NGUYỄN PHÚC THÀNH
Truyện ngắn dự thi 1993
"Mẹ ơi! Giờ mẹ ở đâu?". Thằng bé vừa đi vừa khóc.
Một tay nó cắp chiếc thúng bên hông, một tay cầm lõng thõng thanh sắc nhỏ, bẻ cong đầu. Tôi chủ tâm đi phố sắm tết, nào ngờ không đành lòng, phải lẽo đẽo đi theo nó dọc con mương cũ kỹ, đầy rác rưởi. Thằng bé lại nấc lên, âm giọng như muốn kìm lại, lại như muốn hét lên với bầu trời u ám lúc hoàng hôn. Mùa đông không có mặt trời. Gió lạnh như cào xé vào da thịt nó qua lần áo lính cũ mèm. Bất chợt, phát hiện có người theo mình, nó nín bặt, thu người về trong tư thế phòng ngự. Nó đặt thúng xuống đất, tay lăm lăm thanh sắt khi thấy tôi tiến lại gần.
- Làm sao cháu khóc? - Tôi hỏi.
Thằng bé không trả lời, ngược lại, trong chạng vạng hoàng hôn, nó tròng trọc nhìn tôi đến mức táo tợn, như là dò xét, như là căm thù cả một thế hệ trên nó. Tôi tiến sát đến.
- Dừng lại - Nó quát lớn và giơ cao thanh sắt - Hôm nay không kiếm được gì. Hãy cho tôi một cái bánh mì chứ?
Tôi ngỡ nó tâm thần, hỏi tiếp:
- Tại sao cháu khóc?
- Đói! rét! - Nó đáp cộc lốc.
- Cháu kiếm gì ở đây?
- Bới rác. Thì ra chú không phải bọn trấn lột - Nó nhận xét.
- Về đây! - Tôi bảo nó.
Nó ngập ngừng rồi ôm lấy chiếc thúng. Nó đi nhanh đến gần tôi.
- Đi đâu chú? - Nó vừa chạy vừa hỏi.
- Về nhà chú.
Bầu trời đen sẫm. Lất phất vài hạt mưa phùn. Tôi và nó đi hết đoạn mương, rẽ vào phố. Mùa xuân sắp về với Hà nội. Hai dãy phố đèn điện sáng trưng. Những dãy hàng tết đủ màu sắc loè loẹt. Nó đi cạnh tôi, bất giác buông một tiếng thở dài...
- Cháu bao nhiêu tuổi?
- Mười bốn - nó đáp.
- Nhà cháu ở đâu?
- Xa lắm: Hai tiếng ô tô mới đến cơ, mãi Hà Bắc.
- Cháu xuống đây với ai? Tối cháu ngủ đâu? Tôi dồn dập hỏi.
- Cháu đi tìm mẹ. Mẹ cháu đi buôn chuyến Hà Nội - Lạng Sơn, lâu lắm không thấy về. Nghe nói đã đi theo một người nào đó ở Hà Nội - Lại một tiếng thở dài chìm trong cơn nấc nhẹ. Thằng bé cố ghìm lại - Cháu xuống đây gần năm rồi. Mới đầu cháu đi xin, tối ngủ bến xe, ghế đá. Gần đây trời rét, cháu ngủ trong chợ Yên Lãng cùng với hội "cửu vạn" Thanh Hoá. Họ có chăn, màn, còn cháu không có gì cả.
- Hằng ngày cháu sống bằng gì?
- Bới rác, nhặt nylông, sắt vụn rồi đem bán cho các đại lý.
- Gần tết rồi, sao cháu không về?
- Về đâu hả chú, về nhà ư? - Nó u uất hỏi - Dì ghẻ cháu giết...
Trong một quán cà phê, những cậu bé cũng chạc tuổi nó đang nghêu ngao hát theo ti-vi. “Lạy mẹ con đi, con biết mắt mẹ lệ rơi. Vắng con đi rồi, nhà ta mất đi một người...” - “Nó làm gì có mẹ đâu mà lạy?”. Một cơn gió lạnh tràn qua. Tôi kéo cao cổ áo len. Thằng bé co giúm lại.
- Rét không? - Tôi hỏi.
- Dạ. Cháu chịu quen rồi.
