôi mải miết đi tìm không phải là những lớp áo xống lấp lánh bề ngoài. Sự lãng mạn tột cùng, rợn ngợp nhất, lại nằm kẹt giữa những vết rạn của đớn đau và khát vọng điên cuồng muốn chuộc lại những tàn tro đã tắt. Đó là một thứ lãng mạn tàn bạo và bi tráng vô ngần.
Điệu cuồng vũ của hóa học và mẻ cược bằng tâm thức
Anh dẫn tôi luồn sâu vào cuống phổi của xưởng chế tác. Không khí ở đây bị vắt kiệt bởi sự nhẫn nại. Trái với mường tượng của tôi về một không gian bụi bặm, rệu rã của thợ thuyền, phòng thao tác gầm ghè cái trật tự tàn nhẫn của một tay làm khoa học. Ngăn nắp, tính toán và vô trùng.
Tiến trình tượng hình một tác phẩm Pháp lam, qua lời kể của Triết, là một cuộc giao hoan khắc nghiệt giữa ba thế lực: Kim (đồng), Thổ (men - linh hồn của khoáng chất) và Hỏa (ngọn lửa). Khởi thủy là làm thai (cốt). Những tấm đồng đỏ rực nguyên bản bị đưa lên đe, bị búa tạ vô tình đập, cắt, gò, ép uốn thành những vóc dáng định sẵn. Đôi bàn tay người thợ gò lúc này phải tàn bạo như gông cùm, nhưng cũng lại phải lả lướt, vuốt ve như tay kẻ tình nhân để gò nên những đường cong lơi lả. Chỉ một vết hằn bướng bỉnh, một vết cấn vô tình, tác phẩm sẽ bị kết án tử từ trong trứng nước.
Khốc liệt nhất, tử huyệt của nghề, nằm ở khâu tráng men - thứ mật mã mà Đỗ Hữu Triết đã đốt rụi 15 năm thanh xuân để bẻ khóa. Men Pháp lam nào phải thứ sơn phết ẻo lả mua ngoài chợ, cũng chẳng nền nếp như men gốm bình dân. Nó là một nồi lẩu của quỷ dữ: sự cấu kết dị biệt giữa cát thạch anh, đá lửa, kiềm, chì oxit và những kim loại nặng mang đặc quyền tạo sắc (đồng đúc ra màu xanh mướt mát, sắt bức ra sắc đỏ bầm, cobalt vắt ra màu xanh thăm thẳm, và vàng ròng thì nhỏ máu thành sắc hồng tím kiêu sa).
Tôi miết ánh nhìn vào những lọ bột phấn nín lặng trên kệ gỗ. Chúng giấu mình dưới lớp vỏ bọc hiền từ như bụi phấn hoa, nhưng chỉ cần Hỏa thần liếm qua, chúng sẽ lột xác, hóa thành những tinh linh biến ảo khôn lường. Triết ngậm cây cọ lông sói, chấm nhẹ vào bát men, tỉ mẩn mớm từng giọt màu lên thai đồng đã phủ lót. Anh đang đánh thức một đóa sen. Cánh hồng mọng nước, nhụy vàng ươm, đài xanh biếc từ từ rướn mình khỏi ngòi bút. Nét cọ không phù phiếm buông lơi như lối thủy mặc, mà dằn vặt, cẩn trọng, găm chặt vào cốt kim loại nhưng vẫn nhả ra cái khí chất thanh lãnh của đóa hoa quân tử.
“Vẽ trên xuyến chỉ, lỡ tay thì vò nát xấp giấy. Khảm trên gốm, lấm lem thì cạo bỏ. Nhưng gieo màu lên Pháp lam, mỗi cái lia bút là một lần dốc túi cá cược với quỷ thần,” anh lầm bầm, nhãn quan ghim chặt vào đầu cọ. “Thấy lóng lánh vậy chứ lúc vẽ, màu nào cũng nhờn nhợt, câm điếc như nhau. Người thợ không vẽ bằng mắt. Họ găm cái mã màu ấy vào nơron thần kinh, mường tượng ra nhan sắc của nó ở thì tương lai. Đó là thứ nghệ thuật điêu khắc bằng tâm thức.”
Rồi, giây phút định mệnh ập đến: Tế Lửa.
Chiếc bình được tống vào bụng lò nung. Nhiệt kế leo thang điên cuồng, chạm mốc 850 độ C. Trong chốn luyện ngục ấy, chất đồng cứng cỏi bắt đầu nức nở, vặn mình mềm nhũn, những hạt tinh thể men bắt đầu tan chảy, chúng quấn lấy nhau, cấu xé và dung hợp vào lớp da thịt kim loại. Đó là lúc Hỏa thần mở cuộc phán xét. Nhiệt dư thừa, men sẽ trào ra như nước mắt, màu sắc cháy khét thành than. Nhiệt thoi thóp, men sẽ sượng trân, để lại một lớp da sần sùi, chết yểu.
