Truyện ngắn
Kim Bông thần mã
16:23 | 10/02/2026

TRẦN BẢO ĐỊNH

Chiều cuối năm.
Má và chị Tư vớt bánh tét máng lên cây sào tre vắt ngang vách bếp, tía lui cui lau chùi chén bát, xếp đặt hương đèn hoa quả cần thiết cho lễ Trừ Tịch. Tía trải tấm đệm bàng giữa sân, ngồi uống rượu lai rai với chú Sáu, dượng Chín, sau khi cúng bái rước ông bà về ăn Tết cùng con cháu.

Kim Bông thần mã
Minh họa: Nguyễn Thiện Đức

Rượu vào, lời ra. Chú Sáu nói:

- Tháng cùng ngày tận. Chỉ còn năm, sáu tiếng đồng hồ nữa, Rắn hết nhiệm kỳ, bàn giao công việc cai quản trần gian lại cho Ngựa và cáo lui. Chẳng biết rồi Ngựa sẽ “làm ăn” thế nào và có thay đổi gì chăng?

Tía cười cười, triết lý:

- Sự thay đổi nào cũng khởi đầu từ ý thức. Đó là điều tất yếu! Ngựa có ý thức thì ắt sẽ có thay đổi, chú Sáu mầy lo chi cho mệt. Việc đó, đã có người lo! - Tía chuyền ly rượu cho chú Sáu.

Đàn cò rời cánh đồng, bay hối hả trong không gian chiều tàn về tổ.

Ba lão bạn đời đã vượt cái ngưỡng “thất thập cổ lai hy” cùng chén thù, chén tạc, khi rôm rả, lúc trầm ngâm của thời khắc chờ đợi “tống cựu, nghinh tân”, nhưng không phải là không “ưu thời, mẫn thế”!

Dượng Chín nói:

- Lẽ thường, thiên hạ tôn vinh ngựa Tàu hơn ngựa ta. Theo tui, ngựa ta hơn xa ngựa Tàu! Chỉ mỗi một chuyện Thánh Gióng cỡi ngựa sắt, cầm roi sắt mà khiến lũ giặc Ân khiếp kinh hồn vía và tan rã. Ngựa chết vì chủ của mình, chỉ có ngựa ta, chứ ngựa tàu: chưa chắc!

Chú Sáu cãi lại:

- Tui đọc Tam Quốc Chí, nhớ đại khái, Quan Vân Trường bị Mã Trung, Phan Chương bắt và sau đó bị giết. Ngựa Xích Thố vì nhớ thương chủ, bỏ ăn mà chết! Đời sau, ai cũng thương cảm và ca ngợi.

Dượng Chín bảo rằng, muốn rõ thực hư chuyện ngựa Xích Thố vì thương nhớ chủ bỏ ăn mà chết hay sức cùng lực tận, vì tuổi già mà chết, ta phải biết số tuổi ngựa Xích Thố đã sống!

Tía chen vào:

- Hồi ông già tui ở với bạn nuôi ngựa đua nhà Hội đồng Láng miệt Đức Hòa Thượng, thường nói ngựa từ ba, bốn tuổi là đã có thể phối giống và ra trường đua. Thời kỳ sung mãn nhất của ngựa là từ sáu đến tám tuổi. Đời ngựa thường dài không quá ba mươi năm!

Dượng Chín tiếp:

- Ngựa Xích Thố lần đầu xuất hiện trong tay Đổng Trác là vào năm 189. Lữ Bố thấy Xích Thố là mê mẩn ngay và Đổng Trác đã dùng ngựa Xích Thố dụ Lữ Bố thực hiện mưu kế của mình. Như vậy, ngựa Xích Thố lúc bấy giờ phải ở thời kỳ sung mãn nhất. Đến năm 219, ngựa Xích Thố chết khi Quan Vân Trường thọ hình!

Dượng Chín chiêu ngụm rượu, rồi làm bài tính nhẩm:

- Ngựa Xích Thố xuất hiện năm 189, chết năm 219 vị chi là ba mươi năm, cộng thêm khoảng tám năm từ lúc ngựa mới sinh ra cho đến khi sung mãn. Tất cả là ba mươi tám năm! Dượng Chín kết thúc:

- Như vậy thì ngựa Xích Thố chết vì tuổi già, chứ chẳng phải chết vì thương nhớ chủ!

Chú Sáu được dịp “hấp tinh kiến giải”:

- Tui phục dượng Chín sát đất!

Chị Tư bưng dĩa khô cá chạch và chén nước mắm me, tiếp thêm mồi nhậu. Tía biểu chị vào trong lấy mấy tấm hình chụp mộ ngựa Kim Bông đưa dượng Chín và chú Sáu coi.