Tôi dẫn nó về khu nhà anh tôi đang thi công mà tôi là người chịu trách nhiệm trông coi hàng ngày.
- Vào đi - Tôi giục nó rồi đóng cổng sắt lại - Chú sẽ bật đèn cho cháu tìm, có thể sẽ có nhiều sắt vụn.
- Nhà chú ư?
- Không, của anh chú.
- Sợ phiền không ạ? - Nó đăm chiêu.
Tôi kéo dây diện thắp sáng khu nhà ba tầng. Gỗ lại để lổng chổng, những cây lương nằm đè lên nhau.
Nửa tiếng sau, nó từ tầng ba xuống, cất vào trong thúng một bó những đầu mẩu sắt vụn.
- Chú còn chăn, chiếu, nhưng không có màn. Cháu sẽ ngủ lại đây chứ?
- Dạ, tốt quá! - Thằng bé rên lên.
Tôi xếp chỗ cho nó trong một căn buồng trên tầng hai, có cửa sổ đóng kín. Không khí lạnh lẽo nhưng vẫn ấm áp hơn nơi chợ Yên Lãng. Tôi cảm nhận thấy ánh mắt của nó dịu đi và hết sức con trẻ. Giờ này vợ con tôi cũng đang chuẩn bị đi nằm trong một căn phòng khiêm tốn của tập thể, nơi tôi công tác. Chúng tôi đều là trí thức nghèo, giáo viên dạy trường đại học. Đáp lại lòng tốt của anh tôi với vài yến gạo trợ cấp hàng tháng cho các cháu ăn học, hai mươi đêm trong tháng tôi phải có mặt nơi công trình anh đang xây dựng. Anh tôi cũng là trí thức, nhưng thức thời, buôn bất động sản từ nhiều năm nay nên cuộc sống phong lưu, có xe con riêng, con cái mỗi đứa một xe máy đẹp. Trước khi vào giấc ngủ, nó khẳng định lại một lần nữa:
- Nhất định ngày mai cháu tìm được mẹ.
- Mẹ cháu tên gì? Bao nhiêu tuổi? - Tôi hỏi nó.
- Tên An, họ gọi là An "trắng" vì mẹ cháu trắng lắm, lại xinh xắn nữa. Thế mà bố cháu nỡ hắt hủi mẹ cháu…
Tôi định hỏi tiếp nhưng thằng bé im lặng. Nó đã ngủ. Tôi tắt ngọn đèn dầu nhỏ rồi leo lên tầng ba bật điện, dọn chỗ đi nằm. Năm nay rét, chắc chắn đào đắt. Không biết vợ tôi đã có tiền mua đào chưa?
Sáng dậy, nó gọi tôi:
- Chú ơi, cháu đi đây. Cháu cám ơn chú nhiều lắm.
Tôi vén màn lên, hỏi nó:
- Cháu tên gì nhỉ?
- Cháu tên Quân, Quân "rác"!
Nó xuống cầu thang, bước chân xiêu vẹo.
Tôi vùng dậy, khoác áo, ra mở cổng! Thằng bé đi trước tôi. Cái thúng bên hông nó to hơn người. Cũng vào một buổi sớm thế này, tại sao chiếc thúng không phải là cái cặp sách như của hai con tôi? Nhìn đôi môi nó thâm tím, hai hàm răng va vào nhau, tôi cố gắng hững hờ cho kịp thời cuộc, nói với nó một câu sáo rỗng:
- Hẹn gặp lại cháu!
Tôi đánh răng, rửa mặt rồi đạp xe về nhà. Vợ tôi đã rang sẵn chảo cơm nguội, tôi kể lại chuyện hôm qua trong bữa ăn. Vợ tôi ngậm ngùi thương cảm. Hai đứa con tôi nhìn nhau cười. Tôi mắng chúng. Đứa nhỏ bảo:
- Bố rỗi hơi. Mai đem nó về nuôi, con đỡ phải rửa bát.
Con lớn buông lửng:
- Thời nay, sống như bố mẹ là hiếm - Rồi nó kết luận - Dở hơi gặp cám hấp!
Tôi mất bình tĩnh, tát nó một cái. Bát cơm văng ra cửa. Một mảnh bát bắn vào cô hàng xôi.
