Tiểu thuyết
Những mảnh đời đen trắng
14:51 | 02/10/2014

NGUYỄN QUANG LẬP
         (Trích tiểu thuyết)

Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi
Câu trả lời thật không dễ dàng chi!

              NGUYỄN TRỌNG TẠO

Những mảnh đời đen trắng
Nhà văn Nguyễn Quang Lập

L.G.T: Thành quả sáng tạo văn học chủ yếu nhờ ở tài năng và nỗ lực cá nhân, nhưng gần như là tình cờ, cây bút Nguyễn Quang Lập bật nổi hẳn lên giữa hai kỳ Đại hội văn nghệ tỉnh và gắn bó với bước đi của "Sông Hương" 5 năm qua. Thực ra, Nguyễn Quang Lập có duyên nợ với văn chương đã hơn chục năm. Tôi còn nhớ, năm 1975, lúc ấy tôi cũng vừa nhập "làng" văn nghệ, ra Hà Nội tìm chàng sinh viên bách khoa Nguyễn Quang Lập để trao một giải thưởng của Hội Văn nghệ Quảng Bình. Bẵng đi mấy năm, bỗng thấy Lập xuất hiện với tư cách là Hội viên Hội văn nghệ Quảng Nam - Đà Nẵng. Lúc này Lập đã là một sĩ quan tên lửa. Ít lâu sau, tập thơ đầu tay của Lập - "Kỷ niệm thời trai trẻ" (in chung) do Hội Văn nghệ QN - ĐN xuất bản ra đời.

Truyện ngắn đầu tiên của Lập in trên Sông Hương số 9 (1984) là truyện "Người lính hay nói trạng". Trong hội thảo về 10 số Sông Hương do Khoa văn Đại học Tổng hợp Huế tổ chức, nhiều ý kiến cho rằng "Người lính hay nói trạng" là truyện khá nhất. Tiếp liền, truyện "Tiếng lục lạc" (SH số 12) được "Sông Hương" tặng thưởng truyện hay nhất năm 1985... Từ đó, có thể nói, cây bút truyện ngắn có bản sắc Nguyễn Quang Lập được bạn đọc cả nước chú ý. Đến nay, anh đã cho xuất bản hai tập: "Một giờ trước lúc rạng sáng" (Thuận Hóa - 1986) và "Tiếng gọi phía mặt trời lặn" (Tác Phẩm Mới - 1987). Truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập hầu hết được xây dựng từ những số phận khác thường, nhiều khi là kỳ dị, có nhiều chất kịch. Có lẽ vì thế mà anh vừa thử bút đã có hai kịch bản thành công. ("Trên mảnh đất người đời" và "Mùa hạ cay đắng") Và bây giờ là tiểu thuyết. Một bản thảo "chưa ráo mực". Viết về những số phận cay đắng của những người ở một thị trấn heo hút ven sông Linh vào thời cái bệnh "duy ý chí" khá là phổ biến ở đất nước chúng ta, với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật". Mấy anh em trong tòa soạn chuyền nhau đọc 3 chương đầu.

Đã có nhiều lời bình về cây bút trẻ Nguyễn Quang Lập. Tôi chỉ nêu một nhận xét: Trong văn chương không thể quá "thật thà", nhưng đọc truyện của Lập nhiều khi cứ thấy ngờ ngợ. Có thể tác giả cho rằng các nhân vật dị thường có sức chuyên chở ý tưởng sâu sắc hơn, nhưng tôi cứ băn khoăn: chẳng lẽ anh chỉ theo đuổi các số phận dị thường? Đến lúc cần dựng một nhân vật dung dị, liệu truyện còn sức hấp dẫn không? Và có lẽ anh nên "cảnh giác" với trí tưởng tượng của mình. Nói một cách khác, khi sự tích lũy vốn liếng và độ rung cảm của người viết chưa đến mức cần thiết thì dù có tài tưởng tượng, có khi anh phê phán cái thời "duy ý chí" lại làm ra tác phẩm "duy ý chí"
.

                 NGUYỄN KHẮC PHÊ

 

Chương một

Hoàng không ngờ rốt cuộc số phận của anh được gắn bó với Thùy Linh, người-đàn-bà-đau-đớn, bằng mười sáu lần nói dối. Phải mất một đêm thức trắng, nằm trên tảng đá rộng, phẳng mép bờ sông Linh, cẩn thận nhớ lại tất cả những ký ức xa vời, nhớ đi rồi nhớ lại, lẩm nhẩm đếm như một kẻ thua bạc về tổng số thua thiệt của mình trong canh bạc trọn một đời người, Hoàng mới tính chính xác số lần nói dối của anh với Thùy Linh.

Chẳng ai hơi sức đâu mà ngồi tính toán như Hoàng. Quá lắm người ta cũng chỉ day dứt về vài lần nói dối nào đó trong vô vàn lần nói dối với đủ các hạng người, từ thuở biết nói tiếng người cho đến lúc lưỡi rụt lại khô cứng trong miệng và vĩnh viễn im lặng. Thì cũng tốt lắm rồi, còn hơn có người nói dối mà không biết mình nói dối, nói đi nói lại mãi về một điều dối trá nào đó, rốt cuộc lại tưởng điều đó là có thật, sung sướng nghĩ mình đã làm được cái điều mà cách đó ít lâu chính mình đã bịa ra. Hoàng cũng vậy chẳng hơn gì người khác, thậm chí còn tệ hơn, nhưng riêng với Thùy Linh thì anh không muốn và không dám.

Hoàng nhớ vào lúc mười sáu tuổi, mặc dù mặt đã lấm tấm trứng cá anh vẫn khờ khạo như một thằng nhóc. Thùy Linh thì ngược lại. Những nét đàn bà trong cô xuất hiện rất sớm, phát triển nhanh chóng, đến tuổi mười sáu gần như đã hoàn chỉnh. Thùy Linh biết tránh va chạm (theo nghĩa đen) với đàn ông, với cả Hoàng cô cũng tránh, biết kéo kéo gấu áo, mắt chớp chớp nhìn xuống mỗi khi đối diện với đàn ông. Đôi khi vì sung sướng về một điều gì đó, Hoàng hét rống lên, ôm chặt lấy cô, đã bị cô nhăn mặt đẩy ra, cảnh cáo anh bằng cái nhìn nghiêm khắc và “tự cao tự đại”. Cô vẫn đi theo anh nhưng chỉ đứng nhìn đám con trai đùa nghịch với đôi mắt dịu dàng của cô bảo mẫu trước lũ nhóc. Thùy Linh biết tuổi thơ của mình coi như đã chấm dứt, còn Hoàng như một con bò đực vẫn chẳng biết gì cả. Tuy vậy, Thùy Linh vẫn bám sát theo anh trong các cuộc chơi “long trời, lở đất” dọc bờ sông Linh hoặc trên các bãi cát phía sau Thị trấn. Tuổi thơ coi như đã chấm dứt nhưng quán tính của nó thì vẫn còn. Họ vẫn nắm tay nhau tung tăng dọc bờ sông Linh vào những chiều mùa hạ như những con còng gió vẫn thường líu ríu dưới chân họ. Đến nỗi chính Hoàng có cảm tưởng: dù là quán tính thì tuổi thơ của họ vẫn kéo dài đến vô tận nếu không có chuyện họa sĩ Tư, chú ruột của Thùy Linh bỗng nhiên lù lù trở về Thị trấn, nói là về nghỉ hưu non, cất ngay một túp lều nhỏ dưới chân đê, ngày hai buổi ra ra vào vào, lờ đờ như một tên thất trận. Mặc dù họa sĩ không hề phá đám bất kỳ cuộc chơi nào của họ, thậm chí chẳng thèm ngó họ đang làm trò gì, nhưng họ bỗng nhiên cụt hứng. Cái cảm giác có người theo dõi làm họ khó chịu và ngứa ngáy rồi rã đám, một sự rã đám không tuyên bố.

Đấy là Hoàng nghĩ vậy chứ thực ra đã đến lúc thiên nhiên buộc họ phải nhường chỗ cho một lũ trẻ khác kề tuổi họ. Bằng chứng là lũ trẻ “tiếp theo” ấy vẫn mê say với các cuộc chơi của chúng mà không hề có cảm giác bị theo dõi. Chúng còn chạy vòng quanh túp lều của Họa sĩ, có đứa chui tọt vào túp lều nằm im thin thít để trốn bạn, có đứa mải chạy đã húc đầu vào bụng Họa sĩ, vẫn chẳng việc gì hết. Đôi khi lũ trẻ đã bò cả vào túp lều, tranh nhau giở tung đống tranh của Họa sĩ ra xem, vừa xem vừa thì thào rồi cười ré lên. Các bức tranh đặc tả những mặt người méo mó, những con bò chạng háng choán cả bức tranh, những cái mông đàn bà, những con cò hai cổ, những đứa trẻ mặt đầy nếp nhăn và lún phún ria mép, nhiều vô kể. Đặc biệt có rất nhiều bức vẽ đàn bà trần truồng, những người đàn bà không có đầu, loạn xạ các kiểu đứng ngồi. Lũ trẻ đứng ngồi tùm hum, thích thú chỉ trỏ và cười và chẳng hiểu gì cả.

Trong khi đó, Họa sĩ tự giễu cợt mình bằng cách uống rượu thật say, mặc độc chiếc quần lót, chân nam đá chân chiêu ngất ngưởng đi dọc bờ sông hát váng lên các bài hát bằng tiếng Pháp. Khi nắng tắt, lũ trẻ bỏ túp lều Họa sĩ ba chân bốn cẳng chạy về nhà thì Họa sĩ đã thấm mệt, anh tìm đến hòn đã to đặt ở mép sông, đánh một giấc cho đến sáng.

Ngủ ở đây thật sướng, mát rượi, không có muỗi lại yên tĩnh tuyệt đối. Chỉ sợ trúng gió mà chết thôi chứ hòn đá to, rộng, phẳng và gió, tha hồ là gió. Nằm giạng háng trên tảng đá vĩ đại này vào mùa hạ nóng nực, thật không chê vào đâu được. Người thị trấn Linh Giang không ai biết đích xác vì sao có tảng đã lớn như vậy “mọc” lên ở đây. Người ta đồn rằng, hòn đá này có từ xa xưa, hình như từ thời “Trịnh-Nguyễn phân tranh”, nó được đem về bằng hai mươi tám đòn khiêng, dùng để khắc bia mộ hay ghi chiến công quân lính chúa Trịnh. Đó là người ta nói vậy, thực tế mặt tảng đá nhẵn lì, sáng bóng như một cái trán vĩ đại. Trước khi họa sĩ về đây và mặc nhiên làm chủ hòn đá này suốt ngày đêm, nó chỉ dùng cho lũ trẻ lăn lê vào ban ngày - thường là các buổi chiều mùa hạ, còn buổi tối nó được các cặp tình nhân sử dụng làm ghế ngồi hay làm giường ngủ tùy theo mục đích “Các cặp đối tượng”. Danh từ “Các cặp đối tượng” là của đại úy Thìn, bố của Thùy Linh, anh cùng cha khác mẹ của Họa sĩ. Đại úy dùng từ này khi cần phải huy động lực lượng dân quân du kích Thị trấn vây bắt một vụ “hủ hóa” nào đó. Trong mười năm, kể từ ngày hòa bình lập lại (1954) cho đến ngày Họa sĩ trở về (1963), có mười bốn vụ hủ hóa xảy ra trên tảng đá này bị dân quân du kích Thị trấn, dưới sự cố vấn của đại úy Thìn, hoặc tóm gọn hoặc đuổi chạy bán sống bán chết. Họa sĩ trở về, vô tình vô hiệu hóa tác dụng của hòn đá đối với “Các cặp đối tượng” kia, các vụ hủ hóa coi như chấm dứt tại đây và nhanh chóng dịch chuyển ra bãi cát phía sau Thị trấn. Tại đấy, công việc vây bắt của dân quân du kích, dưới sự cố vấn của đại úy Thìn, gặp nhiều trở ngại. Bãi cát rộng, phải mất hai ngày một đêm mới đi hết chu vi của nó, lại mọc lên hằng hà sa số bạch đàn, phi lao do phong trào “Trồng cây gây rừng” của Thị trấn đạt hiệu quả cao. Điều này làm “Các cặp đối tượng” mừng rơn, họ thoát hầu hết các vụ vây bắt quyết liệt của dân quân du kích, dưới sự cố vấn của đại úy Thìn. Do đó người ta mau chóng lãng quên hòn đá, nó không được nhắc đến trong các cuộc họp kín của dân quân du kích, hòn đá lại trở thành hòn đá.

Trong khi đó, người nằm trên hòn đá lại được người ta nhắc đến khá nhiều: xì xầm, rì rầm và cười ha hả với nhau trong các bữa cơm, các cuộc họp nhóm dân Thị trấn. Ấy là chuyện họa sĩ Tư vì sao buộc phải nghỉ hưu non, vì sao thấy Họa sĩ chẳng làm gì cả mà tiền cứ tiêu như nước và vì sao trong thời buổi văn minh lịch sự này mà Họa sĩ cứ chằm hăm vào các thứ đã được người đời che đậy cẩn thận để mà vẽ?…

Đại úy Thìn nói:

- Nghệ thuật là rất phong phú: văn học có, ca múa có, nhiếp ảnh có, vân vân. Nhưng hội họa là loại nghệ thuật được tôn thờ, trọng vọng nhất. Vì vẽ cho giống là việc rất khó, không phải ai cũng làm được.

Đại úy nói câu này khi đứng trước chủ tịch thị trấn Lê Đức Huy đang ngồi trên chiếc xe đạp được treo lên như cái xích đu, cắm cổ đạp. Đại úy ngạc nhiên: “Tay này làm cái trò gì thế này nhỉ?”. Chủ tịch thị trấn vẫn hăm hở đạp, bánh sau quay vo vo, ý chừng chưa muốn ngừng cái công việc kỳ quái này để tiếp Đại úy. Lát sau, Đại úy hiểu ra: “Hà, tay này tập xe đạp!” Đúng thế. Chủ tịch thị trấn vừa tậu được chiếc xe đạp “Thống Nhất” một trăm hai mươi sáu đồng năm hào, cộng với năm hào thuốc lá ông mua để khao các đồng chí trong Ủy ban hành chính Thị trấn. Ra khỏi cửa hàng tổng hợp, mặc dù ông đã nghiến răng dắt xe, làm bộ như dắt xe hỏng, nhưng cái xe cứ nghiêng nghiêng bắt lưng ông phải vẹo theo, trông rất khó coi. Tức khí, ông vác một mạch từ cửa hàng tổng hợp, tắt qua lối ruộng để không ai trông thấy. Rồi để không ai trông thấy, ông lại đi vòng giữa đám bạch đàn, phi lao phía sau Thị trấn, tổng cộng là sáu cây số đường vòng, trong khi cứ đi thẳng đường tỉnh lộ mà bước thì chỉ mất chừng tám trăm mét là đến nhà, không hơn. Rồi ông treo chiếc xe đạp lên như cái xích đu, rồi ông ngồi lên, rồi ông đạp…

Chủ tịch Thị trấn vẫn gò lưng đạp, đưa mắt nhìn Đại úy, tủm tỉm cười:

- Chỉ huy chiếc xe đạp là cả một nghệ thuật. Tôi đã mần một buổi sáng mà vẫn không xong đây.

