ĐẶNG CHƯƠNG NGẠN
1.
Cạnh nhà tôi có một tiệm cà phê mèo.
Quán nằm ở góc đường nhỏ, nơi trước kia là một cửa hàng tạp hóa cũ, bán đủ thứ linh tinh như kẹo, bánh, kem đánh răng, bàn chải, thuốc lá, bim bim cho trẻ con tan học.
Khi tiệm cà phê mèo mở ra, mặt tiền được sơn lại màu xám nhạt, treo một bảng gỗ có vẽ hình con mèo đang cuộn mình ngủ. Nét vẽ chắc học theo tranh của một thi sĩ kiêm họa sĩ in trên các tạp chí văn học của thành phố, có chút gì đó phảng phất phong cách các họa sỹ ấn tượng. Mỗi chiều, mùi cà phê rang nồng nàn trộn lẫn với mùi cứt mèo đặc trưng từ những chiếc khay cát chưa kịp dọn theo gió phả vào cửa sổ phòng làm việc của tôi.
Vợ tôi, Ngọc, là một người yêu động vật. Thời sinh viên nàng từng tham gia mấy nhóm giải cứu chó mèo. Những con chó bị chủ bỏ rơi ghẻ lở, gầy đói được nhóm nàng đưa về cứu chữa, nuôi nấng, rồi mang cho các thành viên câu lạc bộ yêu chó mèo. Ngày nào rảnh, nàng cũng ghé quán, ngồi hàng giờ trên ghế thấp, để lũ mèo leo lên đùi, chui vào lòng, cọ đầu vào tay. Có lần nàng về nhà với một vết xước trên cổ tay, vừa đủ rớm máu, khoe như một chiến tích.
“Con mèo khoang đó nghịch lắm,” nàng nói, mắt sáng lên, “nhưng thương.”
Đôi khi, tôi mới ngồi với Ngọc uống cà phê ở quán mèo. Tôi thường quan sát từ xa qua cửa sổ bên hông nhà, ngay từ bàn làm việc. Tôi luôn thấy lũ mèo từ đấy. Rất đông, có lẽ hơn chục con, có đủ màu lông: trắng, xám, đen, khoang. Chúng đi lại nhiều, đùa chơi, và nằm ườn lười biếng dưới nắng, liếm láp bộ lông của chúng. Đuôi chúng luôn động đậy, tai không lúc nào thôi dựng lên, như thể mỗi âm thanh dù nhỏ đều đến được cái tai mỏng tang của chúng.
Cô chủ quán tên Li. Một người phụ nữ trẻ, váy lụa mỏng, móng tay sơn nhiều màu, lúc nào cũng sạch và bóng. Tôi luôn nghĩ đến thời gian và số tiền cô ấy đầu tư cho bộ móng chắc nhiều hơn số tiền tôi chi ra hàng tháng để mua thực phẩm. Khi khách đông, cô bế mèo lên đùi, một tay vuốt lưng, tay kia giữ hờ như sợ nó trượt xuống. Con mèo nằm im, thân nó căng ra, bốn chân khép lại, đuôi quẫy nhẹ.
Mỗi lần nó cựa mình, cô cúi xuống liếc nhanh tà váy, rồi đặt con mèo sang ghế bên cạnh. Bàn tay vừa vuốt lưng nó đưa lên phủi nhẹ, như phủi một sợi tóc rơi. Trên đùi cô, con mèo không lim dim mắt. Nó mở to mắt, nhìn ra phía cửa, tai dựng lên. Khi có khách gọi, cô đứng dậy ngay. Con mèo rơi xuống sàn, lẩn nhanh vào gầm bàn.
Tôi chưa bao giờ thấy cô ở sân sau, nơi người ta đặt khay thức ăn và cát vệ sinh cho mèo. Ở đó chỉ có mấy nhân viên trẻ, áo thun cũ, tay xách thùng rác, mùi cà phê trộn với mùi phân mèo nồng lên theo gió.
