Bút ký - Tản văn
Mộng giấc xuân cùng Tết Huế
08:23 | 13/02/2026

TRẦN BĂNG KHUÊ
                    Bút ký

Giấc mơ không hồi kết, như là Tết trong từng ký ức.

Mộng giấc xuân cùng Tết Huế
Ảnh của NSNA Lê Đình Hoàng

Khi người ta bắt đầu đếm tuổi bằng cách nhìn mái tóc chuyển màu, thêm một mùa xuân đến, cũng thấy hư hao đi phần nào những xanh non thời trẻ dại, ước mình có thể quay ngược kim đồng hồ, trở về làm một đứa trẻ con, đêm nằm còn mộng, mơ pháo Tết nổ ran trong ký ức. Rồi, sớm mai tỉnh thức, cũng hớn hở, đợi chờ được mặc lên người bộ đồ mới tươi tắn, mắt cười lúng liếng đón mừng xuân đến tận cửa nhà, miệng líu lo chúc phúc ông bà, cha mẹ. Nhưng, thực tại vẫn là thực tại. Sợ cái tuổi nó đuổi xuân đi, nên vẫn muốn tranh thủ những cuộc lang thang mây trời non nước, ngắm nghía bao chuyển biến, đổi thay của sông núi thời điểm giao mùa.

Huế những ngày vừa quen vừa lạ. Tự hình dung ra mấy mùa xuân trên lưng ngựa cho thỏa chí tang bồng chưa đã đầy tuổi trẻ, nhấp đôi ba chén tửu thơm nồng mùi tết mà nhớ ra, thời bé dại đã từng uống đến say mèm nghiêng ngả thứ rượu nếp ngọt ngào, thơm như sữa mẹ nấu mẹ ủ. Giờ giấc mộng ấy đã thành ký ức, chỉ còn giấc mộng nay, chờ đợi mình. Bất giác nghe như nhịp thơ mộng cuộc tình si rằng, xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua/ xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già, của thi nhân, ta cũng vội vàng ngước nhìn lên những nhánh cây khô gầy cuối đông, thấy mầm non xanh đang bắt đầu vươn mình.

Hết mưa là nắng đổ tràn lấp lánh mọi nẻo bến bờ lau lách, khắp phố phường xứ Cố đô dường như đều hoan hỉ, reo vui. Tâm thế của kẻ chuẩn bị thử làm một cuộc rong chơi, cứ ngỡ như đất trời cũng đang mở lối cho cả hương sắc của Huế được dự phần đón chờ khoảnh khắc đơm nụ nở hoa những ngày giáp Tết, đầu xuân. Chỉ cần nhắm mắt, thì chẳng phải đắn đo phân định thêm ranh giới đã xa, hay đang gần lại, hoặc có hoặc không. Nhưng rất rõ ràng khi nhận ra một giấc mộng quen chưa bao giờ có hồi kết, bởi lẽ Xuân vẫn là mộng, mộng vẫn là Xuân.

Ngày xuân ban lịch ở cổng phía Nam, Hoàng thành - tái hiện cảnh cũ tích xưa

Theo sử liệu, Ngọ Môn là nơi diễn ra các sự kiện, nghi lễ quan trọng. Các vị vua triều Nguyễn thường ngự xem duyệt binh, tham dự các lễ Truyền lô - xướng danh sĩ tử thi đỗ tiến sĩ, lễ Ban sóc (ban lịch) đầu năm mới. Đây cũng là một công trình kiến trúc tiêu biểu, đậm đà bản sắc dân tộc, mang tính biểu tượng của xứ Cố đô.