Đại úy thở dài, lắc đầu. Ông tìm ghế ngồi, đợi Chủ tịch Thị trấn xuống xe. Đại úy đợi khá lâu vẫn thấy Chủ tịch Thị trấn không chịu xuống, bèn nhắc lại luận điểm của mình:

- Nhưng đấy là nói hội họa chân chính, chứ cái thứ hội họa của thằng Tư thì phải coi chừng! Dư luận quần chúng phản ánh khá nhiều, anh có nghe thấy không, anh Huy!…

Đại úy nhìn Chủ tịch Thị trấn đang gò lưng đạp, nhấn mạnh câu này thêm một lần nữa thì Chủ tịch Thị trấn ngừng đạp, ngước lên tươi tỉnh nói:

- Hội họa là vẽ chứ gì! Tôi còn lạ gì thứ đó. Hồi theo “Bình dân học vụ” tôi biết món này rồi. Vẽ cho được một chữ toát cả mồ hôi hột.

Đoạn, ông nhảy xuống đất, vỗ vai Đại úy:

- Uống nước đã anh. Chuyện đâu có đó, anh yên tâm.

Lúc này khoảng ba giờ chiều. Đúng giờ Đại úy làm việc với “Ủy ban hành chính Thị trấn”. Đại úy là con đẻ của Thị trấn, dù là quân của Bộ không liên quan gì đến công việc ở đây, nhưng Đại úy luôn luôn nhìn thấy trách nhiệm của mình ở khắp mọi nơi. Từ ngày trung đoàn pháo “năm bảy ly” do Đại úy chỉ huy về đóng bờ bên kia sông Linh, cứ thứ bảy là ông đạp xe về nhà. Lịch trình làm việc của Đại úy từ chiều thứ bảy đến tối chủ nhật bất di bất dịch những việc sau:

1. Buổi chiều thứ bảy, Đại úy tiếp một vài cán bộ cấp dưới của ông đã phục viên, về hưu hoặc vài thương binh quen biết trong Thị trấn. Cuộc tiếp kiến này kết thúc vào khoảng 6 giờ tối, khi các chiến hữu của ông đã ngà ngà say, rất dễ nói năng mất lập trường. Sau đó, Đại úy dành hẳn một giờ để hỏi chuyện học tập, lao động, tu dưỡng của Thùy Linh - con gái cưng của ông. Kết thúc cuộc hỏi chuyện bao giờ cũng có mươi lăm phút ông nhắc lại, có mở rộng và đào sâu hơn, với Thùy Linh, thế nào là con người mới xã hội chủ nghĩa. (Cuộc trao đổi về “đạo đức học” giữa hai thế hệ này, vào những ngày đầu Đại úy mới trở về đóng quân bờ bên kia sông Linh, Hoàng cũng có mặt. Anh chơi ở nhà Thùy Linh suốt ngày. Về sau, khi đã nắm được quy luật về giờ giấc của Đại úy, Hoàng căn đúng 6 giờ là chuồn về). Số thời gian còn lại tối thứ bảy, Đại úy sang nhà Hoàng để nói chuyện thời sự trong nước và quốc tế và các vấn đề nóng bỏng của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở huyện nhà với ba Hoàng, ấy là bí thư huyện ủy Trần Văn Thanh, cũng là bạn thiếu thời của ông.

2. Sáng chủ nhật, Đại úy dậy cực sớm, một mình lủi cúi ngoài vườn cho đến trưa. Ông tích cực tổ chức lại khu vườn, cố cải tạo nó thành một “vườn cây kinh tế” nhằm nâng cao đời sống gia đình và làm gương cho các chiến hữu của ông đang phục viên tại gia noi theo.

3. Buổi trưa chủ nhật, Đại úy ngồi thu lu một mình ở góc học tập của Thùy Linh, nghiên cứu bài nói chuyện với bộ đội sáng thứ hai hàng tuần.

4. Buổi chiều chủ nhật, trọn cả buổi chiều, Đại úy làm việc với các vị lãnh đạo Thị trấn, chủ yếu là Chủ tịch thị trấn Lê Đức Huy, về tình hình trật tự an ninh và an toàn xã hội của Thị trấn. Tại đây, Đại úy liên tiếp đưa ra các biện pháp có hiệu quả nhằm ngăn chặn và đập tan các âm mưu “hòng làm ô nhiễm bầu không khí trong sạch của Thị trấn nói riêng, huyện nhà nói chung” và tiểu trừ nhanh chóng một nhóm phản cách mạng nào đó vừa ngóc đầu dậy. Về mặt này, Đại úy đủ uy tín cần thiết để thuyết phục ban lãnh đạo Thị trấn phải hành động theo ông. Nhờ các biện pháp này: hai mươi bốn vụ trộm cắp được giải quyết, mười sáu sòng bạc đã giải tán, hai mươi chín vụ hủ hóa (trong đó có mười bốn vụ xảy ra trên hòn đá “Trịnh-Nguyễn phân tranh”) bị truy bắt, bốn mươi chín lò rượu lậu bị dập tắt, một nhóm mười chín học trò cấp ba có mặt trong tổ chức “Tự do thiêng liêng” bị tóm cổ, một danh sách hai trăm mười tám người - gồm những người có lý lịch xấu hoặc ở tầng lớp tiểu tư sản thành thị, các trí thức ăn nói ngang ngạnh, mất lập trường, có tư tưởng chống đối chủ nghĩa xã hội… được thiết lập kèm theo kế hoạch phong tỏa và bắt giữ khi cần thiết.

Thế là xong. Buổi tối chủ nhật Đại úy vui vẻ tí chút với thím Hoa (vợ của Đại úy), sáng mai đạp xe về đơn vị lòng thanh thản như không.

Lịch trình của Đại úy nổi tiếng khắp Thị trấn, được coi là “chuẩn mực vàng” cho các cán bộ noi theo. Ngay cả bí thư huyện ủy Trần Văn Thanh cũng có lần vỗ đùi kêu lên: “Tay ấy khá!” Chủ tịch thị trấn Lê Đức Huy thì mê Đại úy như điếu đổ. Ông nói với vợ con rằng ông luôn luôn có quý nhân phù hộ.

- Chứ không à? - Ông Huy nói với bà Hiền, vợ ông. - Tôi được cái tích cực năng nổ chứ văn hóa quá yếu, không có bác Thìn thì kỳ bầu ủy ban hành chính khóa sau là tôi toi!

Trong một cuộc nhậu tại nhà ông, họa sĩ Tu gõ đũa xuống mâm, nói lè nhè:

- Bác Huy này… Tức là tôi ấy mà… tôi muốn nói bác ngu nhưng ngu chân thành. Tôi chỉ căm ba đứa ngu bố láo thôi bác Huy ạ…

Chủ tịch Thị trấn nuốt vội miếng thịt bò, tợp một ngụm rượu, gật đầu lia lịa:

- Đúng! Đúng! Cứ chân thành là được, ngu hay thông không quan trọng lắm!

Mọi người ngồi quanh ông đều lên tiếng:

- Phải quá! Phải quá!

Trừ bà Hiền, khi tan cuộc đã nguýt Chủ tịch Thị trấn, nhiếc:

- Người ta chửi cho là ngu mà cũng sướng.

- Ai chửi tôi ngu?- Chủ tịch Thị trấn trợn mắt hỏi vợ.

- Chú Tư chứ còn ai!

- À…- Chủ tịch Thị trấn cười hề hề. - Thằng ấy kinh lắm, tiếng Pháp nói làu làu. Hắn chỉ khua vài khua là bà hiện ra rành rành trên giấy: tóc, tai, mồm, mũi… đủ hết!

Nhưng khi đại úy Thìn chỉ rõ cho Chủ tịch Thị trấn biết tính chất nguy hiểm của các bức tranh lố lăng đang cất giấu trong túp lều họa sĩ Tư thì ông mới ngã ngửa người ra. Chủ tịch Thị trấn nghĩ thầm: “Mẹ kiếp, hèn gì nó gọi mình là thằng ngu. Ngu chân thành hay ngu bố láo thì cũng là ngu”.

Đại úy Thìn sau khi kể ra một số dư luận quần chúng xung quanh “đống tranh phản cách mạng” của họa sĩ Tư, bình thản châm lửa hút, chân tình phát biểu:

- Mặc dù tôi với nó là anh em… nhưng trong cuộc đấu tranh “ai thắng ai” này, tôi phải tẩy rửa hết các nọc độc tư sản trong đầu nó.

- Vâng, phải.- Chủ tịch Thị trấn gật đầu, im lặng bẻ ngón tay.

- Hội họa là loại nghệ thuật được trọng vọng, được tôn thờ nhất vì việc vẽ cho giống là rất khó. Tuy vậy, hội họa phải phục vụ nhân dân lao động chứ không phải thứ hội họa nhăng nhít vẽ l. c. và đ…

Đại úy nói rất nghiêm túc, thỉnh thoảng dừng lại để hắng giọng ở những chỗ ngắt câu. Chủ tịch Thị trấn nghe cũng rất nghiêm túc, nhanh chóng nhất trí:

- Chứ sao! Thứ hội họa ấy là nguy hiểm lắm, tôi còn lạ gì thứ đó. Bác cứ để đó cho tôi!…

Thế là xong, làm việc với Chủ tịch thị trấn thật dễ chịu, bao giờ cũng dễ chịu. Đại úy đứng dậy vươn vai, nhìn chiếc xe đạp của Chủ tịch Thị trấn đang treo lên như cái xích đu, ngáp một cái, nói:

- Anh đem cái xe đạp ra ngoài đường mà tập, ai lại treo lên thế.

Chủ tịch Thị trấn xoa xoa tay, báo cáo rất thật thà:

- Anh tính với cương vị của mình lại ngã sấp ngã ngửa trước mắt quần chúng nhân dân thì còn ra cái gì. Tôi tính cứ ngồi đạp thế này cho nhuyễn chân, khi đem ra đường là đi được ngay.

Đại úy ái ngại, định nói: “Không được đâu” nhưng lại nghĩ đó là quyền tự do cá nhân của mỗi người cần phải tôn trọng, nên thôi. Ông cáo lui ra về, vừa đi vừa nhẩm lại bài nói chuyện với bộ đội sáng thứ hai tuần sau mà ông vừa nháp lúc trưa.

Đại úy về, Chủ tịch Thị trấn trèo lên chiếc xe đạp tập thêm một giờ nữa rồi túc tắc đi thẳng ra bờ sông Linh.

Tính ông vốn vậy, đã nói là làm, làm ngay, làm năng nổ hơn người, không biết mệt mỏi là gì.



May mắn làm sao, từ ngày ông nhận chức chủ tịch Thị trấn thì Đại úy Thìn kéo quân về đóng bên bờ sông Linh. Đại úy là còn đẻ của Thị trấn, dù là quân của Bộ, không liên quan gì đến công việc ở đây, nhưng Đại úy luôn luôn nhìn thấy trách nhiệm của mình ở mọi nơi, Đại úy mặc nhiên trở thành cố vấn đắc lực cho Chủ tịch thị trấn về mọi mặt. Đại úy nói: “Việc này anh cần phải…”, Chủ tịch thị trấn đáp: “Anh cứ để đấy cho tôi”, chắc như đinh đóng cột. Không có gì phải bàn cả. Đôi khi Đại úy phải giải thích cho rõ thêm chứ không bàn cãi. Ví như “vụ hội họa” của họa sĩ Tư chẳng hạn. Đại úy phải giải thích hơi lâu Chủ tịch thị trấn mới vỡ nhẽ tính chất nguy hiểm của thứ “văn hóa nô dịch” hiện còn rơi rớt trong lòng xã hội chủ nghĩa, cụ thể là tại túp lều bên bờ sông Linh mà bây giờ ông đi đến đó.

Ông đến, túp lều vắng hoe. Lũ trẻ con đã tẩu tán đi đằng nào. Ông đứng tần ngần một lát rồi tắc lưỡi chui vào trong. Chẳng có gì ngoài ba cái xoong nhỏ, hai đôi đũa, một lọ nước mắm, một hũ muối, một lọ mắm tôm, một cái đèn và một đống to tướng các bức tranh. Ông giở đống tranh ra, lần lượt xem kỹ lưỡng các bức tranh vẽ những mặt người méo mó, những con bọ chạng háng choán cả bức tranh, những cái mông đàn bà, những con cò hai cổ, những đứa trẻ mặt đầy nếp nhăn và lún phún ria mép…

- Thế này thì nguy hiểm thật!

Ông chặc lưỡi và giở tiếp hai chục bức cuối cùng vẽ đàn bà trần truồng, những người đàn bà không có đầu, loạn xạ các kiểu đứng ngồi. Ông nhìn kỹ từng bức một, rất kỹ: “Tình yêu” - “Nỗi đau các bà mẹ” - “Hỡi nhân loại hãy chấm dứt chiến tranh” - “Khát vọng sống”… Ông không chú ý đến các dòng chữ ghi dưới bức tranh mà nghiên cứu “nội dung” các bức tranh qua các “bộ phận bôi bác” của đàn bà được họa sĩ đặc tả khá dày công.

- Chỉ có đàn bà hàng tỉnh, thứ nào thứ nấy mới như thế này chứ nhân dân lao động Thị trấn làm gì có. - Ông kêu to.

Ông đặt số tranh vừa xem trở lại y nguyên rồi chui ra. Họa sĩ Tư vẫn chưa về. Ông lại chui vào, giở lại những bức vẽ những người đàn bà trần truồng, những người đàn bà không có đầu, loạn xạ các kiểu đứng ngồi… Hơn một giờ sau ông rời túp lều, vừa đi vừa lẩm bẩm:

- Kinh thật! Kinh thật! Đích thị là đàn bà hàng tỉnh!

Lúc này đã sẫm tối, những người đánh cá đêm bắt đầu đỏ lửa dọc sông Linh.
 