Quán rất đông khách. Phần lớn là người trẻ. Họ đến để chụp hình, để đăng lên mạng xã hội, để chứng minh với ai đó rằng mình dịu dàng, nhân ái, có khả năng yêu thương những sinh linh yếu ớt. Lũ mèo trở thành phông nền cho việc thể hiện của họ. Chúng quen với việc bị bế lên, đặt xuống, đổi tay từ người này sang người khác mà không hề phản kháng.
Tôi từng đem những quan sát này nói với Ngọc, nhưng nàng gạt đi: “Anh khó tính quá, người ta mở cả quán cà phê lấy tiền nuôi mèo, không yêu thì là gì?” Tôi im lặng, vì biết rằng có những sự thật không cần lời nói, chỉ cần nhìn vào đôi mắt của lũ mèo là đủ. Chúng ta có thể diễn kịch với nhau, nhưng không thể diễn kịch với bản năng của một sinh vật.
Mối quan hệ của chúng tôi bắt đầu rạn nứt chính từ những sự khác biệt âm thầm như thế. Chúng tôi kết hôn đã năm năm mà chưa có con. Những lần đi khám hiếm muộn trở nên vô vọng khi bác sĩ nói cả hai đều ổn. Có lẽ, sự “ổn” về mặt sinh học không khỏa lấp được khoảng trống về tâm hồn. Ngọc tìm đến lũ mèo như một cách trốn tránh sự im lặng trong căn nhà mình, còn tôi đứng bên cửa sổ, nhìn vợ mình đang dần trở thành một người xa lạ trong cái tiệm cà phê xám nhạt kia…
*
Quán cà phê mèo bất ngờ đóng cửa vào một buổi sáng. Không bảng thông báo trước cho khách hàng. Không lời tạm biệt. Chỉ là cửa cuốn kéo xuống, với một tấm giấy trắng dán vội, ghi mấy chữ: Sang quán.
Theo Ngọc, cô chủ phá sản. Nhiều tháng gần đây khách đến quán thưa dần, mà lương nhân viên không thể giảm. Cô chủ quán đã dọn đi trong đêm, bỏ lại đàn mèo và còn nợ lương nhân viên.
Mấy ngày sau, một vài cô gái vẫn đến ngồi canh trước quán để đòi lương. Tôi nghe một vài tiếng chửi hơi tục của họ về bà chủ, những câu đại loại như: “Đồ giả dối”, “Miệng lưỡi”, “Yêu mèo lắm mà giờ vứt chúng lại thế này!”… Có mấy cô nhân viên, chờ mãi không thấy bà chủ quay lại, chán nản rời đi. Khi rời đi còn bế theo con mèo. Đó là những con mèo may mắn. Số còn lại chúng vẫn ở trong quán và luẩn quẩn sân phía sau, sống bằng số thức ăn bà chủ còn để lại.
Cuối tuần, người chủ mới đến, một người đàn ông xăm trổ, luôn treo cái kính râm gọng vàng to bổ chảng trước mặt. Ông ta biến quán cà phê thành một điểm chơi bida. Lũ mèo bị ông tống ra đám đất trống sau quán. Những cánh cửa hậu phía sau, ông đóng sập xuống, bít luôn hết các khe hở để cách ly hoàn toàn với đám mèo.
Chúng trở thành lũ mèo hoang.
Tôi nghĩ Ngọc sẽ đón chúng về nhà. Trước đây, tôi thấy nàng gắn bó với một con mèo khoang và từng thổ lộ với chủ quán: “Giá em có chú mèo con dễ thương”. Nhưng qua mấy ngày, không thấy nàng mang con mèo nào về, cũng không thấy nàng nói gì về con mèo khoang dễ thương.
Tôi và Ngọc quen nhau cũng từ quán cà phê mèo, một quán cà phê mèo ở gần trường đại học. Lần gặp đầu tiên, tôi thấy nàng đứng trước quầy thu ngân, móc hết túi này đến túi khác cái áo khoác, điệu bộ lúng ta lúng túng, mới hỏi:
“Em có chuyện gì à?”
