Bút ký - Tản văn
Góc núi rừng mù sương
14:54 | 28/03/2026

NGUYỄN QUANG HÀ
     Hưởng ứng Bút ký dự thi

Những trưa nắng núi Kây Tăm khoác mây trắng ngang vai in vào chân trời phía tây Vĩnh Linh một màu xanh thanh thản. Nhưng mỗi sớm mai, mỗi chiều hôm núi Kây Tăm thoắt ẩn thoắt hiện trong biển sương mù, huyền ảo như những trang cổ tích thời hồng hoang. Từ truông Nhà Hồ đầu thị trấn Hồ Xá lên đó mất cả thăm thẳm ngày đường.

Góc núi rừng mù sương
Ảnh chỉ mang tính minh hoạ

Gần chân núi Kây Tăm có một bản nhỏ loi thoi mươi nóc nhà sàn. Từ ngôi nhà sàn nhỏ lợp lá tro vọng ra tiếng kèn khui da diết, véo von làm ấm hẳn lại tiếng suối tiếng chim. Leo chưa hết bậc thang nhà sàn đã ngửi thấy mùi lửa, mùi sắn nướng. Chúng tôi bước thật nhẹ chân vào nhà để sàn nứa khỏi kêu cọt kẹt.

Đó là ngôi nhà của Hồ Roàng. Anh đang thổi kèn khui. Cô vợ ngẩn ngơ thả hồn theo tiếng kèn, đứa con nhỏ quay quả trong lòng mút vú. Hai đứa lớn thì loay hoay cắm cúi xoay hai khúc sắn vàng ươm ăn than. Lửa bếp bập bùng như tự khẳng định chính nó đã làm cho ngôi nhà ấm lên. Cảnh đoàn tụ thanh bạch ấy gợi cho ta nghĩ tới một gia đình an nhàn bình yên và hạnh phúc.

Nhìn quanh một vòng mới biết gia đình Hồ Roàng còn nghèo lắm. Chỉ có hai thứ đáng giá. Một là chiếc radio cũ buộc ba cục pin bên ngoài treo trên đầu giường Hồ Roàng, kỷ niệm một thời trai trẻ của anh. Hai là cây rựa lưỡi xanh ánh thép cài trên vách nứa.

*

Hồ Roàng người dân tộc Vân Kiều. Cách đây ba mươi năm là một thiếu niên khát khao cuộc sống. Cái gì cũng muốn biết. Cái gì cũng muốn hiểu.

Có đoàn chiếu phim lưu động của khu Vĩnh Linh cõng máy, cõng phim lên phục vụ miền núi. Các bản quanh núi Kây Tăm đốt đuốc kà boong lũ lượt rồng rắn kéo nhau về bản Kây Tăm. Máy chiếu bật đèn. Chiếu hết phim này đến phim khác. Hết xăng, thanh niên xung phong đi gùi xăng về, chiếu tiếp. Đến bữa, bản Kây Tăm dọn cơm ra lá rừng, tất cả ùa vào ăn vui vẻ như ở nhà mình. Ăn xong lại ngồi vào bãi. Xem đến hết nhẵn phim mới thôi. Đoàn chiếu phim cõng máy đi bản khác, già trẻ gái trai mới chịu dắt díu nhau quay về.

Hồ Roàng xem quên cả ngủ cả ăn. Đoàn phim đi rồi, cậu hỏi cha:

- Tại răng bộ đội chỉ nhìn vào giấy mà cái chi nó cũng biết? Biết cả tiếng người nước ngoài nói trên phim?

Cha cậu đáp:

- Bởi có cái chữ trên giấy.

Cậu lại hỏi:

- Chữ là cái chi?

- Là những vạch thẳng vạch tròn màu đen trên giấy đó.

- Làm răng nói được cái chữ, cha ơi?

- Phải học con ạ.

Hồ Roàng lại thắc mắc chuyện khác:

- Tại răng người trên vải cũng nói, cũng đi được?

- Phải học mới biết con ạ.

Hôm bộ đội về đóng tại nhà. Thấy bộ đội nói chuyện với máy y như nói chuyện với người, cậu lại hỏi:

- Máy cũng biết nói chuyện hả bộ đội?

Anh bộ đội đáp:

- Anh nói chuyện với các đại đội.

- Xa không?

- Bên kia núi.

- Vậy cách chi mà nói?