Minh họa: Đinh Cường


Chương hai

Lúc này đã sẫm tối, những người đánh cá đêm bắt đầu đỏ lửa dọc sông Linh.

Họa sĩ đang trở về túp lều của mình dưới chân đê, vừa đi vừa lắc lư. Trông dáng điệu Họa sĩ là biết say: ngật ngà ngật ngưỡng, bước biển bước trời.

Họa sĩ vừa chui vào quán thịt chó Cule ăn và uống và say. Trước đó Họa sĩ có đến chỗ đại úy Thìn. Không phải để thăm Đại úy mà thăm thím Hoa. Họa sĩ là bạn thiếu thời của thím Hoa. Cả hai đang học dở để giật bằng Dip-lôm thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Họa sĩ lên rừng gia nhập Việt Minh, thím Hoa làm trợ giáo cho ba đứa còn của một nhà giàu nhất Thị trấn. Bây giờ Họa sĩ đã trở thành họa sĩ, thím Hoa là vợ của anh cùng cha khác mẹ của Họa sĩ. Từ ngày gặp nhau, họ mừng vui ra mặt. Họ nói với nhau hàng giờ bằng tiếng Pháp. Nói và hát và khua chân múa tay như những con vượn bị tách khỏi bầy lâu ngày mới gặp nhau. Chẳng ai hiểu họ nói về cái gì, vì cái gì mà cười…

Thím Hoa là người đàn bà đẹp đến mê li. Và dịu dàng, một sự dịu dàng tỏa ra từ tất cả những gì đức chúa trời ban phát cho thím. Cuộc tình của thím với đại úy Thìn xảy ra chớp nhoáng sau trận công đồn cuối cùng giải phóng Thị trấn. Lúc bấy giờ Đại úy nổi tiếng là một người lính dũng cảm có một không hai khắp tám huyện trong tỉnh. Tiếng tăm của Đại úy đến Thị trấn trước khi ông có mặt. Miên man những huyền thoại về ông. Lính Pháp trong ba đồn đóng ở Thị trấn hễ nghe Đại úy xuất hiện ở đâu là tất thảy đều sảng vía, kinh hồn. Đại úy đã đứng trước thím Hoa với một vầng hào quang sáng chói khiến thím ngợp thở. Đến nỗi khi Đại úy vừa ngỏ lời thím đã run lên, nghẹn ngào. Cưới nhau gần một năm, thím mới biết chống mình là anh cùng cha khác mẹ với họa sĩ Tư, thật không ngờ. Đấy là ngày vợ chồng thím thắp hương cúng giỗ mẹ Đại úy. Khi tàn cuộc rượu, bà con nội ngoại ra về, thím ngồi rửa bát, thốt nhiên hỏi:

- Thế ba mất ngày nào?

Đại úy đang vui vẻ bỗng nghiêm mặt:

- Em hỏi để làm gì?

Thím dướn mày, ngạc nhiên:

- Ơ hay, cũng phải biết để mà thờ cúng chứ!

Đại úy vươn vai, ngáp một cái, lắc đầu:

- Tôi không có cha.

Thím im lặng. Thế là có chuyện. Và câu chuyện mà Đại úy kể tối hôm đó đã làm cho thím bàng hoàng: Cha của họa sĩ Tư là địa chủ cỡ bự ở ngoại vi Thị trấn. Vào năm Họa sĩ chưa sinh ra, cha anh đã gạ gẫm và cưỡng bức một người ở đợ trong chín đêm. Đại úy là kết quả của cuộc tình cưỡng bức đó. Thuở thiếu thời, thím không hề nghe Họa sĩ kể chuyện này. Với lại, cái tuổi ngốc nghếch đó người ta chỉ biết nhau, có ai để ý đến hoàn cảnh của nhau bao giờ. Thím cũng thế, chỉ biết Họa sĩ là con một nhà giàu, thế thôi, cũng như thím- cháu nội một nhà giàu…

- Sao anh không nói gì cả? - Thím hỏi.

Đại úy vươn vai ngáp:

- Nói cái gì?

Thím thở dài:

- Có hai anh em mà cũng lánh mặt nhau.

Đại úy cả cười:

- Cô ngây thơ lắm. Anh em chỉ là quy ước của xã hội phong kiến mà thôi. Thực ra, tôi không coi cha tôi là cha tôi. Nghĩa là tôi không anh em gì với nó cả.

Thím ngước nhìn lên trần nhà, nước mắt vòng quanh, lát sau, thím nói to như nói với trần nhà chứ không phải nói với chồng mình:

- Ai đẻ ra mình là cha. Ai cùng cha với mình là anh em, nghe chưa!

Đại úy đã thiu thiu ngủ, giật mình hỏi:

- Cái gì?

Thím nhắc lại, giọng mềm hơn. Đại úy cằn nhằn:

- Thôi, ngủ đi. Tôi không anh em với nó. Tôi không cùng giai cấp với nó.

Ông lật người, ôm riết thím vào lòng, hôn một cái thật dài ở cổ:

- Ngủ đi em. Mai còn làm việc…

Thím rùng mình: “Thì mình cũng không cùng giai cấp với chồng mình”. Đúng vậy. Ông nội thím Hoa là một trong hai địa chủ giàu nhất huyện này. Cha của thím là thầy đồ nho nổi tiếng một vùng. Ông chết vì bệnh hủi, để lại khá nhiều bài thơ chữ Hán rất hay. Nhiều người hiện nay còn thuộc thơ ông, mỗi khi nói chuyện thế sự lại đem thơ ông ra minh họa. Thím Hoa thuộc hết ba trăm hai mươi sáu bài thơ chữ Hán và nhiều bài tản văn của cha mình. Thím giỏi tiếng Pháp và tiếng Hán. Vì thế, sau khi lấy nhau được vài năm thím nhận ra rằng những gì thím biết thì Đại úy mù tịt, và ngược lại, những gì Đại úy thường rao giảng cho con thì thím chẳng biết gì cả. Đại úy si mê chủ nghĩa xã hội, lúc nào cũng nói về nó với nỗi khát thèm bốc cháy. Còn thím chẳng quan tâm gì đến nỗi si mê của Đại úy, lặng lẽ chăm sóc Thùy Linh bằng các bản “nhạc vàng” và các bài thơ “lãng mạn” bị cấm.

- Cô không được nhả ra loại tư tưởng độc hại ấy cho con! - Đại úy đã quát to sau nhiều lần nhắc nhở mà thím không chịu nghe.

Cuộc chiến tranh bắt đầu xảy ra từ đó. Đầu tiên chỉ là thứ mụn nhọt cắm sâu trong tâm hồn thím. Sau thì không phải thế, có cái gì đau nhói và ghê tởm hơn ngày đêm quấy đảo thím. Đôi lần thím kêu lên:

- Anh làm gì thế! Muốn cai trị tôi chắc?

- Im ngay!

Đại úy đập bàn đánh “rầm”, nhìn thím với đôi mắt có lửa. Thím gục đầu trên bàn máy, liếc thấy Đại úy khoác áo chuẩn bị đi. Bao giờ cũng thế, mỗi bận cãi nhau, Đại úy lại khoác áo bước ra khỏi nhà.

Bước ra khỏi nhà vài bước, Đại úy quay lại nói tính khô:

- Tôi thuộc về lực lượng chuyên chính vô sản. Cô là vợ tôi, cô phải biết điều đó.

Thím rũ người, lát sau mới òa khóc nức nở. “Mình không cùng giai cấp với chồng mình”, ý nghĩ ấy ám ảnh thím hàng năm trời không dứt. Rồi thím cũng biết im lặng, một sự cam chịu bản năng của đàn bà cộng với sự dịu dàng hiếm thấy của thím đã làm cho thím thay đổi hẳn về chất: cười, nói, đi, đứng, hát hò nhẹ nhàng như không. Chỉ những lúc Đại úy trở về đơn vị, thím hoàn trả lại nguyên chất cái mà thím có. Thím ngồi bên bàn máy và hát, nhẹ nhàng và đằm thắm, ngọt ngào và sâu lắng, về những ký ức xa vời của tuổi xuân xanh, thời mà thím đã úp mặt vào ngực anh học trò gầy còm, bạn học của thím: ấy là họa sĩ Tư. Rồi anh học trò ấy trở về, dù thuộc diện hưu trí nhưng vẫn chưa vợ, vẫn còn ngây thơ ngốc nghếch như năm nào. Thế là họ nói với nhau hàng giờ bằng tiếng Pháp. Nói và hát và khoa chân mùa tay như những con vượn bị tách khỏi bầy lâu ngày mới gặp lại nhau…

Lúc đầu Đại úy đã biết im lặng trước các cuộc “Rốp rít… xốp xít” của họ. Sau, như người bị bệnh ghẻ ruồi, ông cảm thấy ngứa ngáy khó chịu. Rốt cuộc, khi đã hết khả năng chịu đựng, Đại úy đã lên tiếng. Thím Hoa im ngay sau khi Đại úy nhắc nhở lần thứ nhất. Thím bao giờ cũng là người đàn bà tuyệt vời, biết im lặng và lên tiếng đúng lúc, rất đúng lúc. Ngược lại, họa sĩ Tư bắt đầu “nghênh chiến” với Đại úy ngay từ phút gặp gỡ đầu tiên. Họa sĩ đút tay túi quần, cười hề hề, bình tĩnh phản công Đại úy từng vấn đề một như võ sĩ đấm bốc nhà nghề đấu với kẻ dưới tầm tay mình. Cuộc cãi cọ diễn ra một năm trời kể từ ngày Họa sĩ về hưu non.

Buổi chiều này cũng vậy.

Đại úy từ nhà chủ tịch thị trấn Lê Đức Huy trở về. Bước vào ngõ, ông đã nghe hai người hát váng nhà loại bài hát “anh em chàng nàng”. Đại úy dừng lại lắng nghe thật chăm chú rồi thủng thẳng tiến vào. Tiếng hát im bặt. Thím Hoa vừa cắm cổ đạp bán máy. Họa sĩ Tư khẽ gật đầu chào Đại úy. Ông lừ lừ nhìn hai người, không nói gì, tiến về phía mắc áo. Vừa cởi áo khoác Đại úy vừa ôn tồn nói cho hai người rõ từ nay không nên nhai lại loại nhạc tư sản hòng ru ngủ con người quên mất nhiệm vụ xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

- Đó là sản phẩm của bọ “Tờ-rốt-kít” và bọn “Nhân văn giai phẩm” - Đại úy nhẹ nhàng giải thích. - Hát hò là phải chọn lọc. Tại sao không hát những bài ca cách mạng, những bài hát yêu nước đòi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước?

Im lặng. Không ai nói với ai. Không ai nhìn ai. Lát sau, Họa sĩ đứng tựa vào cột nhà rút thuốc hút, miệng lẩm bẩm:

- Anh thì biết gì “Tờ-rốt-kít” với “Nhân văn giai phẩm” mà nói. Nghe người ta “kít” mình cũng “kít”…

Lập tức mặt Đại úy đỏ rực. Thái độ cố gắng ôn hòa của ông phút chốc tan biến. Ông trừng mắt nhìn như muốn nuốt chửng Họa sĩ:

- Cái thái độ ngạo mạn, khinh khi của chú, tôi nói cho chú biết: đấy là con đẻ của giai cấp tư sản, chú coi chừng!

Họa sĩ vẫn đứng tựa cột nhà, vuốt mũi một cái, cười ruồi. Thím Hoa đang ngồi may chợt ngẩng lên nói một câu nhẹ như tiếng đàn tơ:

- Ba mày nói đến là hay, cái gì cũng vu cho người ta là tư sản.

- Thùng rỗng hay kêu! - Họa sĩ Tư buột miệng.

“Rầm!” Một cái đập bàn cực mạnh của Đại úy. Ông hằm hằm nhìn hai người, dằn giọng:

- Tôi nói cho các người biết: nếu các người không tự tu dưỡng để cạo sạch ung nhọt mọc đầy trong đầu các người thì có ngày các người sẽ rũ tù. Chính tôi sẽ bỏ tù các người chứ không ai khác.

Thím Hoa ngừng may, nhìn ra ngoài vườn, mát mẻ:

- Ba nó thì luôn luôn nói Chủ nghĩa xã hội là ưu việt, thế mà động tý là bỏ tù. Thế ra nhà tù của ba nó nhiều thế à?

- Thì cái nhà này cũng là một nhà tù chứ đâu xa! - Họa sĩ vỗ tay cái “bốp”, kêu to.

- Câm ngay! Đồ ung nhọt! - Đại úy gầm lên.

Thím Hoa cúi đầu may tiếp. Thím buộc phải đần độn trước mặt Đại úy, nhiều lần thím cố gắng đần độn để Đại úy yên lòng. Họa sĩ Tư rời cột nhà, đưa mắt chào thím Hoa rồi quay về phía Đại úy nói chậm rãi nhẹ nhàng:

- Anh hay nổi nóng quá. Đã có gì đâu mà anh nổi nóng? Anh luôn nói là anh thuộc về lực lượng chuyên chính vô sản, là người đứng trong đội ngũ gác cổng Chủ nghĩa xã hội. Thế mà anh rất lơ mơ về Chủ nghĩa xã hội, anh Thìn ạ. Anh phải tìm thầy mà học. Muốn làm được cái gì phải học kỹ cái đó. Nếu không tìm ra thầy thì đến chỗ tôi, tôi cũng nói với anh được dăm bảy điều có ích. Chứ cái kiểu này thì… có ngày người ta buộc phải gọi anh là… là con bò đực đáng thương của Chủ nghĩa xã hội mà thôi.

Đại úy cười khẩy, xua tay:

- Thôi chú về đi, từ nay đừng đến nhiễu sự tôi nữa. “Học, học nữa, học mãi”, Lê-nin dạy tôi rồi, chú không phải dạy khôn cho tôi.

Họa sĩ Tư đút tay túi quần túc tắc bước ra ngõ. Vừa đi vừa huýt sáo. Gặp bất cứ cái gì giữa đường Họa sĩ cũng đá một cái và huýt sáo.