Đón xuân ở Huế, vì thế cũng có điều khác biệt lắm. Vốn dĩ là Kinh đô xưa, nơi còn lưu giữ nhiều nghi thức, lễ tiết, nên đã nhắc thì phải nhớ ngày mồng một đầu tháng năm mới, thường có lệ ban lịch của thời Nguyễn, vì rằng: “Nước Đại Nam: Lấy việc khuyến nông làm trọng, cái ăn của dân ví lớn đất trời. Dưới trên tất thảy như sau, xem lịch số tính thời tiết canh nông; Gần xa đều cùng một mối, cày ruộng nuôi tằm siêng năng đồng áng”1. Mượn nhờ tiếp hai câu cuối trong bài “Gia bình ban sóc tác” của vua Thiệu Trị rằng: Khắp cõi Đại Nam cùng lịch số,/ Lâu dài trị nước vẻ vang dày, do tác giả Nguyễn Phước Hải Trung phiên âm và dịch thơ về lễ Ban sóc đầu năm, để trải nghiệm một chút cảm giác, hòng nhận diện những ý nghĩ của mình về thời gian với nghi lễ trang trọng ý nghĩa này. Thử lẩm nhẩm đọc thêm Gia bình ban sóc của vua Minh Mạng, để kiếm tìm sự khác biệt giữa hiện tại và ký ức lịch sử, hoặc có khi chỉ là để thắc mắc, tò mò khung cảnh mùa xuân non xanh nước biếc, người ngựa lại qua ở chốn này lúc ấy ra sao?

Trong thời khắc năm Ất Tỵ chuyển sang Bính Ngọ, nghe nhắc đến Lễ Ban sóc - một nghi thức dưới triều Nguyễn. Lễ Ban sóc lần đầu tiên là vào năm Tân Sửu (1841), được Hoàng đế Minh Mạng chỉ dụ thực hiện ở Ngọ Môn. Lễ Ban sóc (phát lịch) gắn liền với việc biên soạn, in ấn lịch, có ý nghĩa phục vụ cho công việc nông nghiệp, bắt đầu từ lý do người Việt lấy nghề nông làm chính, nên xem lễ Ban sóc cũng là khởi đầu cho một năm mới, vụ mùa mới. Thỉnh thoảng, người ham rong ruổi cứ mơ mơ màng màng, hóa ra vẫn còn nhiều cuộc mộng quá chừng về thứ cảm giác lạ kỳ mong chờ diễn tiến của một nghi lễ được tái hiện lại bằng hình thức sân khấu hóa khi nhìn vào cuốn lịch bắt đầu năm mới.

Trời thì tròn đất thì vuông, người mộng cuộc xuân thì mà ngược dốc Nam Giao

Một lần, được nghe giọng người xưa, nay vẫn còn đó ngân vang giọng đọc bài văn tế khi đất trời vào mùa nở hoa thay sắc đổi màu: “Nhân dịp đầu xuân về, giang sơn tô thắm, cây cỏ tốt tươi, người vật tràn trề nhựa sống, hạ thần thay mặt toàn thể thần dân, cùng các triều thần, hạ thần xin kính dâng lên Đức Chúa tể muôn loài của cõi Trời và cõi Đất, lễ vật tam sinh, ngọc ngà, tơ lụa, gạo rượu, hương hoa phẩm vật”... (trích Hồi ức vua Bảo Đại), kẻ hậu sinh lại nhớ thời còn sức trẻ mười chín hai mươi mà nghĩ chỉ như kiểu “mười bảy bẻ gãy sừng trâu”, vừa thở vừa đạp xe ngược dốc lên tận đàn Nam Giao để tham gia mấy buổi sinh hoạt ngoại khóa ngoài trời sau giờ học, mà cũng khá hào hứng. Mắt không thể nào rời khỏi những mảng rừng thông xanh mướt, cao ngút tận trời. Nhưng giờ, quay lại, mới để ý đây là một không gian thinh lặng, trầm tĩnh, linh thiêng của trời và đất không phải nơi chốn để mộng mơ nhặt nhạnh mấy quả thông rơi rụng dưới gốc như xưa nữa.