“Nhớ hồi nẳm, khi đơn vị hành quân qua làng Cỏ Ngựa dưới chân đèo Cù Mông, tía được nghe cô bác lớn tuổi kể rằng, xưa kia, nơi đây có lão Ngô đầu lĩnh, cỡi con tuấn mã Kim Bông, tay cầm đại đao, chuyên nghề bảo tiêu hàng hóa của thương nhân mỗi khi vận chuyển qua đèo. Một hôm, từ căn cứ kháng chiến, tướng Võ Trứ tìm về hội kiến với lão họ Ngô. Sau tuần trà, tướng Võ Trứ bộc bạch:

- Vận nước nguy khốn, vua Hàm Nghi bỏ ngai vàng, rời kinh thành lên miền Tân Sở truyền hịch Cần Vương. Trứ nầy, mong đại huynh gả Kim Bông về phong trào Văn Thân Bình Định đang sục sôi chống quân xâm lược Pháp và bọn tay sai của chúng.

Ngô đầu lĩnh cầm vò rượu tu một hơi dài, cười khanh khách:

- Với đất nước, mạng Ngô tui còn chẳng kể thì có sá gì ngựa Kim Bông?

Chủ, khách cáo từ. Tướng Võ Trứ nhảy lên yên ngựa. Kim Bông bất ngờ giậm chân, hất tung tướng Võ Trứ rơi xuống đất.

Lão Ngô đầu lĩnh vỗ vỗ bờm ngựa:

- Ta già rồi, con thay ta đi cứu nước!

Ngựa Kim Bông cạ mặt vào người lão Ngô, hí vang núi rừng, rồi phi nước đại chở tướng Võ Trứ về căn cứ, giữa trưa nắng bụi mù tung...

Kim Bông trở thành chiến mã của Phó soái Lê Tuyên - còn gọi là Bá Mười, Lê Văn Trang. Người và ngựa cùng cận kề cái chết ở chiến trường, sống chí tình, chí nghĩa. Chiến mã Kim Bông đã cùng chủ đi vào những trận đánh khốc liệt, như Trường Úc, Lò Vôi (Tuy Phước), Cẩm Văn (An Nhơn), Phú Gia (Phù Cát)... khiến quân xâm lược khiếp sợ, bọn vong nô Nguyễn Thân thất điên bát đảo, gọi Kim Bông là thần mã. Khi Chủ soái Mai Xuân Thưởng, Phó soái Lê Tuyên cùng tám tướng lĩnh nghĩa quân bị giặc hành hình sáng ngày 15 tháng 4 năm 1887 tại Gò Chàm (cũ) ngày nay, gần cầu Xi-Ta, cách thành Bình Định non một cây số về hướng bắc, ngựa Kim Bông hiếu nghĩa, can trường liền chạy thẳng về nhà báo tin dữ. Lúc bị giặc vây bắt, nó trốn biệt vào núi. Thi thể Phó soái Lê Tuyên được chôn cất tử tế trên đất Gò Đình.

Một sáng, khi đồng còn mù sương sớm, người làng phát hiện ngựa Kim Bông nằm gục chết bên mộ phần của chủ. Những giọt nước mắt hòa cùng sương còn nhòe trên mặt ngựa khổ đau. Cảm thương và trân quý lòng thủy chung đó, dân làng Nhân Ân cùng gia đình Phó soái Lê Tuyên đã xây mộ đá vôi cho ngựa Kim Bông, gần mộ phần của Phó soái Lê Tuyên. Trước mộ, có bức bình phong đắp nổi hình ngựa Kim Bông trên nền hoa văn bông cúc vàng với họa tiết tinh tế, như nhắc người đời sau tiếc thương và suy ngẫm!”

Tía ngừng kể, mời mỗi người uống nửa xây chừng rượu. Chú Sáu, dượng Chín săm soi mấy tấm hình tía chụp chung với người bạn ở Bình Định bên mộ ngựa Kim Bông. Chú Sáu hỏi tía:

- Anh Năm, từ Tuy Phước đi đến mộ ngựa có xa không?

Tía nói, từ thị trấn Tuy Phước đi vào mộ ngựa Kim Bông cũng không xa mấy. Hồi đó, tía đi cùng người anh em bạn theo hướng đông bắc khoảng bốn cây số, gặp ngã ba Cây Xoài thuộc xã Phước Thuận. Rồi qua cánh đồng hơn một cây số về miệt phía đông thì tới đầu thôn Nhân Ân, xưa gọi là làng Nhân Ân, quê hương cụ Tú Diêu, thầy dạy chữ và dạy soạn tuồng hát bội cho cụ Đào Tấn. Đến chùa Nhân Ân, xưa gọi là đình, men theo đường ruộng phía tây trên trăm mét thì gặp Gò Đình, nơi yên nghỉ của Phó soái Lê Tuyên và thần mã Kim Bông.

Dượng Chín nhìn nắng chiều còn sót lại trên ngọn tre, thốt lên:

- Thế sự trên trăm năm mà tưởng chừng như mới hôm qua!