- Nhà giáo hồ như vô học, ném cả vào người ta - Nói xong, cô nhổ một bãi nước bọt.
Chờ hai đứa đi học, tôi bảo vợ:
- Con không dạy dược, còn dạy ai?
Vợ tôi thản nhiên đáp:
- Con quan cách thường hay trộm cắp. Con giáo dục vẫn thường vô giáo dục. Xem như đã là qui luật tự nhiên...
Tôi vơ bài vở, giáo trình, cho vào chiếc cặp bỏ đi trước. Vợ tôi còn bận dọn nhà.
Tối đó, tôi và vợ, như là hẹn trước, cùng về nơi công trường đang xây dựng, chúng tôi ngồi trên tầng ba đã hoàn thiện xong, trong không khí gấp gáp của những đêm cuối năm. Chúng tôi bàn về cái tết, nhẩm tính sao cho phù hợp với số tiền còm cõi trong hầu bao của vợ tôi. Gần khuya, tôi bảo:
- Nó không đến rồi.
- Hãy đến bến xe đi Lạng Sơn, hỏi các lái xe sẽ tìm được mẹ cho nó - Vợ tôi nói.
- Ừ, thế chứ - Tôi cười nụ cười của một ngày dài nhặt nhạnh, gom góp lại.
Chúng tôi cùng về nhà. Cửa khóa. Hai con tôi đi chơi chưa về. Lúc này đã gần mười một giờ khuya. Chừng mười phút sau có tiếng xe máy tắt nơi cửa. Con lớn nhà tôi xuất hiện. Tôi hỏi:
- Con đi đâu về?
- Con đi sinh nhật bạn - Nó đáp gọn và đi vào bếp.
Tôi nghe thấy tiếng nó nôn, oẹ. Vợ tôi thất sắc, chạy vào. Tôi đạp xe trở lại công trường. Trước khi đi vợ tôi bảo:
- Con Xuân nhà mình có hiện tượng rồi. Sớm mai anh ra Đặng Thái Thân phố Hàng Đậu. Xe Lạng Sơn hay đón khách ở đấy.
Đêm đó, tôi mơ thấy con gái tôi chửa với một thằng Việt kiều. Tỉnh dậy, tôi tự hỏi: "Mới mười sáu tuổi đầu, không đi qua đêm, làm sao mà chửa được?". Sớm dậy, tôi lên phố Đặng Thái Thân. Vài chiếc xe Latvia đang chờ khách. Tôi hỏi sang một xe khác.
- Cháu không biết chị ta giờ đi đâu, trước vẫn thường đi xe cháu. Chú đến phố Bà Triệu xem. Bồ chị ta ở đấy.
- Số nhà?
- Bố cháu cũng chịu. - Cậu lái xe nói.
Tôi quay trở về. Trời mờ tối. Rét. Thằng Quân chắc đang ngủ ngon. Mưa phùn lất phất. Gió táp từng cơn giận giữ vào cái - Mặt - Nạ đầy bụi phấn của tôi. Lòng tôi le lói một chút hy vọng. Giữa đường, một bà già, chắc chưa già lắm, lao xe đạp vào giữa một đống rác và buông một lời chửi tục tĩu. Bà là một bác sĩ trưởng khoa sau một đêm trực mệt mỏi hay một mụ Tú bà chuyên buôn người? Tối đó, khi vợ tôi dọn dẹp chuẩn bị năm mới, hai con nhà tôi đi chơi, tôi xách xe đạp ra cửa! "Năm thì mới, đâu Người, đâu chó?". Tôi tìm đến một người quen, người hộ tịch viên quản lý một phần đường phố Bà Triệu.
- Có đấy. Xin anh một ngày sẽ có địa chỉ cụ thể. Họ nằm trong diện quản lý của tôi.
Tôi đạp ngược trở lại tìm đến chợ Yên Lãng. Không gian vắng lặng, tịnh không còn bóng người. Màn đêm buông dày đặc. Tôi dắt xe đạp quanh chợ. Có tiếng trở mình trên hè. Lại một liếng nấc nho nhỏ. Tôi đứng im tự tạc mình thành một pho tượng. Một tiếng rên khe khẽ "Mẹ ơi...". Tôi cất cao giọng:
- Quân. Quân rác ơi!