Những ngày giáp Tết, muốn tìm đến một không gian xanh, lại thử thong dong theo những cung đường quen thuộc như Điện Biên Phủ, rẽ Ngự Bình rồi qua Tam Thai (phía đông thành phố) hay đường Minh Mạng (phía tây), để đến Nam Giao, để tận mắt chiêm quan sự tồn tại của đàn tế duy nhất còn lại ở Huế được vua Gia Long khởi công xây dựng năm 1806. Trong tư liệu sử sách của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế2, bài viết Lễ và Đàn tế Nam Giao - nét văn hóa cung đình đặc sắc của triều Nguyễn chia sẻ trích dẫn từ Hồi ức vua Bảo Đại mô tả về công trình kiến trúc độc đáo này dù chỉ vài nét sơ lược để người đời sau có thể hình dung: “Đàn Nam Giao trải dài trên diện tích hơn 100.000m2 đất, đàn cao gần 5m, chia thành 3 tầng quay về hướng Nam, tượng trưng cho 3 yếu tố Thiên - Địa - Nhân. Tầng trên cùng là Viên đàn, mang hình tròn, tượng trưng cho trời, tầng giữa gọi là Phương đàn, tượng trưng cho đất, tầng thấp nhất là hình vuông, tượng trưng cho người, tầng này có 4 mặt thềm 4 bậc. Ba tầng đàn đều xây lan can sơn các màu khác nhau tượng trưng cho các yếu tố tương ứng. Xung quanh đàn trồng rất nhiều thông, ngoài ra còn có một số công trình khác như Trai Cung (nơi vua sẽ tạm trú vài ngày để chay tịnh trước khi tế), Thần trù (nhà bếp), Thần khố (nhà kho)…”.

Lễ tế Giao còn được gọi là nghi lễ tế trời đất theo lệ từ xưa thường diễn ra long trọng ba năm một lần vào mùa xuân, nhằm thể hiện vai trò “Thiên tử” của nhà vua, để chính danh với thiên hạ và để gửi gắm những ước mơ, khát vọng của con người với thần linh về một thế giới thái bình, no ấm, con người sống hài hòa với tự nhiên. Đây là một nét văn hóa cung đình độc đáo, mang lại giá trị lịch sử và giá trị nhân văn đặc sắc. Lễ tế đầu tiên được thực hiện vào năm 1807. Sau một thời gian gián đoạn vì các yếu tố lịch sử, đàn Nam Giao trở thành một địa điểm, một công trình kiến trúc cổ linh thiêng được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1993, được Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế trùng tu tôn tạo, và phục dựng lại lễ tế lần đầu tiên ở Festival 2004 nhằm lưu giữ một nét đẹp văn hóa truyền thống. Lễ tế Giao cũng trở thành một điểm nhấn của các mùa Festival Huế.

Ngoảnh đi ngoảnh lại, đã hơn hai mươi năm có lẻ. Chầm chậm bước chân vào hẳn khuôn viên bên trong, nhìn rừng thông xanh phủ quanh tứ bề đàn tế Nam Giao, có người trai trẻ xưa đang trầm ngâm, ngẩn người chỉ về phía đông, phía tây, nơi đó thời gian đứng yên như chưa bao giờ đổi thay vậy. Bỗng nhớ ra từng đọc đâu đó về việc vua Minh Mạng trước lễ tế Giao 1834 đã tự tay trồng 10 cây thông ở sân Trai Cung mà ngẫm ngợi cái tâm ý của tiền nhân. Xuân về, thông reo trong gió, lặng nghe tiếng thở của đất trời linh thiêng, tiếp tục rời chân rời khỏi đàn Nam Giao để vào Thành nội, xem mai vàng đã bắt đầu đơm nụ hay chưa? Có khi mộng một cuộc đi bằng tâm thức trở về với ký ức lịch sử, rồi bất giác lại tò mò những khung cảnh đón tết ngày xưa của vua quan cung đình Huế.

Giấc mộng thơm hương nồng từ xứ Kim Long cùng Tết Huế

Mượn sự khởi đầu từ đôi dòng chữ Tết Huế đậm màu sắc truyền thống này từ một hoạt động thường niên khá ý nghĩa do Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Huế tổ chức. Lần đầu tiên vào năm 2018, cho đến nay đã trở thành một hoạt động văn hóa, truyền thống không thể thiếu vào mỗi dịp tết đến xuân về của người dân xứ Huế, được lan tỏa và nâng tầm về quy mô, chất lượng. Trong bài viết trên báo Thanh Niên Tái hiện Tết Huế xưa, thu hút hàng ngàn người dân của nhà báo Bùi Ngọc Long vừa hay đủ để khiến kẻ ham cuộc rong chơi, chờ mong đến mùa Tết Huế năm này rộn ràng hương sắc biện bày dưới mắt mình.