Tôi nín thở, ghé mắt vào ô cửa kính bằng bàn tay. Bên trong là một địa ngục diễm lệ. Tác phẩm rực lên như một vầng thái dương bị giam cầm. Trong cái dạ dày bằng lửa ấy, một cuộc đảo chính của vật chất đang âm thầm gào thét. Sự va đập của tinh thể, sự cọ xát của ánh sáng và sự quy hàng của kim loại.
Khi cửa lò mở toang, một luồng hỏa khí táp thẳng vào mặt tôi, rát bỏng. Chiếc bình được nhấc ra, và một màn ảo thuật bắt đầu. Nhiệt độ tuột dốc, màu sắc mới chịu hiện hình. Từ tảng than đỏ ối, nó chuyển dạ sang sắc cam gắt, rồi ngưng đọng lại thành màu ngọc bích sắc lẹm, màu hồng phấn lả lơi, và vàng cúc uy quyền. Lớp áo thủy tinh căng mọng, trong veo, ôm khít rịt lấy cốt đồng, tước đoạt toàn bộ sự gồ ghề của kim khí, chỉ bóp nặn ra một vẻ lộng lẫy và ma mị đến cùng cực.
Đó là khoảnh khắc của sự niết bàn. Tôi chợt rùng mình vỡ lẽ, vì cớ gì các bậc đế vương nhà Nguyễn lại cuồng mê thứ nghệ thuật này đến độ ám ảnh. Nó lộng lẫy tột cùng, sắc sảo tột cùng, nhưng lại cứng cỏi đến tàn nhẫn. Nó là tấm gương phản chiếu chính sự kiêu hãnh của vương quyền: bên ngoài rực rỡ bức người, nhưng bên trong là một cốt cách không thể bị bẻ gãy.
Nhặt nhạnh mảnh vỡ, vá víu hồn người
Mưa vẫn gõ những nhịp gãy vụn trên mái tôn. Trong thứ âm thanh rỉ rả ấy, hành trình chuộc lại dĩ vãng của Đỗ Hữu Triết vang lên như một khúc bi ca.
Năm 2005, khi anh lao đầu vào cái “vũng lầy” mang tên Pháp lam, mọi thứ chỉ là khoảng không trắng ởn. Chẳng có tài liệu để vin vào, chẳng có tiền bối để bái lạy. Người ta dè bỉu anh điên rồ. Một gã thạc sĩ đang yên vị trên bục giảng, cớ sao lại đâm sầm vào đống tro tàn của một cái nghề đã… tuyệt tự? Triết chỉ cười khẩy, bảo đó là “nghiệp chướng”. Đẻ ra từ rốn Kinh thành, hít thở cái mùi ngai ngái của lăng tẩm, cái gen bướng bỉnh của cha ông cựa quậy trong máu không cho phép anh trơ mắt nhìn di sản hóa bùn.
Anh dốc cạn gia sản, cắn răng gõ cửa vay mượn khắp chốn chỉ để gom hóa chất, đắp lò. Hàng nghìn mẻ thí nghiệm vỡ nát. Hàng tấn đồng đỏ và men khoáng bị tống ra bãi rác. Có những đêm trắng mắt ngồi canh lửa, lúc mở lò, thấy lớp men nứt toác, lở loét, anh tưởng như lồng ngực mình bị ai móc rỗng. “Men và cốt đồng không đồng thuận, chúng cắn xé nhau. Giữa đêm khuya, nghe tiếng men nứt bung bét, âm thanh ấy nhọn hoắt như tiếng gãy của sụn xương, ruột gan tôi như bị dao xắt”, anh kể, đôi mắt dội về một cõi xa xăm.
Ác mộng lớn nhất của anh là phải định vị lại bảng màu. Màu xanh lục lam của Huế (bleu de Hué) không chói lóa như phẩm màu công nghiệp rẻ tiền. Nó mang một sắc độ u uất, sâu hoắm, như giấu cả một đại dương giông bão bên trong. Để gọi đúng cái tên màu ấy, anh phải đi xin, đi bới từng mảnh sành Pháp lam vỡ vụn từ các bãi trùng tu, đưa vào phòng lab phân tích, rồi vật vã ép các nguyên tố hóa học phải lên tiếng. Anh đã dùng thứ lý trí sắc lạnh của vật lý để vá víu lại tâm hồn đa mang của một nền nghệ thuật cổ.
Đó là một cuộc đàm phán nghẹt thở giữa thực tại và quá khứ. Triết không chỉ là gã thợ hàn gắn vật chất, anh là thầy pháp gọi hồn nghệ thuật. Những hoa văn Bát Bửu, Tứ Linh, Mai Lan Cúc Trúc dưới đầu cọ của anh không nằm chết bẹp trên mặt phẳng. Chúng cựa quậy, hít thở cái không khí đương đại nhưng vẫn rỏ xuống những giọt đài các của ngàn năm.
Tôi nâng trên tay một hộp phấn Pháp lam. Hình dáng thon nhỏ, nằm lọt thỏm giữa cõi vắng của lòng bàn tay, nhưng nặng trịch những ưu tư. Trên nắp, cành mai vàng rực rỡ trổ nụ trên nền men xanh thăm thẳm. Lướt ngón tay qua bề mặt căng bóng lạnh toát ấy, tôi tưởng như mình đang vuốt ve làn da kiều diễm của một mỹ nhân triều Nguyễn. Nhắm mắt lại, tôi thấy những bóng hồng chốn Tử Cấm thành, họ giấu những mưu toan bóp nghẹt, những giọt lệ tủi hờn đằng sau hộp phấn nhung lụa này.