Bóng đêm là vòng tay Mẹ, ôm lấy thằng Quân vào lòng. Tôi xác định đúng tiếng nó. Dắt xe lại gần, không quên sập khóa càng cua, tôi cúi xuống:
- Quân ơi. Chú tìm thấy mẹ cho cháu rồi.
Không có tiếng trả lời. Tôi mạnh dạn lật manh chiếu đắp trên người nó. Nó òa khóc. Tôi xiết chặt hai bàn tay bé xíu và lạnh giá vô ngần của nó, truyền cho nó chút hơi ấm.
- Mẹ cháu giờ ở đâu? - Nó hỏi, giọng mệt mỏi.
- Dậy đi về ngủ chỗ chú. Sớm mai chú đưa đi gặp mẹ.
Nó chống tay xuống nền chợ. Hai khuỷu tay nó khuỵu xuống.
- Cháu mệt. Đói quá chú ơi...
Tôi sờ trán nó. Nóng quá. Nó đang sốt cao. Tôi bế nó lên xe, vòng tay ra sau giữ nó. Tôi đưa nó vào bệnh viện Quận. Cũng phải nói khó với nhiều lời hứa hẹn, người ta mới tin và chịu chăm cho nó khá chu đáo. Còn tôi ngồi ngoài hành lang, đầu óc quay cuồng với nhân tình thế thái. Tôi mở mắt dậy. Một buổi sớm bệnh viện ngày giáp tết thật lạnh lẽo. Gió ào ạt thổi, những trận gió mùa cô đơn. Tôi lau mặt vào lần trong vạt áo khoác, vào với nó một phút, hứa chiều sẽ quay lại đưa nó đi gặp mẹ. Tôi đến thẳng trường, bụng đói mềm. Gần trưa, vợ tôi tất tả tìm đến:
- Nguy rồi. Con Xuân nằm viện.
- Sao?
- Nó chửa ba tháng. Phải nạo, ra rất nhiều máu.
Tai tôi ù đặc, lòng uất hận cao độ. Tôi bảo:
- Mình đi một mình, tôi không có mặt mũi nào đến với nó.
Tan trường. Tôi đạp xe đến Viện, nơi con Xuân nằm. Tôi xăm xăm đi vào. Đến cửa phòng, tôi định mở, song cảm thấy tủi nhục, tôi đứng thẫn thờ nhìn qua kính thấy vợ tôi đang xúc cho nó ăn trong một chiếc cặp lồng. Tôi quay trở ra cổng. Nhớ hẹn, tôi đạp xe đến nhà tay hộ tịch viên. Anh đưa cho tôi mảnh giấy: "Phố Bà Triệu. Số nhà... Hoàng Hữu Nghiễm, kỹ sư lâm nghiệp công tác tại Lạng Sơn. Tuổi bốn hai. Bỏ vợ. Hiện ở với Nguyễn Thị Cầu An. Không cưới".
Cầm tờ giấy, biết là sẽ có chuyện, tôi tìm đến theo địa chỉ. Một ngôi biệt thự xinh xắn. Cổng sắt cao, cửa vòm, kính nâu. Một kiểu kiến trúc mang dáng vẻ Ả Rập. Tôi rụt rè bấm chuông. Một thằng nhỏ chạy ra, theo sau là con béc giê đen tuyền.
- Cô An... - Tôi chưa nói hết câu đã bị đôi mắt nó nhìn soi mói. Một cặp mắt lỳ lợm. "Thằng này sau tất sẽ giết người".
- Đi rồi, cả hai - Và nó chạy vụt trở vào.
Tôi viết vài chữ, gài mảnh giấy nhỏ gần nơi ổ khóa: "Cô An! Thằng Quân nằm viện... Nó đã tìm cô một năm trời!".
Tôi về với thằng Quân. Nó đã tỉnh táo hẳn. Thấy tôi, nó bảo:
- Mẹ cháu đâu chú?
- Mẹ cháu sẽ đến muộn một chút.