Chẳng phải vô cớ mà nghe ra hương vị của mùa xuân riêng có của Huế ở xứ Kim Long. Một ngày chia đôi hai thứ cảm thức vừa thực vừa mộng. Sớm ngược dốc lên đồi ngắm rừng thông xanh mắt, tìm kiếm hơi thở của đất trời linh thiêng trong từng tâm ý riêng mình, chỉ để biết rằng, mỗi một cung đường, mỗi một nơi từng đến đều có cơ duyên. Dù chỉ là mộng, hoặc không phải mộng, dẫu có vô thường, nhưng xuân là thực, đất trời đổi mùa là thực, sắc màu của đèn lồng, pháo giấy treo cao đỏ thắm trong mắt mình cũng là thực. Hoặc lắng nghe vọng về một thứ âm thanh vừa như ảo như thực, mộng chợt hóa thành bức tranh xuân tình lứa đôi trong tiếng thúc ngựa câu giòn gót chân của người quân tử, mà mơ tiếp về một phân cảnh cỏ pha màu áo nhuộm non da trời như dựng lại cả cuộc đời tài sắc thăng trầm chìm nổi của nàng Kiều. Thực tình, chỉ mượn cảnh xuân xưa mà thương vội thương vàng từng khoảnh khắc thời gian đã qua và đang đến, đã chạm vào ngõ Huế bốn bề từ núi sông đến những bờ tường thành cổ phủ rêu phong.

Nhưng thôi, ta theo bóng chân “ngựa người - người ngựa”, xuôi từ Nam Giao lên đồi Vọng Cảnh, từ Huyền Trân Công Chúa mà sang nhịp cầu mới Nguyễn Hoàng bắc ngang con sông Hương, để cùng làm một cuộc mộng về phía Kim Long. Dọc đường gió bụi, nghe nói bên đó đã ngâm gừng, nổi lửa, sên mứt, nghe nói mùa Tết Huế không thể thiếu những dư vị cay nồng, ấm áp này. Lại nhớ cái câu người Huế nào cũng thuộc nằm lòng: Kim Long có gái mỹ miều/ Trẫm thương trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi, hóa ra là thật, gặp cô gái Kim Long xinh xắn, cười duyên chân thành chỉ đường dẫn lối mới vào được nhà người còn giữ nghề truyền thống ba đời của Huế. Bếp sên mứt gừng đang đỏ lửa, dưới là than xung quanh là củi. Trên sân còn có mấy mẻ mứt gừng vừa mới xong nóng hổi, thơm nồng. Bấy lâu, tính tình cũng khá ngại ngần với người lạ, mà nay đến nhà chú Dân, nghe giọng Huế cất lên, lại liến thoắng hỏi han đủ thứ. Gừng ni chú lấy ở mô? Các công đoạn tạo thành sản phẩm như thế nào? Vợ chú, người đang ngồi rong mứt đãi mứt cho tơi bớt đường ngọt xuống nong nia rỉ rả, mọi công đoạn đều phải làm thủ công, mứt chỉ sên bằng bếp củi mới đảm bảo được thành phẩm. Mệ, thế hệ giữ lửa truyền nghề chống gậy ngồi nhìn đôi vợ chồng trung tuổi mỉm cười hoan hỉ, nhưng lại nghe ra như có chiều trầm tư mà rằng: “nghề vất vả, nên thế hệ sau, chẳng có mấy ai mặn mà muốn tiếp nối…”, chú Dân thì vừa đưa đôi đũa cả sên mứt trên bếp cho chàng khách lãng tử lạ thử trải nghiệm nở nụ cười đầy tâm tư: “cũng chỉ còn khoảng tám lò nổi lửa giữ nghề…”.