Anh bộ đội đặt tổ hợp vào tai Hồ Roàng. Cậu nghe tiếng người trong máy rất rõ, nhưng nhỏ thôi. Lạ lắm. Anh bộ đội giải thích:

- Nhờ có dây chuyển tiếng người đi. Lớn lên em đi học sẽ hiểu.

Đụng tới cái chi Hồ Roàng cũng thấy người lớn nói phải học.

- Học sẽ biết tất cả chứ ba?

- Ừ. Biết hết.

Cậu đòi cha cho đi học. Cha thương con đưa cậu lên trường Vĩnh Hà. Ở đó có hai lớp do thầy giáo người Kinh dạy. Hồ Roàng học rất chăm chỉ, nhanh trí. Thầy giáo khen cậu thông minh. Bắt đầu từ các chữ o, a, dần dần ghép lại thành chữ mới có nghĩa, chỉ hơn một tuần Hồ Roàng đã đánh vần được. Cậu đánh vần được cả bài báo. Rồi đọc được. Thầy cho điểm mười. Mừng quá, Hồ Roàng chạy ra chợ Bãi Hà tìm người bản Kây Tăm. Cậu nhắn về nói với cha: “Hồ Roàng biết cái chữ rồi”. Càng học càng ham như con suối rừng càng đi xa càng nhiều điều lạ.

Hồ Roàng chỉ được học thêm một thời gian ngắn nữa thôi. Trường Vĩnh Hà phải đóng cửa vì mặt trận phía Nam ngày một ác liệt. Bãi Hà trở thành kho trung chuyển. Vũ khí từ Bắc đưa vào đây. Và từ đây vượt sông Bến Hải vào Nam. Địch phát hiện ra, chúng biến Bãi Hà và khu rừng già xung quanh thành một vùng đất đỏ. Bất kỳ một loại cỏ nào cũng không mọc được với bom đạn. Sau này lập lại chợ người ta không gọi là chợ Bãi Hà nữa, mà gọi là chợ Ngã Tư Đất để nhớ về bom đạn một thời. Hồ Roàng đành về lại bản Kây Tăm.

Đúng lúc ấy khu Vĩnh Linh có chủ trương đưa người già, trẻ con ra khỏi vùng chiến sự. Đồng thời chọn một số em thông minh gửi học ở các trường Trung ương đào tạo nhân tài cho quê hương sau này. Rất may Hồ Roàng được chọn trong số thiếu niên ấy.

Ra Bắc, học xong chương trình bổ túc, thầy hỏi:

- Hồ Roàng chọn nghề gì?

Thấy các bạn người đi nông nghiệp, người học ngành y, người vào cơ khí, Hồ Roàng xin:

- Em ưng học chữ để về dạy đám con nít Vân Kiều.

Hồ Roàng được toại nguyện, vào học sư phạm.

Nghe tin ở quê, trường Vĩnh Hà được mở lại. Năm 1972 tốt nghiệp, ra trường, là thầy giáo rồi, Hồ Roàng xin về lại trường Vĩnh Hà.

Khát khao tuổi trẻ cuốn anh đi. Dạy chữ ở trường, dạy bổ túc trong bản, dạy múa, dạy hát, tham gia ngoại khóa, Hồ Roàng làm tất. Nhớ lại thời ngu ngơ của mình, anh khát khao đem kiến thức học được truyền lại cho thế hệ trẻ sau anh. Anh là niềm tự hào của người Vân Kiều vùng Kây Tăm. Không vui sao được. Tiếng gọi thầy trên miệng học sinh mới thiêng liêng làm sao. Tất cả những gì làm được cho học sinh, anh không nề hà.

Một hôm vừa đặt lưng xuống giường nghỉ trưa, Hồ Roàng chợt nghĩ tới đám đất vườn địa lý chiều nay các em lao động. Đám đất ấy gồ ghề, phơi nắng trắng xóa. Cỏ không mọc được, chắc là cứng lắm, tay các em mảnh mai nhường ấy làm sao cuốc nổi. Anh vùng dậy cầm cuốc ra lặng lẽ làm hộ cho các em học sinh thương yêu. Chỉ còn vài nhát cuối cùng nữa là hoàn tất, bỗng một tiếng nổ “rầm”. Lưỡi cuốc anh đập vào quả bom bi. Tiếng nổ hất anh lùi lại, mặt mũi tối tăm. Chỉ đứng vững giây lát, anh ngã vệt xuống đất. Đồng nghiệp chạy ra, áo anh thủng lỗ chỗ. Mặt mũi, tay chân, ngực bụng loang đầy máu. Hai mắt nhắm nghiền. Quả bom bi đã cướp đi đôi mắt của anh. Khi ra viện, Hồ Roàng biết mình vĩnh viễn bị mù.