Pháp lam, trong giây phút ấy, tước bỏ thân phận vật chất phàm tục. Nó là chứng nhân câm lặng của kiếp người. Nó phơi bày sự xa hoa đến rợn ngợp, và nuốt chửng cả những bi kịch thâm cung không bao giờ được ghi vào sử sách. Cái độ lỳ lợm vĩnh cửu của lớp men đối chọi gay gắt với sự mỏng manh, phù du của nhục thể con người, tạo ra một vết nứt triết học làm ta đau điếng. Lời nguyền “Trăm năm bia đá thì mòn” trở nên vô nghĩa trước thứ men kỳ lạ này. Chỉ cần không bị búa đập, sắc men Pháp lam thách thức cả ngàn năm dâu bể. Phải chăng, những đốm lửa hóa học kia chính là tham vọng trường sinh bất tử mà các bậc đế vương từng tuyệt vọng kiếm tìm?
Độc thoại cùng dĩ vãng
Trời đã tạnh. Những giọt nước bướng bỉnh đọng lại trên mái hiên rỏ xuống mặt vũng, vẽ ra những vòng tròn đồng tâm loang lổ rồi tan biến. Tôi lê bước khỏi xưởng gò, thấy lồng ngực mình chật chội những triết lý và hoài niệm.
Huế, vĩnh viễn là cái nôi của những kẻ trót mang kiếp lãng du hoài cổ. Ở chốn này, quá khứ không chết đi, nó chỉ trùm chăn giả vờ ngủ say, đợi một bàn tay chạm vào để rùng mình sống dậy.
Tôi ngoái đầu nhìn lại những vệt màu rực rỡ qua khung cửa. Chúng không bao giờ hạ mình làm những món đồ lưu niệm vô tri nhét trong vali du khách. Chúng là những mật ngữ của thời đại. Khi ai đó mang một mảng Pháp lam đi xa, họ đang gánh theo cả một bề dày đớn đau, kiêu hãnh và sự lì lợm đến tàn nhẫn của hồn cốt Việt Nam.
Tôi nhắm mắt, mường tượng lại những “đóa hoa” đang bị “thiêu sống” trong lồng ấp 850 độ. Kiếp người, ngẫm ra có khác gì đâu? Để vươn tới cái đỉnh tháp của sự hoàn mỹ, để cắm rễ vào vĩnh hằng, người ta buộc phải để bản thân bị thời gian và nghịch cảnh thiêu đốt.
Dưới kia, sông Hương vẫn ủ rũ buông mình trôi, lững lờ chở theo cái bóng đen thẫm của những bức thành xây bằng đá tảng. Đâu đó trong hơi nước mờ mịt, bóng dáng hoàng đế Minh Mạng như đang khoanh tay đứng lặng trên rào chắn thời gian, và bên này, gã thợ Đỗ Hữu Triết với mái đầu lấm tấm sương bỗng nhếch môi cười trước một mẻ men vừa chín tới.
Một cái bắt tay xuyên thế kỷ. Âm thầm, gân guốc và chấn động.
Phố đã rải ánh đèn vàng úa. Tôi rời Gia Hội. Bước chân giẫm lên những vũng nước in bóng đèn loang lổ như một bức tranh phái ấn tượng bị hắt nước. Cổ tay tôi lành lạnh. Ở đó, một chiếc vòng Pháp lam bé xíu anh Triết dúi tặng đang ôm lấy mạch máu. Mảng men màu thiên thanh thêu dệt những vệt mây ngũ sắc.
Có lẽ, tôi sẽ mang cái “mùi” khét lẹt của lửa hóa học, cái “vị” đắng chát của thời gian, và sự “kiêu kỳ” của tàn tro ấy đi rất xa khỏi đất này. Để mỗi lần chạm tay vào bề mặt lạnh ngắt ấy, tôi lại thấy sống lại một chiều Gia Hội nhỏ lệ. Nơi tôi chạm mặt những con người bướng bỉnh, dám dùng sinh mệnh để đi vá víu màu thời gian trên những cốt đồng đã mục nát.
Và tôi hiểu ra một điều, tận cùng của sự kiêu sa không nằm ở váy áo ồn ào hay những lời tuyên ngôn rỗng tuếch. Kiêu sa thực sự là sự trầm tĩnh, cắn răng chịu đựng những vết nứt rạn của dâu bể, để rồi lặng lẽ tỏa ra một thứ hào quang sát thủ giữa dòng chảy tàn nhẫn của dĩ vãng. Pháp lam, suy cho cùng, nào phải màu men. Đó là tủy xương của ký ức, là thứ màu son sắt đến rợn người của cố hương.
Huế, một ngày mưa ướt sũng cõi lòng.
N.T
(TCSH449/07-2026)