***

Chủ quán thịt Chó Cule, tên thật là Trần Ngọc Hiền, xưa nay là chủ thầu đường bộ nổi tiếng của tỉnh. Hòa Bình lập lại, ông cống hiến cho nhà nước một trăm tấn xi măng, năm trăm tấn sắt và bốn xe vận tải cùng với ba kho dụng cụ làm đường. Nhờ sự thành thật của ông, người ta không làm phiền ông trong việc khai báo hành tích của mình dọc thời kỳ ông làm chủ thầu. Hơn nữa, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông đã nhiều lần bí mật cho ô tô vận tải chở gạo lên rừng giúp bộ đội. Chính ông cũng là một tài xế giỏi, ông lái xe như người làm trò ảo thuật, thoắt biến thoắt hiện với một tốc độ khủng khiếp nhưng an toàn tuyệt đối. Người ta hỏi ông bây giờ muốn hành nghề gì, hành nghề ở đâu? Ông toét miệng cười, nửa đùa nửa thật:

- Tôi xin làm nghề bán thịt chó. Quê hương tôi chưa có gì nổi tiếng, tôi muốn quê hương tôi khét tiếng về mặt thịt chó.

Nói thì đùa mà làm thì thật. Ông về mở quán thịt chó, một năm sau cả ba mươi mốt xã trong huyện ai ai cũng biết “quán thịt chó cule bổ béo toàn diện”: rẻ, ngon và đặc biệt cứ bước vào quán là vui từ đầu bữa đến cuối bữa. Người ta nói ông là đại biểu của các chủ quán “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”. Vợ ông chết vì bệnh tim, để lại hai đứa con gái. Cả hai đều lấy chồng, đều ăn nên làm ra, khỏi cần phải cậy nhờ ông. Vậy là ông chỉ làm cho ông ăn. Không, ông giàu lắm, khỏi cần phải làm gì ông cũng đủ sống sung sướng. Nhưng ông thích nổi tiếng, ông nói vậy, không nổi tiếng nghề này phải nổi tiếng nghề khác, dứt khoát.

- Tôi thì chơi đến già cũng không chịu chết đói. Có điều, bây giờ khắp nơi đều phục vụ nhân dân, chẳng lẽ mình không tìm một việc gì mà phục vụ! Vô lý!

Ông trả lời “phỏng vấn” với mọi người như vậy. Ai ai cũng yêu quý ông, mỗi ngày ông tìm được một khách mới, một bạn mới. Họa sĩ Tư là bạn của ông, bạn mới, “thường trú ba phần đời” tại quán thịt chó của ông.

Chiều nay họa sĩ đến quán thịt chó của ông sớm hơn lệ thường một giờ. Cule đứng ở bậc chào to:

- Hôm nay đến sớm thế!

Họa sĩ nhếch mép cười, đưa tay nhìn đồng hồ:

- Ờ nhỉ!

Cule chạy ra, kéo tay họa sĩ vào quán, thì thầm:

- Anh phải cẩn thận đấy.

- Cẩn thận cái gì?

Cule ghé tai Họa sĩ nói như vầy, như vầy… Họa sĩ “à” và cười to, cười rất to, cười rung quán thịt chó, khiến chủ quán Cule trố mắt. Họa sĩ chùi nước mắt xong, nói:

- Dọn ra đi chứ?

Cule xắn tay hỏi:

- Có dồi chứ?

- Ờ, sống trên đời kiếm miếng dồi chó.Chết xuống âm phủ biết có hay không.

Cule nhăn răng cười, cầm con dao phay khua khua:

- Không có đâu! Không có đâu! Dưới ấy tốt lắm!

- Rượu ngon chứ?

- Rồi!

Chủ quán nhanh nhẹn vào buồng trong, một loáng đã thấy bưng ra, đủ hết: rượu ngon, dồi ngon, tiết canh ngon. Cule nhìn Họa sĩ ăn, chép miệng:

- Không biết tiếp anh được… bao lâu nữa.

Họa sĩ ngước lên ngơ ngác:

- Cái gì?

- Là tôi nói… e hèm, - Cule dè dặt- Là tôi nói… người ta đồn anh không sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật.

Họa sĩ nuốt đánh ực miếng dồi to nhất trong đĩa, gật đầu:

- Đúng đấy!

- Anh bảo sao?

- Tôi sống và làm việc theo ca dao và tục ngữ.

- Ớ trời!

Cule thè lưỡi, mặt như thằng đần độn hạng một. Ông dịch ghế lại gần Họa sĩ, nói nhỏ:

- Nhỡ người ta bắt anh thì sao?

Họa sĩ trợn mắt:

- Cặc!

Cule ghé sát tai Họa sĩ thì thầm như vầy, như vầy… Họa sĩ lại “à” và cười to, cười rất to, cười rung quán thịt chó. Xong Họa sĩ chùi mép đứng dậy, chìa tay cho chủ quán cầm lấy lắc lắc và bước ra khỏi quán, cứ ngửa cổ thế mà cười, ngật ngà ngật ngưỡng, bước biển bước trời, tiến về túp lều phía bờ sông Linh.

Lúc này đã tắt nắng, túp lều chìm trong bóng tối. Họa sĩ ngao ngán nhìn nó một chập rồi bước xuống phía hòn đá. Mát rượi. Gió nồm từ biển thổi vào, chạy dọc bờ sông Linh, tràn qua cơ thể nóng hâm hấp của Họa sĩ.

Họa sĩ không ngủ được, mở mắt nhìn lên trời lác đác các vì sao, day dứt về một thời xa lắc. Và hát, nhẹ nhàng và đằm thắm, ngọt ngào và sâu lắng để hoài nhớ những giọt nước mắt trước lúc chia ly của người bạn gái thuở vừa dứt tuổi học trò.

- “Thời ấy hay nhỉ? - Họa sĩ nghĩ. - Có thế mà cũng nhớ nhau. Chẳng được cái hôn nào mà cũng nhớ nhau”.

Thời ấy là thời “Toàn quốc kháng chiến”. Họa sĩ tình nguyện theo Việt Minh tham gia kháng chiến. Cuộc chuẩn bị chớp nhoáng, ra đi chớp nhoáng. Thím Hoa không hề được báo trước. Mãi đến buổi tối trước khi Họa sĩ cùng hai mươi chín trai tráng trong làng xắn quần móng lợn chuẩn bị lẻn qua trảng cát cứ thẳng hướng núi Chóp Chài mà tiến thì thím mới hay tin. Thím chạy tơi tả trong bóng tối, vượt qua một cánh đồng ngoại vi Thị trấn, lội dọc suối Mật, cứ hướng ngọn cây dừa xóm Cau mà chạy. Tới nơi thì giờ xuất phát của hai mươi chín chàng trai đã bắt đầu.

- Anh Tư!

Thím kêu to. Một người ôm chặt thím, bịt mồm:

- Khẽ thôi.

Họa sĩ Tư chạy đến, kéo thím sang một góc.

- Đi ngay à?

- Đi ngay.

- Sao không báo trước?

- Vì bí mật.

- Bí mật cả Hoa nữa?

Thím nấc lên, úp mặt vào ngực Họa sĩ mà khóc, khóc như chưa bao giờ khóc.

- Yên tâm, rồi Tư về.

- Không!Không!

- Tư về thật mà.

- Bao giờ?

Một người đến gọi khẽ:

- Nhanh, Tư!

Họa sĩ gỡ tay thím, lặng lẽ chia tay. Cả đoàn người nối chân nhau, cúi đầu bước. Núi Chóp Chài còn xa tít. Họ đi, từng bước một nặng nề. Thím Hoa chạy theo sau, vừa chạy vừa gọi thầm:

- Anh Tư ơi, em nhớ anh lắm! Anh Tư ơi, em nhớ anh lắm!

Trắng băng những bãi cát hoang vu.

Sau đó là những năm dài bặt tin nhau. Mãi đến ngày hòa bình lập lại, Họa sĩ mới hay tin thím Hoa đã có chồng. “Ờ, phải thôi”. Họa sĩ cay đắng nghĩ thầm. Rồi Họa sĩ lại hay tin: thím Hoa đã lấy anh cùng cha khác mẹ với mình. “Ờ cũng phải thôi”, Họa sĩ rưng rưng nước mắt, cười chua chát.

Hôm Họa sĩ về hưu non, thím Hoa có đến lều thăm Họa sĩ và xem tranh. Thoáng thấy thím, Họa sĩ mỉm cười gật đầu chào. Thím vào, ngồi xuống tấm ván rộng được kê lên bằng bốn hòn gạch. Họa sĩ rót nước, đặt bát vào tay thím. Thím đỡ lấy, nhìn đăm đăm vào đáy bát.

- Uống nước đi.

- Dạ.

- Hơ! Chị dâu mà “dạ”.

Thím Hoa nhìn Họa sĩ với tia nhìn đau xót rồi lặng lẽ nhìn bốn xung quanh. Đoạn, thím lôi đống tranh to tướng của Họa sĩ ra xem kỹ lưỡng từng chiếc một.

- Không ngờ anh lại trở thành họa sĩ. - Thím nói.

- Ờ. - Họa sĩ nói.

Và im lặng.

- Anh không thích “ấn tượng” à? - Thím hỏi.

- Xưa thì thích, giờ thì không. - Họa sĩ mỉm cười trả lời.

Một đợt gió bất ngờ thổi ập vào. Tóc thím bồng lên, tỏa ra tứ phía, phủ kín mặt. Thím vén tóc, khẽ khàng:

- Tại sao thế?

- Tại sao là…

- Tại sao anh không thích “ấn tượng”?

- À… vì mình đã quá nhiều đau khổ, phải cậy đến “Siêu thực”.

Thím chăm chú nhìn từng bức, từng bức. Mãi sau thím mới ngước lên, nhìn Họa sĩ, buồn rầu nói:

- Thế thì anh chẳng hiểu gì “siêu thực”.

- Nhưng mà Hoa được học lúc nào mà giỏi thế?

Họa sĩ kêu to, chực lao đến thím. Thím cúi đầu, thì thầm:

- Lúc xa anh…

Thím từ từ ngước lên. Họ nhìn nhau. Mắt và mắt và mắt… Bất chợt thím lắc đầu, vùng dậy:

- Hoa về đây.

- Khoan! Khoan… đã!

Thím bước ra cửa lều, quay lại chào từ biệt Họa sĩ. Biết làm sao, sau lưng thím là chồng thím, là con thím. Trước mắt thím là Họa sĩ, đằng nào thì cũng là em chồng thím.

Họa sĩ mỉm cười: thế là hết. Gió thổi. Bao nhiêu là gió từ đáy sông Linh ùa lên. Những ngọn sóng nhỏ li ti gõ vào sườn trái Họa sĩ. Hòn đá và Họa sĩ ngủ đều trong tiếng ru hời khe khẽ của những ngọn sóng sông Linh.

*

Có một người kéo chân. Họa sĩ choàng tỉnh. Bốn người đứng quanh hòn đá: hai công an, hai dân quân. Hình như họ đứng vậy đã từ lâu.

- Có việc gì thế? - Họa sĩ lần lượt nhìn từng người, ngáp dài, uể oải hỏi.

Một công an có cái trán dô nói rõ ràng:

- Chúng tôi được lệnh khám nhà anh.

Và rút tờ giấy “Lệnh khám nhà” đưa cho họa sĩ. Họa sĩ không để mắt đến tờ giấy, đứng bật dậy, vui vẻ nói:

- Tốt thôi, mời các anh vào. Chỉ lưu ý lần sau các anh dùng từ cho chính xác.

- Cái gì?

- Đây không phải là nhà mà lều! “Lệnh khám lều!”.

- À…

Cả bốn người chui vào lều. Họa sĩ đứng ngoài châm lửa hút thuốc, chờ đợi. Một lát sau, cả bốn người chui ra, trong tay họ ôm đủ sáu mươi tư bức tranh vẽ những mặt người méo mó, những con bò chạng háng, những cái mông đàn bà, những con cò hai cổ…

Người có trán dô bình thản nói:

- Anh bị bắt.

Họa sĩ dướn mày:

- Thế à?

Bốn người giải Họa sĩ về đồn, ôm cả đống tranh lên theo.

Tại đồn công an huyện, đồn trưởng công an tử tế mời Họa sĩ xơi nước:

- Trà ngon thật. - Họa sĩ chép miệng.

- Trà Thái Nguyên…

- Tốt. Khi nào tôi được thả, các anh để lại cho tôi một lạng…

- Hì hì… Khi đó chè mốc mất rồi.

- Thế à? Tiếc quá nhỉ?

Đồn trưởng nhã nhặn hỏi:

- Anh vẽ những bức tranh này phải không?

- Tôi vẽ. - Họa sĩ xác nhận. - Anh thấy có được không?

Đồn trưởng không trả lời, chìa ra tờ giấy liệt kê sáu mươi tư bức tranh, nói:

- Vậy anh ký vào đây.

- Vào đâu?

- Vào đây.

- Vâng.

Họa sĩ ký. Đồn trưởng hỏi:

- Tại sao anh vẽ những bức tranh này?

- Tôi thích.

- Tại sao anh lại thích?

- Vì tôi thích cái mà tôi thích.

Đồn trưởng lại rút ra một tờ giấy trắng, nói:

- Đề nghị anh tường trình quá trình vẽ những bức tranh này.

- Vâng.

Họa sĩ vui vẻ đỡ lấy tờ giấy và cây bút, hý hoáy viết.

“Tôi thích cái mà tôi thích. Rồi tôi vẽ cái tôi thích về cái mà tôi thích. Tôi rất thích cái tôi vẽ cái tôi thích về cái mà tôi thích. Sau đó tôi lại không thích cái cái tôi rất thích cái tôi vẽ cái tôi thích về cái mà tôi thích. Rồi tôi thích cái mà tôi thích. Rồi tôi vẽ cái tôi thích về cái mà tôi thích…”

Đồn trưởng đọc đi đọc lại bản tường trình của họa sĩ viết dựa vào lời nói đầu cuốn “Dì HULIA và nhà văn quèn”. Rất lâu sau đồn trưởng ngẩng lên, nghiêm mặt nói:

- Anh đùa với chúng tôi đấy à?

Họa sĩ nghiêm túc trả lời:

- Không. Đó là quá trình sáng tác sáu mươi tư bức tranh này của tôi.

Đồn trưởng nghĩ: “Chơi với loại này khó thật”, rồi nói:

- Chúng tôi tạm thời giữ anh tại đồn để điều tra thêm và chờ ý kiến cấp trên.

Họa sĩ nhếch mép:

- Thế à?

Một công an đã đứng chờ ở cửa. Họa sĩ theo người này đi vòng vào một hành lang hẹp tới căn phòng tạm giữ những người phạm pháp.

*

Họa sĩ lăn ra nền gạch hoa, hít một hơi thật sâu, ngủ tiếp giấc ngủ bị đánh động ban nãy. Anh ngủ được, ngủ khá sâu là đằng khác. Mãi đến khi nghe có tiếng người gọi mình, anh mới mở mắt.