Không nhìn thấy đất trời. Không nhìn thấy phấn trắng bảng đen. Không nhìn thấy cái chữ, trước mắt chỉ còn là một hố đen thăm thẳm, anh buồn lắm. Bù vào đó là tiếng học sinh ríu rít, tiếng dép vội vàng đến trường, tiếng trống gọi bạn bè giúp anh không cô đơn. Sau năm Hồ Roàng bị hỏng mắt, Vĩnh Linh tổ chức cuộc thi văn nghệ giữa các trường phổ thông cấp I. Hồ Roàng dịch bài hát Tiếng chày trên sóc Bom Bo sang tiếng Vân Kiều và anh sáng tác điệu múa Cô gái Vân Kiều đi tải đạn dạy cho đội văn nghệ Vĩnh Hà. Trường Vĩnh Hà đoạt giải nhất trong cuộc đua tài này. Hồ Roàng vui hẳn lên.

Nhưng rồi không thể lên lớp dạy chữ được. Cũng không phải năm nào Vĩnh Linh cũng mở cuộc thi văn nghệ để tận dụng tài năng của anh. Tiêu chuẩn thương binh ngày ấy rất ngặt nghèo, Hồ Roàng cũng không rành nữa, họ bảo anh bị thương không phải khi thừa hành công vụ, cũng không phải khi anh đi đến nhiệm sở. Dẫu thương tật, anh chẳng có chế độ gì, đành rời nhà trường với hai bàn tay trắng. Song Hồ Roàng không về lại thôn Kây Tăm, anh ở lại Vĩnh Hà, hợp tác xã cho anh gian trái kho hàng. Ở đấy để anh được nghe tiếng trống trường. Gian nhà nhỏ của anh là nơi tập hát, tập múa, là nơi anh giảng cho các em những bài văn, bài toán khó trong vở bài tập. Các em quấn quýt anh suốt ngày. Và chúng đã dán trên đỉnh cửa ra vào một cái tên rất thân yêu: Câu lạc bộ Kây Tăm. Tối, nhà anh chật người tới nghe đài. Anh yêu mến trẻ, dân bản yêu mến anh, chia cho anh gùi sắn, lon gạo, mớ rau hàng ngày. Những lúc vắng vẻ, Hồ Roàng lấy kèn khui ra thổi. Tiếng kèn tài hoa và tấm lòng rộng mở là cây cầu dẫn đến cho anh nhiều bạn bè.

*

Một trong những người thường xuyên tới thăm anh là Hồ Thị Dõa. Có khi Dõa mang đến cho anh một túm bắp luộc. Có khi một trái mít lài. Cũng có khi chỉ một gô ốc suối. Tháng tháng Dõa không quên ra chợ Ngã Tư Đất mua cho anh một bộ pin đài. Dõa tâm sự với bạn: Nếu Hồ Roàng không nhận trọn trái bom bi về anh trưa ấy, chiều đi lao động vườn địa lý, chưa chừng người dính bom không chỉ là Dõa mà có thể là nhiều bạn của trường mình. Đó là ân nghĩa. Mẹ chết đột ngột, cha không đủ sức nuôi, Dõa đành bỏ học. Nỗi đau cô đơn Dõa càng thông cảm với anh, càng thương anh.

Bảy năm sau kể từ khi trái bom bi nổ cướp đi đôi mắt Hồ Roàng, Dõa đã sang tuổi mười chín. Trong một lần sốt rét, nằm run trên giường, Dõa đem một ống lồ ô mật ong tới, cô pha từng chén dỗ anh uống. Hồ Roàng cảm động cầm tay cô, rưng rưng nói thật lòng mình:

- Anh như con chim, em như cánh rừng, chim không thể thiếu cây xanh. Anh không thể thiếu em trong đời được.

Dõa đã trả lời anh điều cô ấp ủ lâu nay:

- Em thương anh lắm.

- Em không sợ kẻ mù lòa làm khổ em ư?

Dõa đáp:

- Đã yêu nhau thì không sợ khổ.