Thằng bé khóc. Nó úp mặt vào chiếc gối bệnh viện. Tôi làm thủ tục xin cho nó sớm mai ra viện. Cuối cùng, khi ra khỏi phòng, tôi nghe được một cô nói nhỏ:
- Chỉ được cái bẻm mép. Hứa với hẹn…
Tôi giả tảng lờ đi, đôi chân trĩu nặng bước trên hành lang sạch bóng. Lòng tôi đau đớn như mang một vết thương...
Tôi mua một hộp sữa, quyết định đến thăm con Xuân. Nhìn thấy tôi vào, nó nhoẻn cười, nói:
- Chào bố. Đã tìm thấy mẹ thằng bé chưa?
Tôi giơ cao hộp sữa, muốn đập một cái vào mặt nó, song lại đặt nằm trên nóc chiếc tủ nhỏ.
- Hai sáu tết rồi. Mai con ra viện. Xin lỗi bố. Thật không may...
Tôi cắn chặt hai hàm răng:
- Đàn bà bao giờ cũng phải thế. Mai, bố bận, mẹ sẽ đưa con về. Phải không mình nhỉ? - Tôi quay sang vợ.
Vợ tôi cười, những nếp nhăn tạo thành sóng quanh khóe mắt. "Vợ mình xấu đi nhiều...". Trước khi về, tôi nói nhỏ vào tai vợ:
- Thấy chưa? Lần này thì cấm cửa cái thằng chó ấy.
Sáng sau tôi vào đón thằng Quân ra viện, cũng là muốn xem mặt mẹ nó. Rất có thể mẹ nó đã đưa nó về rồi?
Tôi nhìn qua khe cửa, thấy thằng Quân gục đầu lên thành giường nấc lên từng chập. Mái tóc thiếu bàn tay người mẹ rủ xuống, rối tung.
Tôi gọi:
- Quân ơi!
Nó ngửa mặt lên, nước mắt giàn dụa.
Nó nói ngắt quãng theo từng cơn nấc:
- Mẹ... cháu... hu hu... không đến...
Tôi đèo nó tìm đến với mẹ. Chúng tôi ngồi ở hàng nước, đối diện với ngôi biệt thự và cùng nhai bánh mì. Khoảng mười giờ, tôi nghe tiếng cãi cọ nhau trong nhà. Một lúc sau lại nghe tiếng thủy tinh rơi loảng xoảng. Tiếng một người đàn ông rít lên tục tĩu. Rồi một âm giọng phụ nữ rên rỉ. Mặt thằng Quân đanh lại:
- Đúng là tiếng mẹ cháu rồi. Ta làm sao bây giờ, chú?
- Rượu đấy. Đánh cô ấy suốt từ tối qua... - Bà hàng nước nói.
Tôi giật mình. Có phải vì mảnh giấy mình để lại? Thằng Quân nắm chặt hai bàn tay, khuôn mặt nó cắt không ra hạt máu. Tôi trả tiền hai chén nước, kéo nó dậy, tiến về phía cánh cổng. Tôi bấm chuông dồn giã. Thằng nhỏ hôm qua chạy ra. Tôi lừa nó:
- Cháu ngoan cho chú gặp bố Nghiễm có việc cần. Nhanh lên nào!
Nó đảo cặp mắt trắng dã hết nhìn tôi lại nhìn thằng Quân. Nó quay trở lại với chùm chìa khóa. Chúng tôi theo sát nó đi vào. Con chó đen sủa lên ông ổng. Thằng nhỏ đá thật mạnh vào mõm con chó, miệng hét: "Đen!". Nó nghiến răng ken két. Con Đen sợ hãi chạy vào. Chúng tôi xuất hiện tại phòng khách. Chờ chúng tôi trên chiếc xa lông là một người đàn ông dáng dấp lịch sự. Chiếc "Ca vát", đôi giày đen đã khẳng định điều đó. Trong nhà hoàn toàn yên tĩnh. Tôi nói luôn, không úp mở:
- Chào ông Nghiễm, tôi dẫn cháu đi tìm mẹ nó, bà Nguyễn Thị Cầu An.
- Ông là ai? - Nghiễm hỏi.
- Tôi là người quen của An. Đây là con trai cô ấy.
- An! Ra đây - Nghiễm quát.
Thằng Quân hồi hộp. Nó muốn nhảy vào đâm chém Nghiễm. Thật tiếc, nó còn nhỏ quá.