Phía góc sân vườn nhà người thợ làm nghề mứt gừng mỗi mùa tết, thấy khoảng không gian nhỏ, cạnh vòi máy nước, hẳn là nơi bắt đầu các công đoạn sơ chế, cắt gọt gừng tươi gốc cũng từ Kim Long. Chợt nhớ, có người o ruột, rời Huế, xa quê đã lâu, vẫn giữ nếp cũ truyền thống, mỗi năm tết đến xuân về lại thấy o đỏ lửa sên mứt gừng, tranh thủ kiếm thêm chút ít lộc cuối năm, dùng làm thức quà thơm thảo gửi đến anh chị em con cháu để lưu hương giữ vị quen mà thương mà nhớ. Năm mới nào cũng phải được ngấm, thấm từng lát gừng cay, chầm chậm thư thả bên tách trà ấm nóng trong tiết trời se lạnh mới đủ dư âm của mùa xuân, của Tết Huế.

Tháng giêng là tháng ăn chơi, câu ca dân gian này chẳng nhất thiết phải mang ý nghĩa cổ vũ cho sự biếng lười mùa Tết xuyên hết cả năm, bởi còn có câu tiếp nối khác rằng: Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà/ Tháng ba thì đậu đã già/ Ta đi ta hái về nhà phơi khô. Tranh thủ nhờ ý xuân thơm nồng ở Kim Long, mượn những cánh đồng hoa Dạ Lê, Dương Nỗ, Thủy Vân đang vào mùa trổ nhụy, mượn những chiếc bánh tiến vua ở làng ngũ sắc Kim Long, mượn đôi nén trầm ở làng hương Thủy Xuân dưới chân đồi Vọng Cảnh của xứ Huế để giải trình một giấc mộng đẹp nhiều sắc màu trong cuộc chơi tháng giêng, tháng hai, tháng ba ấy.

Tết Huế còn là những câu chuyện giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống với mùa Lễ hội Điện Hòn Chén (được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại) vào dịp xuân tế, hai lần mỗi năm ở làng Hải Cát; Lễ hội đền Huyền Trân Công chúa trên núi Ngũ Phong như một cách thể hiện sự ngưỡng vọng với người đã mượn màu son phấn/ đền nợ Ô, Ly; hay Lễ hội Đu Tiên dịp Tết Nguyên đán ở làng Gia Viên, Phong Điền, để người dân quây quần đón năm mới và tham gia trò chơi rèn luyện sức khỏe, cầu mưa thuận gió hòa, cùng với Hội vật làng Sình - sân chơi đầu xuân đầy ý nghĩa.

Trong tâm thức người xứ Huế dù xa dù gần, những làng nghề lâu đời như hoa giấy Thanh Tiên hơn 300 năm tuổi cũng trở thành một điểm nhấn của cả ký ức lẫn hiện tại. Hoặc có khi Tết Huế chỉ là những câu chuyện từ việc kính lễ theo tín ngưỡng văn hóa dân gian của người Việt mà ở Huế vẫn còn nghề nặn tượng ông Công, ông Táo ở làng Địa Linh (nay thuộc phường Hương Vinh, thành phố Huế). Năm Bính Ngọ, chợt nhớ bức tranh mười hai con giáp trong một lần du ngoạn cùng bạn ghé đến làng Sình - nơi lưu giữ dòng tranh dân gian hơn 400 năm tuổi mà nghe chữ “Tết” dù chỉ là một từ được ghép lại bởi ba ký tự, nhưng rất thiêng liêng trong tâm thức người Việt. Tết Huế hiện diện như ý niệm riêng của mỗi người dân xứ này có khi cũng chỉ đơn giản là mong muốn kết nối chiều dài của thời gian, lịch sử, kế thừa giữ gìn nét đẹp truyền thống mang tính nghệ thuật, văn hóa tâm linh cùng với những sản phẩm từ các làng nghề của xứ Cố đô.

Mộng dưới cỏ, mơ trong sương khói của núi sông, hay phiêu bồng trên lưng ngựa, cạn chén tiêu dao với đất trời, mở rộng cửa đón xuân về.