Dân bản và bạn bè giúp đám cưới cho Hồ Roàng. Bạn bè về hết, chỉ còn lại hai người, anh chưa hết bâng khuâng như vừa trải qua một giấc mơ. Trái lại Hồ Thị Dõa tự hào mình có một người chồng có học, một người chồng hiểu biết. Dõa muốn làm tất cả những gì miễn là chồng được hạnh phúc. Tới mùa phát rẫy cô đi phát đổi công. Có rẫy riêng, chồng thích ăn sắn đỏ, Dõa trồng sắn đỏ. Chồng thích môn bạc hà, cô trồng một góc rẫy bạc hà. Dõa trồng ớt cho chồng ăn ngon miệng, trồng chuối, trồng đu đủ để anh có thức ăn bữa lỡ.

Hai năm liền do phát rẫy chậm, lúa trồng không đúng thời vụ, gió Lào thổi sớm, bị mất mùa. Dõa một mình vào rừng chọn đất, phát hết cây con. Khi phát cây lớn, cô bàn với chồng nhờ hai cánh tay mạnh mẽ của anh. Được giúp vợ, Hồ Roàng đồng ý liền. Anh vui vì thấy Dõa tin anh. Dõa dẫn anh ra rẫy. Trao cho anh cây rựa. Dẫn anh tới từng cây. Hồ Roàng rờ cây, chọn điểm để lượng sức chặt và anh vung rựa. Khi mỗi cây sắp đổ, Dõa dẫn anh đến ngồi ở chỗ an toàn, cô hạ cây xuống. Đến những cây lớn quá cỡ Dõa mới chịu đổi công, nhờ họ tới, dựng giàn cốt cây bằng rìu.

Vụ ấy được mùa, hai vợ chồng vui lắm. Dõa mừng vì biết thêm quy luật trời đất. Hồ Roàng mừng vì nếu biết sắp xếp công việc rõ ràng anh vẫn có ích cho đời. Từ đó anh thường đi rẫy cùng vợ. Bẻ ngô, nhổ sắn, bới khoai, anh rất tài. Tỉa cây, làm cỏ, một mình Dõa lo toan, còn anh ngồi bên rẫy thổi kèn khui động viên vợ. Chiều về, Dõa gùi củi, anh gùi rau quả. Dõa đi trước, anh bám vai vợ đi sau, ríu rít như đôi chim cu cườm. Những lúc ngồi bên bếp lửa anh đem những điều nghe được trong đài, cây gì trồng xen với cây gì thì tốt, giống nào gieo cấy vào lúc nào cho năng suất cao, sản phẩm nào đang có giá trên thị trường. Sau mỗi lời chồng căn dặn, Dõa lại gật đầu “Thưa thầy, vâng ạ!”, y như cô học trò ngoan năm nào. Rồi bất chợt cả hai cùng phá lên cười. Tiếng cười làm sóng sánh xanh cả cây rừng.

*

Hơn ai hết, Hồ Roàng nhận rõ hạnh phúc của mình.

Anh nói:

- Có cảm ơn một nghìn lần cũng không đáp lại hết tình Dõa đối với tôi. Cha mẹ sinh tôi, nhưng cho tôi cuộc đời thứ hai là Dõa. Có những lúc thật buồn. Chỉ vì tàn tật bị thải hồi. Cả những người thân có lúc cũng ruồng rẫy nhất là từ khi cha tôi qua đời. Một người mù lòa như tôi không dám mong có vợ có con. Vậy mà Dõa đã đến, đến hoàn toàn tự nguyện. Với tôi, Dõa là người phụ nữ tốt nhất trên đời. Những người không nhìn thấy bằng mắt thường nhìn rõ hơn bằng trái tim. Tôi cũng vậy. Tôi nghĩ có những người vợ chỉ vì chồng kiếm không đủ nhu cầu ăn tiêu của ả, ả đã dứt tình tìm chốn giàu sang. Có người vợ chỉ vì chồng yếu sức không được thỏa mãn đã bỏ chồng tìm nơi vui thú. Dõa không phải là người như thế. Dõa lúc nào cũng ân cần như một người bạn, tận tình hết lòng của người vợ, chăm sóc lo toan như người mẹ già. Dõa đã kề đôi vai bé nhỏ gánh hết cho tôi mọi nhọc nhằn. Tôi không dám đòi chi hơn.