Nhác thấy Thùy Linh đứng dán mặt vào những song cửa sổ, Họa sĩ vui vẻ ngồi dậy.

- Thùy Linh đấy à?

- Chú có việc gì không?

- Không, chẳng việc gì sất.

- Họ nói… sẽ giam chú bao lâu?

- Không phải giam, chỉ tạm giữ.

Họa sĩ tiến lại, tì vai vào song cửa sổ, thò tay vào túi tìm thuốc lá hút.

Thùy Linh ngạc nhiên khi thấy Họa sĩ bình thản như không. Cô và mẹ cô đã tưởng tượng quá ghê gớm cái cảnh bắt bớ giam cầm Họa sĩ. Thím Hoa đã đánh vỡ cái bình thủy tinh đựng dấm chua khi Thùy Linh chạy ào về báo tin Họa sĩ đã bị công an bắt giải lên đồn do Hoàng báo lại. Hoàng cũng không biết, nghe hàng xóm báo lại. Anh đang tập thể dục buổi sáng, trên bãi cỏ rộng chừng vài sào đất trước nhà thì bác Cả Rí đi câu lươn về gặp anh, nói:

- Họa sĩ Tư bị bắt.

Hoàng giật mình, hỏi:

- Bắt làm sao, bác Cả Rí?

- Bắt như bắt kẻ trộm, như bắt Việt gian bán nước chứ còn làm sao nữa.

- Thật hả bác?

- Bây giờ còn ở đồn công an.

Bác Cả Rí xách xâu lươn đi thẳng, vừa đi vừa oang oang:

- Việt gian bán nước nhiều như rươi, trên rừng dưới biển đủ hết! Ghê!

Hoàng chạy thục mạng về đồn xem sự thể ra sao.

- Người ta đang hỏi cung không cho ai vào.

Vài người trong đám đông đứng trước đồn công an nhóng cổ dòm vào nói với Hoàng như vậy. Hoàng chạy ra chợ tìm Thùy Linh. Anh biết giờ này bao giờ cô cũng đứng ở cửa chợ đón mua cá tươi dân nôốc chài đưa đến. Thùy Linh được tin vứt rổ cá chạy về. Hoàng chạy ngược lên huyện ủy tìm ba anh. Hoàng hy vọng nhờ tiếng nói bao giờ cũng quan trọng của ba mình mà Họa sĩ thoát nạn.

Họa sĩ có một quan hệ khá gắn bó với Hoàng và bí thư huyện ủy từ xa xưa.

Người ta kể, không được rành mạch cho lắm, rằng năm 1946 Pháp tái chiếm Thị trấn, họa sĩ Tư gia nhập Việt Minh lên núi Chóp Chài hoạt động. Tại đây họa sĩ đã gặp và yêu mẹ Hoàng, một mối tình thật dữ dội và lãng mạn. Cả hai bị kiểm thảo và kỷ luật rất nặng. Họa sĩ phẫn chí xin đi học lớp hội họa ngắn hạn ở Thanh Hóa, năm sau được gọi lên chiến khu Việt Bắc dự một lớp hội họa khác và ở lại đấy đến năm 1949 thì trở về đỉnh Chóp Chài. Người ta kể, không được rành mạch cho lắm, trước lúc chia tay với họa sĩ Tư, mẹ Hoàng đã thề thốt nặng lời với Họa sĩ, nhưng khi Họa sĩ trở về thì mẹ Hoàng đã mang thai Hoàng, đã vợ chồng với ba Hoàng. Họa sĩ lặng lẽ bỏ đỉnh Chóp Chài ra Thanh Hóa. Khi nghe tin mẹ Hoàng chết, lúc Hoàng tròn một tuổi, Họa sĩ đã nháo trở lại Chóp Chài. Mẹ Hoàng đã được đồng đội chôn cất chu đáo, chỉ có Hoàng là lăn lóc trên tay người này sang người khác. Ba Hoàng không có mặt ở Chóp Chài, ông đã được lệnh đi vào Thừa Thiên trước khi mẹ Hoàng ăn phải nấm độc mà chết. Họa sĩ đã ẵm Hoàng, nuôi Hoàng từ đó cho đến khi Thị trấn giải phóng thì gặp ba Hoàng và đại úy Thìn. “Một cuộc hội ngộ đầy nước mắt”, người ta nói vậy. Họa sĩ lặng lẽ giao Hoàng cho ba Hoàng, không chờ một nửa câu cám ơn, vội vã ra đi. Có người nói, vì thế cho nên dù Họa sĩ có ăn nói ba bửa, phản động, mất lập trường thì vì ơn nghĩa xa xưa, ba Hoàng cũng bỏ quá đi cho. Có người nói, không được rành mạch cho lắm, rằng người đem ra kiểm thảo, kỷ luật nặng họa sĩ Tư và mẹ Hoàng về mối tình dữ dội, lãng mạn của hai người không ai khác chính là ba Hoàng; rằng đó là âm mưu để “nẫng tay trên” mẹ Hoàng từ tay họa sĩ Tư. Vậy nên chính ba Hoàng, dù là Bí thư Huyện ủy, vẫn là người sợ họa sĩ Tư chứ không phải ngược lại.

Việc họa sĩ Tư nuôi Hoàng ba năm, kể từ ngày mẹ Hoàng mất và trao cho ba Hoàng tại Thị trấn là sự thật duy nhất Hoàng biết được do cả Họa sĩ lẫn ba Hoàng đều kể lại. Còn những chuyện “không được rành mạch cho lắm” mà người ta xì xào thì tuyệt nhiên hai người không nhắc tới.

Hoàng hỏi ba anh:

- Có đúng như vậy không?

Ba cười nhỏ, hỏi lại:

- Người ta nói như vậy à?

Hoàng hỏi họa sĩ Tư:

- Có đúng như vậy không?

Họa sĩ trợn mắt nhìn Hoàng rồi ôm bụng cười sặc sụa không nói gì.

Hoàng cứ áy náy không yên. Đôi lần anh nắm tay Thùy Linh chạy tràn trề dọc bờ sông Linh, vào những ngày cuối cùng trước khi kết thúc tuổi thơ, ngó thấy Họa sĩ cùng với túp lều của mình đứng chơ vơ trên bờ sông, anh cảm thấy xa xót một điều gì như là lỗi của chính anh. Họa sĩ bình thản bước từ nỗi cô đơn này sang nỗi cô đơn khác với bộ mặt dương dương tự đắc. Chưa bao giờ Họa sĩ nói được một lời tử tế với đàn bà. Trong một loạt bức tranh mô phỏng về thế giới đàn bà của Họa sĩ đều méo mó, trần tục, nhìn vào chỉ thấy buồn nôn…

Có lần ba Hoàng, Bí thư Huyện ủy Trần Văn Thanh, đã vỗ vai họa sĩ, cười cười:

- Họa sĩ xin nhớ cho: năm nay Họa sĩ đã tứ tuần rồi đấy!

Họa sĩ cũng cười cười:

- Thì việc gì đến anh?

- Không việc gì cả! Nhưng rốt cuộc chú cũng phải sống với người nào đấy chứ.

- Nhưng tôi thấy không cần thiết lắm! - Họa sĩ khịt khịt mũi - vả lại, tôi thích để vậy cho đàn bà nó thèm!

- A ha!

Ba Hoàng cất tiếng cười to. Ông có thể cất tiếng cười sảng khoái vô tư như vậy vào bất kỳ thời điểm nào. những lúc không biết nói gì, hoặc nói ra bất tiện với người mình đối thoại ông thường cất tiếng cười rất to rồi vui vẻ rút lui.

Họa sĩ cũng cười theo, đắc chí tự vuốt mũi mình. Họa sĩ có cái kiểu vuốt mũi mình trông rất gai mắt.

- Nói vậy thôi, - Họa sĩ khinh khỉnh nhìn vào mắt ba Hoàng, - đến đàn ông người ta còn khinh ghét tôi ra mặt, huống chi đàn bà. Ai sẽ lấy tôi? Không ai cả. Nhưng tôi sẽ lấy được bất cứ ai nếu tôi cần. Báo cho đồng chí Bí thư Huyện ủy biết trước. Nếu nhỡ may tôi có làm bậy thì anh cố bỏ qua đi cho. Nếu cái lực lượng “gác cổng chủ nghĩa xã hội” của anh Thìn có tóm cổ tôi thì xin anh một cú điện thoại giải thoát giùm.

Ba Hoàng cười to, bắt tay tạm biệt Họa sĩ. Ông không thích gây sự hoặc nói chuyện lâu với những kẻ coi trời bằng vung. Khi cần thiết phải bắt chuyện, ông thường nói chuyện tào lao, rồi “thôi nhé” và đi, rất nhanh gọn. Chỉ có Hoàng là luôn luôn phải nghe Họa sĩ nói hàng giờ liền, thượng vàng hạ cám về chuyện đời, những lúc Họa sĩ đến chơi nhà mà không có (thường là không có) ba Hoàng ở nhà. Họa sĩ đến chơi không cần báo trước, không cần tính toán lịch làm việc của ba Hoàng chứ không nói đến chuyện xin phép hay đăng ký như một số người. Thích là họa sĩ đến, hai tay đút túi quần, tự tiện đẩy cổng bước vào, hỏi như quát:

- Anh Thanh có nhà không đấy?

Hoàng trả lời có hoặc không Họa sĩ đều vào. Họa sĩ nói rất to, tay vung lia lịa, vỗ xuống bàn. Đôi khi còn nhóng cổ hỏi ba anh:

- Anh hiểu chứ, hả?

Kết thúc “bài” nói chuyện tràng giang đại hải của mình, bao giờ Họa sĩ cũng nhét gói thuốc hút dở của ba Hoàng vào túi:

- Còn mấy điếu anh cho tôi nhé!

Hoàng thường chịu trận nhiều hơn ba anh. Làm sao anh có thể nói: “Thôi, mình bận chút việc, xin lỗi nhé!” như ba anh vẫn thường nói với rất nhiều người. Hoàng buộc phải im lặng nghe họa sĩ giảng giải, tô vẽ “các trận chiến đầu ngàn cân treo sợi tóc” với đàn bà. Họa sĩ vừa khịt mũi vừa nói, mặt mày rạng rỡ như con nít vào mâm cỗ. Tất cả những gì họa sĩ nói đều nằm ngoài vùng tưởng tượng của Hoàng. Đôi khi chán quá, anh định nhổm đít đứng dậy liền bị Họa sĩ ấn vai đè xuống:

- Ấy, ngồi yên. Tớ đã nói xong đâu.

Hoàng rùng mình, nổi da gà về những chuyện tởm lợm của Họa sĩ. Còn họa sĩ thì ngửa cổ cười ha ha ha… Vuốt mũi một cái lại cười ha ha ha… Cười và bình thản bước từ nỗi cô đơn này sang nỗi cô đơn khác với bộ mặt dương dương tự đắc.

Tuy vậy Hoàng vẫn cảm thấy xa xót một điều gì, như là lỗi của chính anh, khi thấy Họa sĩ đứng chơ vơ cùng với túp lều của mình trên bờ sông…

Hoàng đến gõ cửa phòng ba anh. Phòng khóa trái. Một cán bộ tuyên huấn trả lời:

- Ba cháu đi họp ở tỉnh.

- Bao giờ về?

Bao giờ về? Bao giờ về? Bao giờ về? Hoàng chạy rối mù quanh căn buồng hẹp và rủ xuống trên thảm cỏ được tỉa tót rất đẹp trước căn phòng làm việc của ba anh.

*

Bây giờ túp lều của họa sĩ Tư chỉ còn một mình, nó khẽ rung lên theo từng đợt gió từ cửa sông ùa vào. Chủ nó đang đứng trong phòng dành cho những người phạm pháp ở đồn công an huyện.

Họa sĩ tỳ vai vào cửa sổ, thò tay tìm thuốc lá, bình thản như không, khiến Thùy Linh rất đỗi ngạc nhiên. Cô nhớ là mẹ cô đá đánh vỡ bình thủy tinh đựng dấm chua, ôm mặt rú lên một tiếng ghê rợn như thế nào khi cô chạy về báo tin Họa sĩ bị bắt. Mọi sự khủng khiếp mà cô tưởng tượng trong quá trình chạy từ nhà đến đồn và đứng chầu chực trước cổng đồn chờ đến lượt được phép vào thăm Họa sĩ đều tan biến trước thực tế giản dị như thế này.

Họa sĩ ung dung nhả từng vòng khói thuốc tròn vo lờ đờ bay qua cửa sổ, đưa mắt âu yếm nhìn Thùy Linh:

- Về nói với mẹ cháu là chú vẫn bình an vô sự.

- Mẹ cháu khóc nhiều lắm, và run lên, làm việc gì cũng run lên.

Thùy Linh thì thầm. Chẳng việc gì phải thì thầm cả, cứ choang choang cũng chẳng sao nhưng cô cứ thì thầm như mọi người hễ bước qua cổng đồn công an là rón rén và thì thầm.

- Tất cả là vì ba cháu! - Thốt nhiên Thùy Linh nghẹn ngào.

Họa sĩ mỉm cười:

- Mẹ cháu bảo thế à?

- Không! - Thùy Linh lắc đầu - Cháu biết ba cháu lạc hậu lắm.

- Ô hô! - Họa sĩ phì cười - Chết, lạc hậu thế nào, tích cực lắm đấy! Ba cháu ấy mà, tích cực lắm đấy.

Họa sĩ nói to, cười lớn nên bị ho. Một đợt ho kéo dài gần một phút nhưng Thùy Linh có cảm giác cơn ho có thể kéo dài cả đời Họa sĩ. Cô nghe người ta đồn Họa sĩ bị bệnh lao. Một đêm mẹ cô đi thăm Họa sĩ về, bỗng nhiên ôm bụng ho rũ rượi đã làm cô chợt rùng mình. Cô không tin rằng người ta có thể lấy chồng một người và yêu một người khác. Ở cái tuổi mười sáu non tơ của mình, Thùy Linh coi đó là sự lăng nhục đối với đàn bà con gái. Thím Hoa đã mỉm cười trước phản ứng ngốc nghếch của cô, im lặng nhìn cô với đôi mắt u sầu của một người đàn bà từng trải. Họ chẳng biết nói gì với nhau một khi cả quá khứ lẫn tương lai của họ gần như ngược nhau. Chỉ còn tình mẫu tử và sự thông cảm cùng giới, đặng nhờ đó mà che chở cho nhau tứ phía, kể cả những cơn ho phát sinh sau nhiều đợt thăm hỏi quá đáng của thím Hoa đối với họa sĩ Tư.