Người đàn bà bước ra, mái tóc rối bời, cặp mắt sưng mọng.
- Mày nhận ra ai đây chứ?
- Không...
- Mày nói lại. Mở mắt to ra mà nhìn!
- Không biết... - Người đàn bà rầu rĩ.
Thằng Quân nhìn mẹ không chớp mắt. Nó có vẻ bất lực với thực tại. Nó hết nhìn Nghiễm lại quay sang con Đen, lúc ấy đang ngồi chồm hổm nơi góc phòng. Nó sợ chó hay sợ Nghiễm? Bất chợt, thằng bé chồm lên, lao qua người tôi, hướng về phía mẹ nó. Nó quỳ xuống, đôi dòng lệ rưng rưng:
- Mẹ ơi. Mẹ không nhận ra con sao?
Nó ôm chặt hai chân mẹ nó.
- Nhiên! - Nghiễm gọi - Cho nó ra ngoài!
Thằng Nhiên, thằng nhỏ khi nãy được con Đen hộ vệ, xách tai thằng Quân lôi xềnh xệch ra cửa.
- Còn ông, muốn gì? - Nghiễm hất hàm.
Tôi như đang bị thôi miên bởi người đàn bà. Không hiểu có đúng mẹ thằng Quân không?
- Xin ông tha cho họ. Trời ơi... Con tôi!
Nghiễm đến gần, dang tay tát An.
- Tao sẽ giết nó - Nghiễm rít qua kẽ răng.
An đưa tay quệt máu trên mép, mồm nhổ nước miếng đánh toẹt. Nghiễm lại giơ cao tay. Tôi quát lớn:
- Dừng lại. Đủ rồi ông Nghiễm ạ.
Nghiễm lừ lừ nhìn tôi. Hai mắt hắn vằn tia máu đỏ.
- Mẹ ơi! - Tiếng thằng Quân la lên thất thanh.
Tôi và Nghiễm cùng lao qua cửa. Ở ngoài, thằng Quân đang đánh nhau với thằng Nhiên. Con Đen gầm gừ bên cạnh. Lúc chúng tôi chạy đến nơi, thằng Quân nằm đè lên thằng Nhiên. Con Đen đang ngoạm lấy cổ thằng Quân.
- Đen! - Nghiễm tỉnh lại, gào lên.
Muộn rồi. Con Đen bỏ miếng mồi, liếm mép. Máu dính đầy cả mõm nó. Thằng Quân dãy dụa liên hồi. Máu từ cổ nó túa ra thành dòng, chảy dài trên thảm cỏ. An chạy ra, quỳ sụp xuống, quắp thằng Quân vào lòng, miệng rống lên thê thảm: Con! Con... tôi.
Thằng Quân như mỉm cười mãn nguyện. Nó được chết trong vòng tay của mẹ.
* * *
Nghiễm bị bắt. Hôm sau, vợ chồng tôi và hai con đi đưa thằng Quân ra nghĩa địa. Đám tang chừng mươi người, ngồi chật trên một chiếc xe Lisa, cạnh chiếc quan tài nhỏ. Trời mưa dai dẳng, trên mắt từng người đều chảy dài những giòng lệ. Tết năm ấy là một cái tết đầy thương cảm.
Sau đó, An đôi thoảng có qua lại nhà tôi. Người cô rủ xuống như một tàu lá. Vài tháng sau, sau khi hoàn thiện công trình, anh tôi trả công cho tôi một tạ gạo. Một dịp gặp An, anh bảo:
- Nó vẫn đẹp lắm, mày để cho tao!
Tôi nói như mơ hồ xa xôi:
- Thôi. Đừng làm cho người ta khổ thêm nữa...
Tôi cũng thèm muốn làm một điều vô luân. Rốt cuộc, sợ lòng mình kham không nổi. Ông Nguyễn Giản Thanh nói:
Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách
Sắc bất ba đào dị nịch nhân.
Tạm dịch:
Trời mưa không có khóa nhưng cứ giam chân người khách lại
Sắc đẹp không có sóng ba đào nhưng nó dễ dìm chết người ta.
Sau đó ít lâu, An mắc chứng tâm thần.
Trung Liệt 6 tháng giêng Quí Dậu
N.P.T
(TCSH61/03-1994)