Đừng nghĩ gì về thời gian đang chầm chậm rời đi. Chúng không hề có thực. Đừng để thời gian xâm chiếm lấy những mộng tưởng của ta khi một mình lặng yên ngắm nhìn bờ sông buổi sớm mờ ướt sương. Mùa này, thỉnh thoảng vẫn có những cơn mưa xám lạnh. Mùa này vẫn ngóng đợi, trông chờ từng mảnh ánh sáng xuyên chiếu, sắc như những thanh kiếm không hình hài hướng vào tim mình, chỉ để sưởi ấm, chứ chẳng hề làm đau thêm như đã từng.

Vọng tâm nghe hơi thở của đất trời, vui mừng cùng những đổi thay, thốt lên trong cảm giác hân hoan chào đón dù biết rằng, năm hết tết đến, mấy mầm non xanh đâm chồi nảy lộc cũng là lẽ thường tình. Thử hình dung xem phía bên kia bờ thành cổ, dưới những bậc thềm rêu lạnh, liệu có còn bóng ngựa gõ móng lướt qua cung vàng điện ngọc, liệu có còn dáng dấp người xưa, giai nhân thục nữ, hay người quân tử trẻ tuổi mộng một giấc tình thơ? Và liệu đây có phải chỉ là một cảm thức mơ mơ nửa thực nửa tiên, nửa hư ảo, nửa trần thế lấp lánh dưới thứ ánh sáng tươi mới nào khác trong giấc mộng tự riêng mình đòi dự phần chút ít?

Mặt trời lên, loang đều sắc màu kỳ lạ, thức giấc vội vàng, chỉ để nhắm mắt lại, hít thở sâu, và hình dung những con đường nhuộm nắng, rải từng dấu chân ngựa hoang trên những cánh đồng cỏ mênh mông, rồi trở về ngơ ngác gõ móng dưới nền gạch cũ. Thời gian hẳn dừng lại ở đó. Kẻ ở nơi khác đến dù không phải người Huế vẫn muốn trôi đi cùng mộng mà thu hái hết mọi biến động trên từng cành cây, ngọn cỏ, hay những nhánh tơ sương mỏng ướt bên bờ sông Hương buổi sớm. Chợt thấy trong hình dung, chẳng biết là ký ức hay hiện tại, hoặc giả là tương lai đi vậy, hoạt cảnh mấy ngày giáp Tết, rộn ràng người qua kẻ lại, muôn sắc màu bung nở, ai đó vẩn vơ thả bộ lại nghe tiếng lục lạc rung reo, thấy chân ngựa đi qua, ngoảnh lại hệt như một giấc mơ. Năm Ngọ, thoạt nghĩ về những dấu ấn của loài ngựa được khắc trên Anh đỉnh dưới thời Minh Mạng trên bộ Cửu đỉnh, lại ngẩn ngơ tưởng tượng hồ như có bóng mình đang lạc giữa cảnh và tình của đất trời xưa cũ hay ở chính khoảnh khắc hiện tại này. Bất giác tự mượn hình ảnh của lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, một câu thơ hoài cổ mà ngâm nga, cho tỉnh mộng để thấy ánh sáng mặt trời rực rỡ tràn qua mắt, nghe tiết trời se lạnh, biết xuân đã đến, biết ngựa chưa mỏi, và biết chân vẫn còn muốn đi, biết giấc mộng xuân ấy vẫn đợi chờ Tết Huế khi ký ức ùa về, thấy người đàn ông họ Trần mặc áo dài khăn đóng đang thắp hương cúi lạy bàn thờ tiên tổ đêm giao thừa.

T.B.K
(TCSH444/02-2026)

--------------------
1 https://hueworldheritage.org.vn/Nghien-cuu-van-hoa/Nghien-cuu-di-san-trieu-Nguyen/pid/3219/cid/24
2 https://hueworldheritage.org.vn/en-us/The-Hue-of-Hue-en-US/News/tid/Le-va-Dan-te-Nam-Giao-net-van-hoaCung-dinh-dac-sac-cua-Trieu-Nguyen/pid/50A8EE4A-9777.

 

 

Các bài đã đăng
Màu Huế (12/01/2026)