Thùy Linh chợt rùng mình thấy Họa sĩ ôm bụng quằn quại khi cơn ho vừa dứt. Cô vội vã ra về, không quên dặn Họa sĩ cố ăn hết suất cơm mà thím Hoa sai cô đưa đến. Cô tha thẩn men vệ cỏ đường tỉnh lộ, vừa đi vừa ngoảnh mặt nhìn ra sông Linh. Túp lều lá mía nhô khỏi mặt đê, bé tý xíu như một dấu chấm hết.

- “Chấm hết thế nào được ở cái nơi cuộc sống đang cuồn cuộn chảy thế kia!”.Ai nói vậy nhỉ? Hoặc Hoàng hoặc thím Hoa… không phải, hình như cô đọc được ở một cuốn tiểu thuyết loại “cà mèng” nào đó. Thùy Linh tìm một lối mòn rẽ trái về phía bờ sông Linh. Thím Hoa có dặn cô lúc quay trở về nhớ qua túp lều của Họa sĩ ngó xem “Họ có làm gì không?” và đóng kín cửa lại. Gió từ bờ sông hun hút thổi làm tóc cô bồng lên, bay bay bay… Và vì không có ai đi ngược lại theo lối mòn cô đang bước nên hầu như cô chẳng chú ý lắm hai cúc ngực áo của mình đã bung ra để lộ bộ ngực non phơi phới trước nắng gió buổi sớm mai cuối mùa hạ. Thùy Linh nhìn xuống tí chút rồi mỉm cười ngước lên nhìn vói ra bờ sông, miệng mở tròn như chim non hớp gió. Cô nhớ Hoàng, kể từ mùa hạ này lúc nào cô cũng nhớ Hoàng, một nỗi nhớ dịu ngọt rưng rưng…

Họ đã gắn bó từ thuở ấu thơ, sống bình yên và ngây thơ như những con còng gió dọc bờ sông Linh. Mãi đến bây giờ họ mới nhận ra lý do vì sao họ có thể gắn bó mật thiết với nhau từ thuở ấu thơ. Thì ra, trong khi họ chẳng có chút xíu quá khứ nào, bố mẹ họ lại có một mối quan hệ khá gắn bó từ thuở “chín năm” đến giờ vẫn không rứt ra được. Thêm vào đó, quá trình hành tiến vào cuộc sống để tự khẳng định vai trò của mình, cả hai gia đình đều bằng nhau về vận tốc. Ba Hoàng là bí thư huyện ủy, ba Thùy Linh là đại úy. Đó là hai người có cấp bậc và chức vụ cao nhất huyện này. Thùy Linh nhớ khi đại úy Thìn tuyên bố sẽ gả cô cho Hoàng, cô đã khiếp đảm như thế nào. Ngày đó Thùy Linh mới mười tuổi đầu, cô chạy băng băng qua cánh đồng từ nhà cô đến nhà Hoàng, xô ào cổng lao vào hổn hển báo tin:

- Hoàng có biết gì không?

- Biết gì?

- Lớn lên… Ba Thùy Linh sẽ gả Thùy Linh cho Hoàng!

Hoàng trợn mắt:

- Để làm gì?

Thùy Linh lắc đầu thật thà:

- Không biết… những sẽ gả!…

- Ba cậu quyết rồi à?

- Quyết rồi!

- Ba cậu không có quyền! - Hoàng hét lên - Tớ sẽ mách ba tớ! Đó là một việc nguy hiểm!…

Thùy Linh nhìn Hoàng, dân dấn nước mắt. Hoàng cũng mếu máo suýt khóc. Suốt ngày hôm đó họ ngồi nhìn nhau, thờ dài thườn thượt. Mãi đến tối, khi nghe ba Hoàng giải thích cặn kẽ ý nghĩa của cái sự “gả” ấy, họ mới thở phào nhẹ nhóm, nhăn răng cười. Cũng từ đó họ linh cảm nhận thấy tình bầu bạn của họ được cả hai gia đình theo dõi rất kỹ. Họ dần dần mất bạn, đến nỗi bây giờ họ chỉ còn “ánh xạ qua nhau”, theo lối ví von hoa hòe hoa sói của thầy giáo dạy toán, chủ nhiệm lớp 9b của họ. Việc này có liên quan đến những huấn thị của đại úy Thìn. Đại úy chỉ cho phép cô được chơi thân với Hoàng, bởi vì Hoàng là con của “đồng chí bí thư huyện ủy”. Những bạn bè cùng tuổi với Thùy Linh không được phép bén mảng đến nhà Đại úy để rủ rê cô tham gia bất kỳ cuộc chơi nào. “Chúng nó” là con cái hoặc thuộc giai cấp bảo thủ, lạc hậu (nông dân), hoặc các tầng lớp ngáng trở con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội (tiểu tư sản), thế thì làm sao Thùy Linh có thể chơi thân với “chúng nó” được, trong khi Đại úy luôn lo sợ đứa con gái duy nhất của ông bị tiêm nhiễm các nọc độc tiểu tư sản đang tiềm ẩn khắp nơi trong Thị trấn. Hoàng cũng bị mất hết bạn như Thùy Linh mặc dù ba anh chẳng hề can dự vào các mối quan hệ của anh với mọi người. Hoàng đã chơi với Thùy Linh quá sa đà, quên hết các thú vui khác khiến bạn anh, hoặc bố mẹ của bạn anh, nghĩ đến tính chất “môn đăng hộ đối” vẫn được thiết lập khá bền vững trong Thị trấn mà những người dân cày thì nói nôm na rằng: “nồi nào úp vung nấy”. Bạn bè Hoàng xác định “nồi” Hoàng chỉ vừa khít với “vung” Thùy Linh, đã nhanh chóng tẩu tán hết sạch. Cả Hoàng lẫn Thùy Linh đều không nhìn thấy tính chất nguy hiểm của việc mất bạn. Họ thấy tràn trề hạnh phúc khi nắm tay nhau tung tăng dọc bờ sông Linh vào những buổi chiều mùa hạ như những còng gió vẫn thường líu ríu dưới chân họ. Thậm chí họ cảm thấy thế là đã quá đủ, không cần phải thêm bớt gì trong các mối quan hệ của họ nữa. Tám năm sau, khi cả hai bị đẩy vào những bi kịch đau đớn thì họ mới nhận ra đó là một sai lầm nghiêm trọng khó lòng có thể cứu vãn nổi. Đó là “tám năm sau”, còn bây giờ Thùy Linh đang rảo bước trên lối mòn chạy về túp lều của họa sĩ Tư. Cô nhớ Hoàng, chỉ nhớ Hoàng, một nỗi nhớ dịu ngọt, rưng rưng… Không chú ý lắm hai cúc áo ngực đã bị gió đánh bung để lộ bộ ngực non phơi phới trước nắng gió buổi sớm mai cuối mùa hạ, Cô nhìn xuống tí chút rồi mỉm cười ngước lên nhìn vói ra bờ sông, miệng mở tròn như chim non hớp gió, tóc cô bồng lên, bay bay bay… Vô vàn kỷ niệm của Thùy Linh và Hoàng đang ở trên bờ sông, dập dềnh dập dềnh… Cô bước nhanh hơn, nhanh nhanh nhanh… và chạy, cô chạy tha hồ về phía bờ sông trong sự hưng phấn đột khởi rằng bên cô đang có Hoàng, cô đang nắm tay Hoàng, chạy! Ù ù ù…

Thùy Linh chạy đến túp lều của họa sĩ Tư. Cô đứng trước cửa lều thở hổn hển, và vui vẻ chui vào. Chợt cô sững lại, giật mình kinh hãi: một người đàn bà đang nằm sấp, chân tay duỗi thẳng, tóc xõa ra, bất động như người chết giấc.

Thùy Linh run lên, khụy xuống trước cửa lều. Người đàn bà đó là thím Hoa.

Đúng là thím Hoa. Thím đã làm cái việc mà thím đã dặn kỹ lưỡng Thùy Linh khi cô đưa cơm cho Họa sĩ. Thực ra thím chẳng việc gì phải cất công để “dọn dẹp đồ đạc” và “gài cửa cẩn thận” túp lều này vì nó chẳng đáng cho bất kỳ kẻ gian nào để mắt tới. Nhưng thím cứ thấy không an tâm. Có một cục than nóng mỗi lúc mỗi đỏ rực, lăn lóc trong ngực thím. Thím vào vào ra ra như kẻ đã mất hết trí khôn, chờ đợi đến phát điên lên Thùy Linh vẫn không về. Thế là thím đi. Đầu tiên thím cứ thẳng đồn Công an huyện mà bước. Không việc gì phải sợ, đường đường chính chính thím là chị dâu của Họa sĩ, thím có quyền tham dự vào mọi biến động của số phận Họa sĩ. Tại sao chị dâu lại không lên thăm em chồng khi “nó” bị bắt? “Nó” có hề hận gì thì chị dâu vẫn vô sự hay sao? Thím đi trong vô vàn các lập luận mỗi lúc mỗi sinh sôi nảy nở trong đầu thím. Các lập luận đã giục giã thím bước nhanh, thậm chí có lúc thím đã định ù té chạy. Được nửa đường thím bỗng gặp bác Cả Rí.

- Không gặp được đâu! Không gặp được đâu!

Bác Cả Rí đứng ngáng đường rỉ tai thím với bộ mặt rất nghiêm trọng. Mắt hấp háy, miệng nhai trầu đỏ hoét, bác nói một mạch:

- Người ta chặn hết các ngả đường, công an thổi còi điếc tai điếc óc! Tôi đây suýt nữa bị người ta cho một dùi cui vào mặt.

Tính bác vốn vậy, có một tột lên mười, gặp chuyện gì bác cứ nói khống lên thật kinh khủng. Bác chẳng có ý hại ai, cũng chẳng ai hại bác. Nuôi một vợ và bầy con tám đứa bằng nghề câu lươn tài hoa của mình, bác lang thang hết các ngóc ngách, các cống rãnh, “bờ vùng bờ thửa” quanh Thị trấn, vừa câu lươn vừa “ngửi” chuyện để mà thêm thắt, bịa đặt ra đủ các chi tiết ly kỳ hấp dẫn nói cho sướng mồm mình và sướng tai người khác. Những bịa đặt của bác lập tức bị lật tẩy; không cần chối cãi, bác cười hề hề, lại đi tìm những chuyện khác để bịa đặt. Cú thế, cứ thế… bác nổi tiếng là người “sáng tác” đủ các loại chuyện từ thượng vàng đến hạ cám. Ai nghe được thì nghe, không nghe được thì thôi, bác chẳng cần. Bác cứ sống nhởn nhơ trước mặt mọi người, và bịa đặt lung tung những vô hại.

Đã biết tính bác Cả Rí, thím Hoa vẫn cứ sợ. Thím thoáng rùng mình, dừng lại cứng đờ giữa đường. Định hỏi bác Cả Rí liệu người ta có làm gì với họa sĩ Tư không, nhưng thím không dám mở mồm, vì biết hễ thím cất tiếng là òa khóc. Nước mắt dễ làm cho bác Cả Rí biết chính xác tình cảm thật của thím và lấy đó làm chuyện mua vui trong thiên hạ. Dại gì, thím không dại, không bao giờ thím dại dột như vậy. “Nó” vẫn là đứa em chồng hư hỏng của thím và thím phải đối xử với “nó” đúng như đứa em chồng hư hỏng của thím. Thái độ của chồng thím ra sao, thái độ thím phải y xì như vậy, không hơn không kém. Thế mới đúng, đúng như người đời vẫn nghĩ đúng về thím.

- Từ ngày thằng Ngô Đình Diệm hò hét “Bắc tiến” - Bác Cả Rí bỏ đi, nói oang oang với không khí - Việt gian, phản động nổi lên như rươi, một mét vuông tám thằng. Kinh thật.

Thím lần chần một chút rồi đi, không phải đi về phía đồn công an như các lập luận đã thúc giục thím mà rẽ về phía túp lều của Họa sĩ. Thím đến. Tất cả vẫn nguyên vẹn: ba cái xoong nhỏ, hai đôi đũa, một lọ nước mắm, một hũ muối, một lọ mắm tôm, một cái đèn… Chúng đứng lặng ngắt trước mắt thím. Thím ngồi xuống, đờ đẫn ngó quanh và dừng lại gần như bị thôi miên vào khoảng trống nơi chất đống sáu mươi tư bức tranh. “Anh không thích “ấn tượng” à?” - “Xưa thì thích, giờ thì không” - “Tại sao thế?” - “Vì mình đã quá nhiều đau khổ, phải cậy đến “siêu thực” để quên đi” - Thế thì anh chẳng hiểu gì “siêu thực”… Thím và “nó” đã nói với nhau như thế. “Nó” im lặng. Thím ngước lên nhìn “nó”, cái thằng em chồng hư hỏng. “Nó” và thím nhìn nhau, mắt và mắt và mắt, rồi thở dài. Chao ôi buồn cười chết đi được cái thời thím chạy tơi tả trong đêm tối, úp mặt vào ngực “nó”, nấc lên. Chao ôi là buồn cười…

Thế rồi hết cuộc chiến tranh
Cái cô bạn ấy bỗng thành chị dâu
….”

Thím cười thật, cười rũ rượi đến kiệt sức, ngã xoài ra, tay chân duỗi thẳng, tóc tung xõa, bất động như một kẻ chết giấc…

- Mẹ! - Thùy Linh gọi.

- Mẹ! - Thùy Linh lại gọi.

- Mẹ! Mẹ! Mẹ! Mẹ!

Thùy Linh nhào đến thím Hoa. Thím uể oải ngồi dậy. Họ nhìn nhau. Những người đàn bà nhìn nhau. Một chút ngượng ngập cả hai phía. Đỏ mặt và không nói gì, họ cố gắng tránh va vào cái điều cả hai đều đã biết quá rõ.

Mấy ngày sau vẫn đỏ mặt và không nói gì, họ lặng lẽ thăm dò thái độ của nhau trong nỗi đau đớn âm thầm mà cả hai đều nhận thấy hình như đã hết sức chịu đựng.
 