Như để nhớ lại những kỷ niệm, Hồ Roàng nghiêng mặt về một cõi xa xăm nào đó. Anh kể tiếp:

- Khi sinh đứa con đầu, Dõa không bỏ dù một buổi đi rẫy. Tuy không nhìn được bằng mắt, nhưng tôi biết rõ Dõa địu con trước ngực, gùi khoai sắn sau lưng. Một bữa hai mẹ con cùng đau, nhà hết gạo, hết thức ăn, lừa lúc hai mẹ con thiu thỉu ngủ, tôi xách gùi đi rẫy. Tôi suốt lúa mới chín, hái cà, đào khoai, định cho Dõa một niềm vui bất ngờ. Khi ở rẫy về, lòng tôi lâng lâng, bước sải chân, lướt qua con đường chuột chạy về bản mà không biết. Chợt linh tính báo cho tôi biết lạc đường. Tôi hốt hoảng cuống quýt rờ tay tìm ngọn lá, cành cây, tảng đá quen thuộc không thấy. Quanh quẩn mãi vẫn không tìm ra đường. Tôi quay quắt như phát điên, la hét chửi trời chửi đất đã đang tâm hại mình. La chán, tôi quyết định quay lại, chỉ hơn chục bước chân, bàn chân trần của tôi gặp đường chuột chạy quen thuộc, tôi mừng rú, băng băng bước được mấy bước đã gặp Dõa hớt hải chạy tới. Cô bảo khi sực tỉnh dậy không thấy cái gùi, biết ngay tôi bạt mạng, sợ tôi lạc đường vội bỏ con đi tìm. Quả đúng vậy, Dõa dắt tôi về, tới gần nhà nghe đứa con khóc ngằn ngặt, tôi hối hận biết lỗi của mình, nhưng cũng hiểu thêm Dõa thương tôi nhường nào.

Lần tôi ôm con đi chơi làng xóm, Dõa ở nhà nấu ăn. Bật lửa hết dầu, cô bắt chước tôi mở nắp dưới lấy bông làm mồi. Xăng bắt nhạy không ngờ, lửa bùng cháy. Bản năng tự vệ, Dõa vung tay tránh lửa, không ngờ cục bông văng ra, dính vào vách kết bằng lá tro. Lá tro khô bén lửa nhanh. Cả căn nhà bốc cháy. Vất tất, Dõa chỉ kịp xách chiếc radio chạy ra ngoài. Lúc tôi ôm con về đến nơi, căn nhà đã cháy rụi hết. Dõa buồn, giọng như van lơn: “Em làm khổ anh rồi”.

Bạn bè mỗi người một tay vào rừng đẵn gỗ, hái lá dựng lại cho chúng tôi ngôi nhà mới. Dõa chưa hết buồn. Tôi an ủi: “Còn rừng là mình còn nhà mà em”. Dõa cứ hối hận: “Em vụng lắm phải không anh?”. Dõa là người như thế. Sẵn sàng hy sinh tất cả. Nhưng lúc nào cũng lo không làm tròn bổn phận người vợ.

Hồ Roàng kể thêm một kỷ niệm nữa:

- Khi Dõa sinh đứa con thứ hai là lúc chúng tôi khó khăn nhất. Hạn hán kéo dài, cả vùng núi Kây Tăm mất mùa. Dõa ôm con nằm một chỗ. Tôi chạy quanh vay mượn qua ngày. Cứ nghĩ Dõa thiếu ăn, ít sữa, con sẽ còi cọc thì khổ lắm. Một người bạn bảo tôi: “Thiếu thì đi xin. Ăn cắp mới xấu. Dưới đồng bằng khối người gặp thiên tai xách bị đi ăn xin. Đừng sĩ diện Hồ Roàng ạ”. Thương vợ con, tôi may chiếc gùi vải chạy quanh vùng núi Vĩnh Linh, ra tận Quảng Bình, vào mãi đường Chín, Khe Sanh. Hễ có người Vân Kiều, tôi đến. Gặp bạn bè cũ cũng nhiều. Thấy hoàn cảnh mù lòa, ai cũng chia sẻ. Nhưng khi về đến nhà thì Dõa khóc: “Em lại làm khổ mình rồi. Đi xin một lần cuối thôi, nghe anh. Từ nay em sẽ cố để cha con khỏi đói. Việc của anh bây chừ là đem hiểu biết ra dạy con nên người. Đó mới là điều em mong mỏi chồng của em ạ”. Trên đất nước này có được mấy người như Dõa. Tôi chẳng là người hạnh phúc đó sao?