Mặt nàng đỏ lựng, lí nhí không nói ra lời. Cô thu ngân lên tiếng: “Em ấy lấy tiền mua thức ăn chiêu đãi lũ mèo, nay trả tiền cà phê tìm không ra tiền!” Tôi cười: “Thôi để chút nữa anh thanh toán luôn!” Nàng cảm ơn, cúi đầu chào, ra khỏi quán! Những lần sau, đến quán, tôi đều gặp nàng đang đùa chơi với lũ mèo. Nàng ôm ấp, vuốt ve, cưng nựng chúng. Những con mèo nhảy lên đùi nàng, bám cả lên cổ nàng, và lim dim mắt khi được nàng vuốt ve.
Tôi đã từng mơ mình là một chú mèo nhỏ trong tay nàng.
Lúc ấy, tôi đã nghĩ: Cô gái dịu dàng này có thể sống hạnh phúc, ấm áp với bất cứ ai yêu cô ấy!
Sau này, tôi hiểu mình đã nhầm.
*
Khi trở thành mèo hoang, lũ mèo bắt đầu tấn công các ngôi nhà xung quanh khu đất trống. Chúng vào bếp, bới rác, leo lên mái hiên, cào cửa sổ ban đêm. Tiếng kêu của chúng đổi khác. Không còn những âm thanh nũng nịu. Chỉ còn những tiếng kêu ré rắt, gắt gỏng, khàn đặc, khiêu khích.
Cả khu phố khốn khổ với đám mèo hoang.
Chúng vào nhà tôi. Qua cửa sổ bếp, qua cửa sau, qua những khe hở tôi chưa kịp trám. Chúng rất hỗn. Không dò dẫm, không e dè, ngang nhiên như chính chúng là chủ nhân và chúng tôi là hai kẻ ở tạm, xâm chiếm không gian của chúng. Chúng coi nhà tôi như tửu quán, thích kéo nhau đến, nằm ườn ra sàn, lối đi… Sau khi được tôi cho ăn no cẫng bụng với những gì tôi có, chúng bỏ đi.
Tôi bắt đầu e ngại chúng vào khoảng hai tháng sau. Khi chúng đã trở thành những con mèo hoang hung dữ, lông lá lờm xờm do không được chải chuốt, và miệng bốc mùi do ăn thịt chuột chết và những thức ăn hôi thối lục lọi ở các thùng rác. Tôi sợ chúng mang theo bệnh truyền nhiễm nên bít các khe hở vào nhà, và luôn đóng kín cửa sổ.
Gã hàng xóm gần nhà tôi hình như phát điên với lũ mèo. Nhiều lần đang đêm, tôi thấy gã cầm cây gậy gỗ, truy đuổi lũ mèo ra tận bãi đất trống.
Cả ông chủ quán bida cũng vậy! Hai tay ông hai cây gậy bida khua loạn xạ làm đám mèo bỏ chạy tung tóe.
Rồi bỗng nhiên, lũ mèo hoang thưa bớt dần.
*
Một hôm, gặp tôi ở chỗ rửa xe, gã hàng xóm bắt chuyện.
“Lũ mèo hoang có vào nhà anh không?”
Tôi bảo gã.
“Có. Nhưng dịp này không thấy!”
“Chúng gần tuyệt tự!”
Rồi gã quay qua tôi, hạ giọng xuống bí hiểm.
“Nhờ công tôi đó. Tôi đã hướng dẫn các nhà xung quanh bả chúng!”
“Bả chúng!”
“Chứ sao! Ông nghĩ tụi nó di cư đi nơi khác chắc!”
Gã nhổ bãi nước bọt xuống đất.
“Khiếp. Chúng đã biến nhà tôi thành khu trọ. Leo lên sinh con trên tủ sách. Quây tổ trong kho đồ cũ! Nếu cứ để thế chắc mấy tháng nữa, chúng chiếm luôn nhà ấy chứ!”
*
Đúng. Lũ mèo hoang tuyệt chủng.