Tía nói, theo đạo trời, ngựa sinh ra vốn dĩ tự do. Ngựa bị đóng yên, khớp mỏ, ấy là đạo người. Ngựa sống chí tình, chí nghĩa với người và đồng loại. “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Ngựa sống không loạn luân, ngựa mẹ thà chết không cho con phối giống! Người có mấy ai sống chí tình, chí nghĩa như ngựa?

Thiên hạ, dù dễ tính hay khó tính, đều đồng thuận rằng: Ngựa biểu tượng cho sức mạnh, như, “Máy có mấy mã lực?” Hoặc, “Lúc này, tao thấy mầy ngựa quá! Đồ ngựa, con đĩ ngựa!” Có lẽ nhằm nói lên sức sống mãnh liệt của người phụ nữ. Chẳng có chi là xấu, tốt!

Ngựa in dấu thời gian. Có người nói: “bóng câu qua cửa sổ”. Đời nhà Thương bên Tàu, người biết dùng ngựa kéo xe đi phương xa mua bán nên được gọi là thương nhân. Về sau gọi là thương nghiệp, thương mại. Ngựa ta, ngựa Tàu, ngựa nào cũng ngựa. Có điều, Xích Thố của Quan Vân Trường trong truyện Tam Quốc chí cách đây 1.800 năm chỉ là ngựa hư truyền! Còn Kim Bông của Lê Tuyên trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp cách đây trên 100 năm mới chính là ngựa thực truyền! Mỗi khi nhắc đến ngựa chết vì chủ ta chỉ thường nhớ Xích Thố ở tận đâu đâu bên Tàu, mà quên Kim Bông mồ mả còn sờ sờ trước mặt... Vậy nghĩa là sao?!

Xứ mình có ba cái tên cùng chung một nghĩa: bông, hoa và huê. Gọi sao cũng được. Hương sắc còn tùy. Thiếu mặt này, dư mặt kia. Hiếm khi đặng tròn vẹn cả hai. Chơi hoa, đến cụ Nguyễn Du còn phải thốt “Chơi hoa, đã dễ mấy người biết hoa!” Trời sinh vậy mà, bạn hỏi mần chi? Trong bữa ăn nhà quê, bao giờ cũng có món “bông” hiện diện: lúc bông bầu, bông bí, bông mướp; khi bông điên điển, bông súng, bông chuối. Má thường dặn con cái, muốn hiểu người bạn đời - ngoài những yếu tố khác, có một yếu tố cực kỳ quan trọng, là hãy nhìn cái miệng người đó trong lúc đang ăn. Tại sao? Vì khi ăn, miệng thể hiện văn hóa, tư chất, tính cách con người! Miệng nói, lời có thể dối trá. Miệng ăn, nhứt định là thực.

Kẻ đó, bán sống mua chết cũng “chạy trời không khỏi nắng!”.

Chú Sáu chưa rõ:

- Tại sao người xưa chọn hoa cúc vàng làm nền đắp nổi tượng ngựa Kim Bông mà không chọn một loài hoa nào khác?

Dượng Chín có ý kiến rằng:

- Cổ nhân xếp hoa cúc vô trong tứ quý: tùng, cúc, trúc, mai. Tại sao, thì phải hỏi anh Năm.

Tía tiếp lời dượng Chín:

- Mỗi sắc màu hoa cúc mang tâm tình riêng, ý nghĩa riêng. Không trùng lặp, không giống nhau. Cõi trần gian, chẳng có loài hoa nào sánh kịp sự bền bỉ thủy chung như hoa cúc. Bởi lá và hoa cúc dù úa tàn, khô héo, vẫn ôm cành, không rơi xuống đất. Ông bà xưa thường nói: “Diệp bất ly chi, hoa vô lạc địa”.

Chú Sáu giờ như thấu cảm:

- Phải rồi, hoa cúc là biểu tượng cho lòng thủy chung, cũng như ngựa Kim Bông dùng sinh mệnh mình để bộc lộ lòng chung thủy! Người xưa để lại cho hậu thế những điều thật đáng suy ngẫm. Há lẽ người thua súc vật sao!

Tía kết thúc câu chuyện:

- Đất yêu quái không có chỗ sống cho người lương thiện! Người đời tôn vinh Bình Định “đất võ, trời văn”, hẳn hồn thiêng sông núi nơi này đã nảy sinh nòi giống ngựa Kim Bông và được điểm tô bởi loài hoa cúc trên khắp mọi miền đất nước.

Mặt sông chuyển màu sẫm tối.

Ba lão bạn đời cùng cạn ly rượu cuối cùng, chờ thời khắc giao thừa sắp đến!

T.B.Đ
(TCSH444/02-2026)

 

 

Các bài đã đăng
Mắt cá (06/02/2026)
Nhiên và hoa (30/01/2026)
Cơn bão (22/01/2026)
Vệt bùn sau lũ (19/12/2025)