Như Hồ Roàng nói, Dõa đã tái sinh cuộc đời anh. Nhưng mới đây, Hồ Roàng còn một hạnh phúc nữa, đó là việc anh dám ngẩng mặt với đời. Công ấy thuộc về Lê Xuân Phùng và Xuân Tứ. Hai anh đã trả lại vị trí cuộc đời cho anh. Phùng ở hội người mù, Tứ ở báo Quảng Trị. Hai anh đi gặp gỡ những người mù mở mang hội người mù của tỉnh. Gặp Hồ Roàng. Nghe anh kể chuyện, Phùng và Tứ khẳng định ngay việc cuốc đất ở vườn địa lý của anh là đang thực thi nhiệm vụ. Không làm thẻ thương binh cho anh là sai chính sách. Hai anh tìm gặp lại những người cùng thời với Hồ Roàng, xác định xem hoàn cảnh của anh có đúng thế không. Rồi phát biểu trên báo Quảng Trị, gõ cửa các cơ quan hữu trách. Dư luận xã hội ủng hộ. Nhiều cá nhân, tập thể gửi tiền tới trợ giúp cho Hồ Roàng. Và cuối cùng phòng Lao động Thương binh xã hội tới trao tận tay sổ thương binh cho anh. Suốt hai mươi năm không thở than, oán trách, chấp nhận số phận một cách hồn nhiên. Bây giờ cầm sổ thương binh của mình trên tay, Hồ Roàng òa khóc. Như con suối bị đá lở chặn dòng được khai thông ào nước. Anh được xét thêm tiêu chuẩn thương binh cần người phục vụ. Dõa được chọn lo cho anh. Cả hai khoản mỗi tháng được nhà nước cấp 195.000 đồng.

Hồ Roàng rất cần tiền để trang trải đời sống. Nhưng con người tự trọng trong anh đòi hỏi một điều mà tiền tài không thể so được, đó là danh dự. Anh nghe bốn tiếng Thầy-giáothương-binh như nghe từng nhịp cồng rộn ràng trong ngày hội âm vang trên vùng đất Kây Tăm.

Khách về rồi, Hồ Roàng đến bên vợ:

- Dõa ơi, anh không ngờ có được hôm nay.

Vốn ít nói, Dõa chỉ nhìn anh bằng hai mắt đằm thắm rưng rưng lệ dù anh không cảm nhận được ánh nhìn thiết tha ấy.

Dưới ngôi nhà sàn lợp lá tro, vợ chồng Hồ Roàng vẫn tiếp tục cuộc sống thường ngày. Dõa vẫn lên rẫy như mọi chiều. Hồ Roàng lại dạy con học dù không có bảng đen, giấy trắng. Anh ôm hai đứa con hai bên nách thủ thỉ với con bằng cái giọng độc thoại như nói với chính mình:

- Các con biết không. Cha đã nghiệm ra rồi. Mỗi cái chữ như một cái lông mọc trên mình con chim con. Khi nào đủ lông bụng, lông lưng, lông cánh, lông đuôi thì con chim sẽ tự nó cất cánh bay được. Con chim mô trần trụi thì không bay được. Cứ bò trên mặt đất, không sớm thì muộn, rất dễ bị những con thú khác ăn thịt. Cha nói thế, các con hiểu không? Nghĩa là các con phải học. Có học mới nên người.

Vẫn suy nghĩ như mọi ngày nhưng hôm nay Hồ Roàng cất lên được thành lời. Và anh cảm thấy rất rõ ràng đấy cũng là trách nhiệm của anh. Có phải vậy chăng, cả tiếng kèn khui anh thổi chiều nay khi vợ con đoàn tụ quanh bếp lửa hồng, Dõa nghe cũng xao xuyến hơn. Bất giác cô thả hồn theo tiếng kèn vang xa quên cả đứa con đang ngậm vú trong lòng. Và, cô lơ đãng đến nỗi không biết cả khách vào nhà.

Tôi đang định cất lên tiếng gọi, anh Hoàng Văn Hiến - Trưởng phòng Văn hóa huyện Vĩnh Linh - bạn tôi, đã tinh ý ra hiệu cho tôi im lặng, đừng khuấy động hạnh phúc êm đềm không dễ gì có được tận nơi một góc núi mù sương.

Chúng tôi lùi ra cũng nhẹ nhàng như lúc bước vào. Ngoài trời sương mù đang len vào mái nhà, luồn qua lá cây, đậu lên tóc lên cổ chúng tôi lành lạnh. Núi Kây Tăm trước mặt từ lưng chừng đến chóp núi nhuộm nắng chiều vàng ươm, từ lưng núi xuống chân mịt mù sương tỏa, cũng huyền ảo như đất đai này.

Huế 12/10/1996
N.Q.H
(TCSH445/03-2026)

 

 

Các bài đã đăng
Màu Huế (12/01/2026)