Vẫn còn một con. Một con mèo đực. Trông nó như một bợm già. Thân hình nó to lớn nhưng gầy guộc, phủ lên bởi lớp lông xơ xác và một vết sứt sẹo nơi tai trái như dấu ấn của những trận chiến sinh tử. Khác với vẻ hoảng loạn của đám mèo nhát chết, ánh mắt nó lạnh lùng và tỉnh táo đến lạ kỳ; có lẽ chính sự ranh ma đã giúp nó thoát khỏi cạm bẫy tử thần. Thoát khỏi đám bả của hàng xóm khu phố.
Nó tiến vào sân sau nhà tôi, lặng lẽ lục tung thùng rác. Từng cử động của nó, từ cách chọn lọc thức ăn thừa đến dáng đi lầm lũi, đều toát ra sự tự tin tuyệt đối của một kẻ biết mình đang nắm giữ thế trận.
2.
Ông nội mất vào một buổi sáng tháng mười hai lạnh lẽo, khi những cơn mưa phùn miền Trung làm nhão nhoẹt những con đường đất ở Vinh. Cuộc gọi báo tin từ quê lên ngắn gọn và dứt khoát đến mức tàn nhẫn, như thể người báo tin đã phải lặp lại câu nói ấy quá nhiều lần cho những người thân ở xa, khiến cảm xúc cũng mòn vẹt đi.
Tôi về dự đám tang trong một trạng thái lửng lơ. Nghĩa trang ẩm ướt, huyệt mộ đào hôm qua đã ngập nước. Đám phu huyệt không sao có thể múc kiệt được nước ngầm đang dâng lên, cứ thế họ đặt quan tài ông chìm trong nước. Tôi lên tiếng nhắc nhở, nhưng họ cứ lờ đi cho xong việc. Những nắm cát thả xuống huyệt chìm ngay xuống nước. Tôi nhìn bà nội đứng lặng lẽ bên mộ, vận đồ đen, một thân hình nhỏ bé, lọt thỏm giữa đám đông con cháu. Cái chết của một người già trăm tuổi dường như là chuyện ra đi tất yếu bởi quy luật thời gian, không ai khóc, không ai bi lụy quá mức. Những đứa cháu nói chuyện như ngô rang với nhau ngay cả khi chúng thắp nén hương cuối cùng vĩnh biệt ông. Sự bình thản đó lại tạo ra một nỗi buồn mênh mông trong lòng tôi. Hình như, chỉ có bà nội rơi nước mắt trong đám tang hôm đó.
Sau đám tang, tôi đưa bà nội vào ở với mình. Suốt nhiều năm, ông bà sống tự lập trong căn hộ nhỏ gần ga tàu. Họ tự chăm sóc lẫn nhau. Tôi từng nghĩ ông bà sẽ qua Mỹ sống với chú Ba, đứa con còn lại duy nhất của ông bà. Nhưng rồi, chú Ba thuyết phục thế nào, bà cũng nhất quyết không đi. Bà bảo: “Đất lạ, người lạ, sống ở đó biết chuyện trò với ai.” Bà sợ sự cô đơn. Cô đơn không phải vì không có người bên cạnh mà vì người bên cạnh không thể chia sẻ những tâm sự. Bây giờ ông mất rồi, tôi không thể để bà lại một mình trong căn hộ ở gần ga tàu nữa. Ruột thịt gần gũi nhất với bà ở trong nước thực sự chỉ còn tôi.
Ngọc không vui, dù nàng cố che đậy bằng một vẻ mặt bình thản. “Sao anh không nói cho em biết?” - Ngọc hỏi khi tôi dọn dẹp căn phòng bên gian bếp ở lầu trệt cho bà. Giọng nàng không lớn nhưng dứt khoát, mang theo một sự oán trách ngầm: “Anh còn một người bà. Một người bà trăm tuổi!”