Minh họa: Đinh Cường


Chương ba

Bí thư huyện ủy Trần Văn Thanh đi họp ở tỉnh về. Ông đi nhận chỉ thị mới tối quan trọng của cấp trên về tình hình chiến sự ở miền Nam đang diễn ra căng thẳng. Sau một loạt chiến thắng của ta đã kết thúc “chiến tranh cục bộ” nhanh chóng chuyển sang “chiến tranh đặc biệt” với sự đổ bộ ồ ạt của lính Mỹ vào miền Nam, thực hiện sáng kiến của Tay-lo “Bình Định miền Nam trong vòng 18 tháng”. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã giao lại phong trào “Gió Đại Phong” cho cấp dưới, chuẩn bị vào trận. Bộ chính trị đang họp, sẽ có nhiều nghị quyết mới cho việc phòng thủ miền Bắc. Mỹ sẽ đem máy bay ra bắn phá miền Bắc, tính chất ác liệt không thể lường trước được, tùy theo các cú đấm của quân giải phóng vỗ mặt đế quốc Mỹ. Sắp bầu cử tổng thống Mỹ, Ken-nơ-đi em bị ám sát, có khả năng Giôn-xơn sẽ trúng cử, mọi hy vọng về các giải pháp hòa bình nhằm thống nhất hai miền Nam Bắc coi như chấm dứt. Đài BBC nói đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thị sát chiến trường khu bốn. Sẽ đánh nhau to, rất to. Các cán bộ cấp huyện thì thầm với nhau và lao về cơ sở chuẩn bị vào trận.

Ông Thanh mới cho xe ghé vào ga-ra đã thấy Đồn trưởng công an huyện đứng chờ ở cửa phòng làm việc của ông.

- Có việc gì thế? - Ông hỏi, thái độ không được vui vẻ cho lắm.

- Báo cáo anh…

- Ngắn thôi nhé!

- Vâng. Báo cáo anh, vừa qua trong khi anh đi vắng, có một chuyện không vui lắm…

- Ngắn thôi, tôi đã bảo là ngắn thôi…

- Vâng. Báo cáo anh, vừa qua trong khi anh đi vắng, có một chuyện không vui lắm. Ở dưới cơ sở báo lên tình hình hoạt động có tính phá hoại của họa sĩ Tư. Trên cơ sở nhận định khách quan và chủ quan của bộ phận tham mưu…

Ông Thanh lật mũ mềm đặt lên bàn, cau có nói:

- Ngắn thôi, anh không nhớ à?

Trưởng đồn lúng túng, lật tắt qua mấy trang, vội vàng nói:

- Vâng. Trên cơ sở khách quan và chủ quan của bộ phận tham mưu, chúng tôi đã trực tiếp kiểm tra và thấy rằng…

- Các anh đang giữ Họa sĩ Tư phải không? - Ông Thanh cắt ngang.

- Vâng.

Đồn trưởng đưa mắt liếc nhanh Bí thư huyện ủy. Ông Thanh đứng dậy với tay lấy phích nước, uể oải nói:

- Thả ra nhé, trả lại tranh tre cho người ta.

- Vâng.

Đồn trưởng nhanh nhẹn bắt tay ông Thanh, vội vàng ra về. Mười phút sau, Họa sĩ được thả ra nhanh như bị bắt vào đồn. Đội trưởng cẩn thận đứng chờ ở cửa phòng giam, siết chặt tay Họa sĩ, vui vẻ:

- Thông cảm nhé, chẳng qua là vì nhiệm vụ chung.

Họa sĩ cười, vui vẻ:

- Thế à?

Và vỗ vai Đồn trưởng:

- Anh cho tôi gọi nhờ điện thoại lên phòng văn hóa thông tin tí chút.

- Vâng vâng vâng, mời anh.

Đồn trưởng nhanh nhẩu dắt Họa sĩ đến phòng trực. Họa sĩ quay đến mỏi tay, đầu kia dây nói mới có người cầm máy.

- Bỉ phải không? -Họa sĩ hỏi trưởng phòng thông tin văn hóa.

- Vâng, Bỉ đây.

- Tư đây nhé.

- A! Thả ra rồi à?

- Chứ sao!

- Kha kha!… Hay!… Thịt chó chứ?

- Tất nhiên, tớ gọi điện cho cậu cũng vì chuyện ấy. Giam ba ngày, thèm quá.

- Rồi!

Bỉ và Họa sĩ là bạn của nhau thời theo học lớp hội họa ngắn hạn ở Thanh Hóa. Bỉ luôn nhận mình là kẻ bất tài, vẽ người ra ngợm, vẽ bò ra cáo… và chẳng hề đau khổ gì chuyện đó. Anh khâm phục những người có tài, khâm phục một cách chân thành, chẳng hề ghen tỵ. Từ ngày Họa sĩ về hưu non, Bỉ chơi với Họa sĩ như bạn cố tri, luôn luôn kéo nhau vào quán thịt chó đánh chén, nói chuyện tào lao, khi say lên thì lè nhè: “Ông tài lắm ông Tư ạ. Tài, tài lắm. Tôi mà tài như ông nhỉ, ông Tư nhỉ!…” Cứ thế hàng giờ liền. Hôm trước người ta bê sáu mươi tư bức tranh đến gặp Bỉ, bảo: “Hãy đánh giá ý đồ tư tưởng của các bức tranh này”. Bỉ giãy lên như đỉa phải vôi:

- Ấy chết. Dạ… báo cáo các anh… làm sao tôi biết được!

- Anh cũng là họa sĩ!

- Dạ… Nhưng tôi là loại họa sĩ cà mèng, tôi non lắm. Với lại, tôi chuyên ngành tranh cổ động. Cái gì dính tới tranh cổ động may ra tôi còn biết, còn lại là tôi mù tịt. Báo cáo các anh, thật đấy!

Bỉ thường coi mình là kẻ vô thưởng vô phạt, có cũng được không có cũng xong. Mơ ước duy nhất của anh là được về hưu non như Họa sĩ. Việc gì xảy ra trong Ủy ban huyện anh cũng cười cười, “án binh bất động”. Người bảo anh ngu, kẻ bảo anh khôn, anh chỉ cười cười. Gặp ai anh cũng tỏ ra khúm núm, ngoan ngoãn. Anh “dạ” đều, “dạ” rền rĩ từ cán bộ có chức vụ cao nhất đến loại nhân viên loại xoàng nhất trong cơ quan. “Dạ” và bịt mũi cười một mình khi lừa được một cán bộ nào đó về việc gì đó. Đôi khi Bỉ ôm lưng họa sĩ Tư, thì thầm: “Làm việc với những thằng ngu sướng lắm! Sướng lắm!” và ngửa cổ cười ha hả.

Vào quán thịt chó Cule, được một tợp rượu, Bỉ chùi mép nói với họa sĩ Tư:

- Ông dại. Người ta đấu tranh giai cấp thì cứ mặc người ta. Việc của ông là vẽ.

- Bậy. - Họa sĩ lắc đầu - Mình đánh nhau hộc máu mồm với thằng Tây là để xây dựng xã hội…

- Cho thêm một đĩa dồi nhé!

Bỉ cắt ngang lời Họa sĩ bằng việc nhóng cổ gọi Cule, đoạn quay lại vui vẻ:

- Tôi hiểu ý ông rồi, nhưng khó lắm! Khó lắm!

Cule đứng cắt dồi, nghe trộm hai người thảo luận. Bê đĩa dồi ra, Cule cười hề hề:

- Các anh cứ việc đấu tranh giai cấp, em nhát, em không dám. Em chỉ xin phục vụ thịt chó đầy đủ. Món nào ra món ấy. Giai cấp nào cũng ghiền thịt chó, thật đấy.

Nói xong, Cule xòa cả mười đầu ngón tay ngúng nguẩy, lăm xăm vào bếp. Bỉ ghé tai họa sĩ:

- Thằng ấy đểu.

Họa sĩ cười nhếch mép, vuốt mũi một cái, nói:

- Hắn nói thế chứ hắn không làm thế. Ở đời thường lắm thằng tự giễu cợt mình cho vui chứ cực tốt. Hắn cũng thế. Xưa là chủ thầu giao thông tỉnh này. Hòa bình lập lại, biếu không Nhà nước toàn bộ gia sản của hắn, về mở quán thịt chó bán chơi.

Bỉ gật gù:

- Phải.

Họa sĩ tiếp:

- Tôi chỉ mong muốn chính quyền ta rũ sạch những thằng ngu.

Bỉ ngửa cổ cười khơ khơ. Họa sĩ ghé mắt sát chén rượu, chậm rãi nói:

- Tôi yêu chủ nghĩa xã hội, yêu thật sự, thậm chí có thể chết vì nó chứ không phải yêu để mà chơi. Có điều tôi không thể chịu được chứ chủ nghĩa xã hội qua mồm tay Thìn và những thằng ngu dốt khác. Đó là thứ chủ nghĩa ảo tưởng vì ngu dốt.

Bỉ đập tay xuống bàn:

- Thế thì ông cũng ảo tưởng!

Họa sĩ chùi mép trừng mắt nhìn Bỉ, đứng dậy bước ra quán, không thèm chào ai, túc tắc về phía túp lều mép bờ sông Linh.

Cule nhìn theo bóng Họa sĩ, lát sau đi vào, nói trống không:

- Đ.mạ, thời này không biết ai khôn ai dại.

Bỉ kêu to:

- Đúng! Cứ bom xuống, nhiều bom xuống là ra vấn đề hết.

Cule rụt cổ, ném vào mặt Bỉ một cái nhìn khinh bỉ, lúi húi vào bếp. Lúc này vào khoảng bốn giờ chiều. Đại úy Thìn về muộn hơn hai giờ so với thông lệ. Ông không ghé qua nhà, đạp xe thẳng lên ủy ban huyện xem người ta giải quyết “vụ họa sĩ Tư” như thế nào. Nhác thấy Đại úy, Bỉ kêu to:

- Bác Thìn! Bác Thìn!

Đại úy buông hai chân chống đất, ngoảnh mặt vào:

- Anh Bỉ à?

- Làm chén rượu cho thơm mồm đã bác!

- Cám ơn, tôi đang vội.

- Ấy, tôi biết bác vội việc gì rồi. Họa sĩ Tư khỏe mạnh hồng hào, vừa được thả ra, vẫn lạc quan yêu đời như xưa.

Nghe nói vậy, Đại úy dắt xe vào. Cule chạy ra, dơ cả hai tay lên trời:

- Trời phù hộ tôi! Mở quán được ba năm mới được đón bác, bác Thìn ạ.

Đại úy cười, lau mồ hôi trán.

- Chà tôi bận quá.

- Chứ còn gì nữa. - Cule tươi tỉnh tiến về phía Đại úy. - Cách mạng sắp thắng lợi đến đít rồi, bác bận là phải.

Đại úy ngẩng phắt lên, nhìn thẳng vào mặt Cule:

- Anh ăn nói kiểu gì lạ thế?

Đoạn, Đại úy dắt xe đạp đi luôn. Cule thè lưỡi, rụt cổ. Bỉ bịt mũi cười khục khục.

***

Sau mấy tuần kiên trì ngồi trên chiếc xe đạp được treo lên như chiếc xích đu đạp liên tục, thấy đã nhuyễn chân, chủ tịch thị trấn Lê Đức Huy bê chiếc xe đạp xuống tính đạp một vòng quanh Thị trấn chơi vui, tiện thể ghé qua Huyện ủy thăm dò tin tức Bí thư huyện ủy đi họp tỉnh về có gì mới. Đàng hoàng dắt xe ra cổng, ngoái cổ lại nói to:

- Mẹ nó ở nhà nhé!

“Ngày thường đi bộ ông ấy có dặn thế bao giờ!”, bà Hiền ngồi thái rau lợn tủm tỉm cười.

Ông ngồi lên xe sẵn sàng, đạp. Chưa được một phần tư vòng quay bánh xe ông đã bị ngã nhào, chổng hai chân lên trời.

- Mẹ khỉ!

Ông phủi đít đứng dậy, liếc vào nhà xem vợ có trông thấy mình không. Bà Hiền vờ không trông thấy, cắm cúi thái rau.

Ông lại leo lên xe đạp. “Có lẽ lúc nãy mình ngồi không cân hoặc đạp chưa đều”, ông nghĩ. Ông ngồi cẩn thận, không ngoái cổ vào: “Mẹ nó ở nhà nhé!” như ban nãy, ông chú ý, cực kỳ chú ý các tư thế của mình. Khi đã xác định trăm phần trăm là chính xác, ông đạp. Lại ngã. Lần này đau hơn, ông văng vào gốc xoan và bị đánh bật trở lại, nằm sóng xoài như người ngã ngựa ở tư thế thảm hại nhất. Ông hầm hập dắt xe vào, ném vào một xó. Bà Hiền dấu mặt vào liếp tre cười chảy nước mắt.

Đại úy Thìn vòng xe vào cổng, chạng cả hai chân xuống đất hỏi to:

- Bác Huy có nhà không đấy?

- Dạ có. Bác Thìn hả?

Đại úy vào. Cả hai người ngồi lên tấm phản pha trà uống.

- Tôi vừa lên Huyện ủy về.

- Thế hả? Bác Thanh có cho tin gì mới?

- Tôi vừa cãi nhau với ông ấy xong đây.

- Chuyện gì thế, thưa bác?

- Ông ấy thả thằng Tư ra rồi.

Ông Huy giãy nãy như phải lửa:

- Ấy chết! Thả rồi à? Lại giao cho Thị trấn chúng tôi quản lý à?

Đại úy gật đầu, mặt đầy vẻ tức giận. Quả là Đại úy vừa cãi nhau với Bí thư huyện ủy thật.

Sau khi được tin Bỉ cho biết Họa sĩ đã được thả, Đại úy vòng xe lên Đồn công an huyện. Đồn trưởng thở dài báo tin đã giải phóng Họa sĩ cùng với sáu mươi tư bức tranh. Đại úy tức giận phóng một mạch lên phòng làm việc của Bí thư huyện ủy. Họ ngồi “cãi lý” với nhau non một giờ.

Đại úy hỏi:

- Tại sao anh không cần nghe cấp dưới báo cáo cụ thể về “vụ họa sĩ Tư” đã vội vã ra lệnh thả ra?

Ông Thanh trả lời:

- Tôi tin Họa sĩ là kẻ vô hại.

- Nó vẽ tranh dâm ô trụy lạc thế mà anh bảo là vô hại! - Đại úy kêu lên.

Ông Thanh chậm rãi rót một chén nước trao cho Đại úy, nhẹ nhàng hỏi:

- Anh đã xem các bức tranh ấy chưa?

Đại úy lúng túng tìm cách trả lời. Quả là Đại úy chỉ mới nghe một vài người và các cháu nhỏ, tức là dư luận quần chúng, báo lại. Ông lập tức tin ngay, vì đối với ai còn phải điều tra lại chứ riêng với Họa sĩ thì khỏi cần, Đại úy nghĩ thế, cho là thế.

- Tôi chưa xem… tất nhiên tôi tin vào dư luận quần chúng.

- Còn tôi thì đã xem rồi. - Bí thư huyện ủy từ tốn nói. - Nói chung đó là những bức tranh tốt.

- Tốt? Tại sao anh không cho treo lên cho quần chúng xem mà học tập?

Lần này đến lượt Bí thư huyện ủy lúng túng. Ông cố gắng tìm một câu trả lời thật giản dị cho Đại úy hiểu.

- Tốt… nhưng mà phải có một trình độ thẩm mỹ khả dĩ mới thấy tốt. Còn bây giờ nếu treo lên… tôi sợ quần chúng hiểu sang khía cạnh khác.

Đại úy trợn mắt:

- Hay chửa! Thế ra các bức tranh ấy có tư tưởng hai mặt à? Các bức tranh ấy cần cho giới nào vậy? Có phải cho giới trí thức tiểu tư sản không? Chúng phục vụ cho giai cấp nào? Anh trả lời tôi đi…

Bí thư huyện ủy không trả lời. Đại úy càng tấn công, ông càng im lặng. Ông thấy đăng đắng ở miệng. Ông biết lúc này, trước mặt con người này, ông sẽ không có một câu trả lời hữu hiệu. Bởi vì giữa ông và Đại úy không hề có chung các khái niệm cơ bản của thẩm mỹ. Hiện tại, Đại úy đang thuộc về số đông. Bí thư huyện ủy cố gắng nghe Đại úy nói một thôi dài về tính giai cấp trong các bức tranh mà Đại úy chưa xem. Cuối cùng ông mệt mỏi kết luận:

- Thôi được, tôi sẽ nghiên cứu lại vấn đề này.

Đại úy chào ông ra về. Quá trình đạp xe về nhà Chủ tịch thị trấn, Đại úy nghĩ rất lung về bí thư huyện Trần Văn Thanh. Dù ông Thanh là bạn thủa thiếu thời của Đại úy, nhưng trong cuộc đấu tranh “ai thắng ai” này, Đại úy luôn tự răn mình phải đề cao cảnh giác. Có hai điều Đại úy đang nghi vấn về ông Thanh. Thứ nhất, ông Thanh là cán bộ cấp cao duy nhất trong tỉnh có bằng tú tài. Bằng tú tài dĩ nhiên là khác nhau về tính chính trị so với bằng lớp mười mà con gái Đại úy đang theo học. Một đằng là bằng tốt nghiệp do chế độ ta cấp, một đằng là bằng tốt nghiệp do chế độ thực dân nửa phong kiến cấp. Một người được đào tạo lên tận tú tài là cả một vấn đề cần lưu ý. Bởi vì phải nhuần nhuyễn các tư tưởng nô dịch của chế độ cũ như thế nào thì chúng nói mới cấp cho cái bằng ấy chứ? Thứ hai, điều này chưa thật chắc chắn lắm nhưng phải lưu ý, có một thời gian chừng một tháng ông Thanh bị địch bắt. Trong lý lịch của ông không thấy khai về việc này và cũng chưa có ai xác định chắc chắn là ông có bị địch bắt hay không, nhưng rõ ràng khi đã có dư luận là phải chú ý.

Đại úy chưa đặt vấn đề nghi vấn này với ai, kể cả chủ tịch thị trấn Lê Đức Huy. “Cần có thời gian để tìm hiểu chứ không thể kết luận bừa bãi được”- Đại úy tự dặn mình. Riêng về vấn đề họa sĩ Tư, về cách giải quyết của Bí thư huyện ủy đã làm cho Đại úy chú ý. Mối nghi ngờ bắt đầu có cơ sở…

Sau khi kể cho Chủ tịch thị trấn nghe cuộc “cãi lý” của hai người ở huyện ủy, Đại úy nói:

- Đây là việc nghiêm trọng. Tôi đề nghị bác phát văn bản khiếu nại lên tỉnh về cách giải quyết vội vàng của Bí thư huyện ủy.

Ông Huy trố mắt:

- Khiếu nại bác Thanh?

- Chứ sao. Ai làm sai đều phải chịu trách nhiệm.

- Nhưng nhỡ tỉnh họ kết luận bác Thanh đúng thì sao? - Ông Huy dè dặt hỏi lại.

- Đúng làm sao mà đúng. Để sổng một phần tử phản cách mạng mà đúng à? Bác cứ phát văn bản đi, tôi sẽ viết kèm vào đấy.

- Vâng.

Ông Huy đồng ý. Thế là xong. Đại úy dắt xe ra về. Làm việc với Chủ tịch Thị trấn thật nhẹ nhàng, bao giờ cũng nhẹ nhàng. Trong Thị trấn, ông Huy là người đáng tin cậy nhất của Đại úy. Còn lại, bất cứ ai Đại úy cũng tìm thấy một chuyện đáng khả nghi, kể cả bí thứ huyện ủy Trần Văn Thanh, bạn thiếu thời của ông.

***

Đại úy dắt xe đạp vào nhà. Thím Hoa đã rời bàn máy, nằm nửa ngồi trên cái ghế mây được uốn cong như eo lưng đàn bà. Thím mặc quần lụa, kéo ống quần lên sát bẹn, ngực ưỡn ra, mắt lim dim. Đại úy thấy gai mắt quá, định nhắc nhở thím bỏ ngay cái kiểu nằm khiêu dâm ấy đi, nhưng nghĩ lại: “mình mới về”, nên thôi. Thím Hoa không có một phản ứng nào khi thấy chồng về. Vẫn cái kiểu nửa nằm nửa ngồi ấy, thím im lặng theo dõi Đại úy qua kẽ mắt lim dim. Rất lâu sau thím ngồi hẳn dậy, hỏi:

- Anh biết chuyện gì chưa?

- Chuyện gì?

- Người ta bắt em anh rồi.

“Cô này vẫn chưa biết người ta vừa thả hắn ra”, Đại úy nghĩ thầm, nói:

- À, nó làm bậy thì người ta bắt.

Đại úy xách phích nước ra ngồi giữa sân, chậm rãi tráng ấm pha chè.

- Chuyến này về… - thím Hoa hỏi nhỏ - anh định xui ông Huy bắt thêm ai nữa?

- Thôi đi! Cô biết cái gì mà hỏi tầm bậy! - Đại úy gầm gừ.

- Sao lại không biết! Chính anh xúi giục ông Huy bắt chú Tư chứ còn ai!

- Sao lại xúi giục? - Đại úy mở to mắt. - Ơ kìa, sao lại xúi giục? Tôi chỉ nhận xét về các bức tranh phản tuyên truyền của nó chứ xúi giục cái gì? Không phải xúi giục, chính quyền không phải là trẻ con, cô hiểu chưa? Tôi có thông báo và kiến nghị…

Thím Hoa ôm bụng cười rũ. Vừa cười vừa ho. Nước mắt sống chảy dàn dụa.

- Các anh vui thật! “Xúi giục” thì gọi là “kiến nghị”, “mách lẻo” thì gọi là “thông báo”!… Ối giời ơi là thơm tho.

Đại úy đỏ mặt quát:

- Có im đi không. Cô điên hả? Không sợ người ta gô cổ cô lại hả?

Thím Hoa vẫn ông bụng cười rũ rượi. Và buồn nôn. Thím muốn nôn quá, như là người ta ốm nghén. Đại úy nuốt nước bọt lặng thinh. Vài tháng nay Đại úy phát hiện ra tâm tính của vợ mình có phần đổi khác. Cái phần hiền dịu bản chất của thím hình như đã bị đục khoét, thay vào đó là thái độ ngạo mạn và trâng tráo của họa sĩ Tư. Đại úy sợ, một nỗi run sợ âm thầm xưa nay không hề có, đang len lỏi trong ngực ông. Biết đâu sẽ có một thực tế nghiệt ngã xảy ra: thím Hoa sẽ rũ bỏ tất cả để bám theo họa sĩ Tư, bất chấp mọi qui tắc đạo đức hiện có, đạp lên dư luận để mà yêu một con người từ lâu bị dân Thị trấn coi như một thằng hề. Thế thì thật kinh khủng. Kinh khủng không phải việc Đại úy mất vợ, chính là ở chỗ, nó sẽ đập vỡ toàn bộ “ý thức hệ” của dân Thị trấn về gia đình Đại úy, đặc biệt về Đại úy…

Sau ngày hòa bình lập lại (1954) có mười sáu người lính trở về Thị trấn. Hết thảy họ là thương binh loại một đến loại bảy, trừ Đại úy Thìn. Đại úy không việc gì sất. Không một vết sẹo nào bám vào thân hình hộ pháp của ông. Chẳng ai dám đặt câu hỏi: liệu có phải Đại úy đã quá khôn ngoan, như một con chuột nhắt thông minh, luồn lách tài tình để bảo đảm an toàn một trăm phần trăm cơ thể sống của mình và kiếm được cái lon Đại úy ngon ơ khi tàn cuộc chiến? Trái lại, Đại úy là người lính dũng cảm, đạt đến độ phi thường, kể từ ngày ông vác đại đao theo cách mạng tham gia kháng chiến đến lúc chỉ huy hẳn một tiểu đoàn quân chủ lực “tả xung hữu đột” một vùng rộng lớn phía Bắc tỉnh. Ngay cả những thương binh trở về cùng ngày với Đại úy cũng đã nói rằng chẳng phải Đại úy đã gặp may mà hình như bom đạn địch đã khiếp đảm khi nom thấy ông, chúng vội vàng rẽ cánh quạt biến mất. Một con người đã quá nhiều huyền thoại về lòng dũng cảm vô song hoặc mãi mãi không bao giờ trở về hoặc trở về trọn vẹn, đàng hoàng với cái lon đại úy trung đoàn trưởng như Đại úy đã trở về. Khắp huyện không ai có cấp bậc và chức vụ như ông. Thêm vào đó, đồng lương của Đại úy cũng thuộc loại vô địch: có thể mua hoặc ba tạ gạo hoặc bốn mươi mét vải xa-tanh hoặc một con bò loại nhỏ… Thời này đám sĩ quan trẻ chưa vợ được coi là đối tượng chủ yếu của đàn bà con gái chưa chồng. Người ta sẵn sàng bàn tán râm ri về một sĩ quan nào đó có cấp bậc loại xoàng nhất vừa viếng qua nhà một cô gái nào đó. Một vài đám cưới trong Thị trấn được chuẩn bị kỹ lưỡng trong vài năm bị bỏ dở khi có một sĩ quan trẻ “dính” vào. Tình hình lập tức đảo ngược có lợi cho sĩ quan trẻ này, một đám cưới “mới” thay thế cho đám cưới “cũ” được tiến hành ầm ĩ một góc Thị trấn. Các bái hát khích bác đám đàn bà con gái tham giàu, tham địa vị ở các sĩ quan, bỏ rơi người tình cũ đã nhanh chóng ra đời, dập dềnh khắp Thị trấn. Đám trẻ con có nhiệm vụ thực hiện các bài hát này. Chúng đã thực hiện một cách xuất sắc nhưng trên thực tế rất ít có tác dụng. Đám đàn bà con gái “tham giàu, tham địa vị” này chỉ đỏ mặt đôi chút nhưng vẫn kiên trì bám đám sĩ quan, thậm chí còn dùng những thủ đoạn ranh mà mà chỉ có đàn bà, duy chỉ có đàn bà mới nghĩ ra được, để dành thắng lợi về mình. Gương lớn cho đám đàn bà con gái Thị trấn nhìn vào đấy mà hành động là thím Hoa. Những năm Đại úy Thìn xa nhà đi đánh giặc, hai mẹ con Thím chạy vạy suốt ngày đêm vẫn không đủ ăn. Thím sống nhờ những đồng nợ lưu truyền, mượn người này trả người khác, và bằng gánh bánh đúc dở ẹc do ít vốn cứ sáng sáng chạy thục mạng về các vùng nông thôn ven Thị trấn, cố gắng bán hết trước khi có gánh bánh đúc khác xuất hiện. Thím thuộc vào những người đàn bà lam lũ nhất Thị trấn. Đùng một cái, đại úy Thìn trở về, bằng ba tháng lương của ông, Thím đã tậu được một nhà ngói loại trung bình, đủ rộng cho ba người ở. Ít lâu sau, thím mua được đầu máy khâu Trung Quốc, bỏ nghề bán bánh đúc chuyển sang nghề may vá, đi đứng ra vào khoan thai nhẹ nhõm. Thím trở thành người đàn bà sang trọng nhất Thị trấn về cả “tinh thần” lẫn “vật chất”. Thực tế này đã làm rung chuyển đám đàn bà con gái, làm cho họ trân trọng đặt lên bàn cân để đo đếm tương lai của họ, như đã nói. Rõ ràng đại úy Thìn có vị trí quan trọng như thế nào trong đời sống người Thị trấn, chưa kể những chiến công của ông trong một trăm hai mươi sáu trận ông tham gia đủ để mọi người phải kính nể, chưa kể ông là người duy nhất tỉnh bóp cổ thè lưỡi tên quan hai Pháp trong một trận huyết chiến ở phía tây Thị trấn làm cho chính phủ nghe nói cũng biết đến tên tuổi của ông…

Đại úy ngồi uống nước chè giữa sân, ngẫm nghĩ các tình huống có thể xảy ra trong gia đình mình và cảm thấy sợ, một nỗi run sợ âm thầm xưa nay không hề có bây giờ len lỏi trong ngực ông. Đại úy sẽ mất uy tín như thế nào nếu thím Hoa, một người đàn bà chẳng có quá khứ tốt đẹp gì, lý lịch lại không trong sáng, ngang nhiên bỏ rơi Đại úy không một chút phân vân như “phương án 2″ Đại úy dự trù. Tất nhiên Đại úy có hẳn một phương án phản công khi “phương án 2″ xảy ra nhưng ông chẳng thú gì chuyện đó. Người ta sẽ đồn rầm lên, ông làm sao đủ sức để dập tắt dư luận được, dù trong tay ông có gần một ngàn quân?

Trời đã tối hẳn, Đại úy chống gối đứng dậy soạn sửa đến nhà Bí thư huyện ủy Trần Văn Thanh. Có nhiều chuyện quan trọng cần phải thảo luận với nhau, trong đó có việc phối hợp tác chiến giữa trung đoàn pháo của ông với huyện đội. Riêng họa sĩ Tư, Đại úy sẽ không nhắc đến, ông có một phương án khác, tất nhiên, đối với ông việc gì chẳng có hai phương án.


N.Q.L
(SH32/08-88)





 

Các bài mới
Các bài đã đăng
Đêm thánh nhân (22/04/2010)
Kho báu (13/10/2009)