Tôi hiểu ý nàng. Ngọc không giận vì tôi giấu giếm, nàng giận vì tôi đã tước đi của nàng quyền được từ chối. Nếu biết phải sống chung với một cụ già 102 tuổi, có lẽ nàng đã cân nhắc lại khi quyết định cuộc hôn nhân này. “Anh thực sự cũng không lường được,” tôi phân trần, “năm năm trước, ông bà có kế hoạch qua Mỹ sống với chú Ba, rồi bỗng nhiên bà đổi ý.” “Em chưa bao giờ sống với người già.” Ngọc quay đi, tránh ánh mắt tôi - “Chăm sóc lại càng không. Rồi thế nào cũng có chuyện cho xem!”
Bà nội bước vào nhà tôi vào một buổi trưa nắng cháy. Bà mang theo tất cả gia tài gom góp hơn thế kỷ: một cái vali cũ sờn, một túi vải bạc màu và một bọc nilon đựng những thứ lặt vặt mà bà coi là báu vật. Tôi khênh cái vali, người tài xế grab khuân giùm túi vải bạc màu, còn bọc nilon bà giữ khư khư trước ngực. Bà bước theo sau tôi, quan sát nội thất căn nhà phố bằng ánh mắt dò xét, như một người lữ hành lạc bước vào một hành tinh khác lạ. Một nơi không có bóng dáng gì về ký ức của bà.
Ở với chúng tôi được vài ngày, bà gọi tôi lại.
“Có một con mèo hoang!” - Bà nói.
“Đêm đêm, nó vào sau nhà, bới tung cái giỏ rác. Sáng nào bà cũng phải gom lại.”
Giọng bà đều đều, chỉ như truyền đạt một thông tin mà bà nghĩ tôi chưa biết.
“Vâng. Con mèo hoang ở bãi đất sau nhà. Nó lục rác kiếm chút thức ăn thừa!”
Một đêm, vợ tôi đi dự sinh nhật về muộn. Nàng kéo tôi dậy, giọng thì thầm bực bội:
“Em suýt đứng tim mà chết.”
“Gì vậy?”
“Bà nội…”.
“Sao?”
“Em vừa đi đến cửa sau để vào nhà, thấy một đống lùm xùm núp gần giỏ rác. Hóa ra là bà nội. Bà trùm chăn, rình đánh con mèo hoang!”
Tôi chạy xuống. Dưới ánh đèn vàng mờ, đúng là một đống chăn lùm xùm gần cạnh giỏ rác. Một cây gậy gỗ chìa ra, ở tư thế có thể bổ xuống bất cứ lúc nào.
“Bà, bà làm gì đấy?” - Tôi hỏi.
“Làm gì nữa!” - Bà đáp, giọng bực bội - “Vợ mày mới tra khảo tao. Tao tường trình hết rồi: rình mèo.”
“Bà định đánh chết nó à?”
“Đâu có giết.” - Bà nói - “Dọa nó thôi. Cho nó một gậy, nó sợ, nó không vào nhà mình nữa.”
Ngọc đứng sau lưng tôi, mặt tái đi. Nàng nhìn bà nội tôi như nhìn một sinh vật lạ.
Ít hôm sau, lại có chuyện.
Vợ tôi đi đám cưới bạn về muộn. Vừa bước vào phòng, nàng ném cái túi xuống ghế, rên rỉ:
“Thế này có hôm em bị đánh chết, chứ không phải con mèo hoang.”
“Sao?”
“Sao với trăng. Bà nội anh vừa phang vào em. Bà canh mèo, ngủ gật, nghe tiếng động là phang gậy xuống. May em né kịp!”
Trời! Thế này thì có ngày thành chuyện thật.
Bà nội nhận lỗi. Bà nói do buồn ngủ. Giọng bà buồn buồn, mắt bà thiếu ngủ, mỏi mệt.
“Thôi bà đừng canh mèo nữa!” - Tôi nói - “Để cháu mua ít bả giết nó!”
Tôi nói vậy, nhưng tôi biết con mèo hoang sứt tai khôn. Nó sẽ không bao giờ đụng vào bả.
“Đừng!” - Bà phản đối ngay - “Đừng giết nó. Chỉ cần đánh nó một đòn đau là được. Từ nay ngày bà ngủ, đêm bà canh. Không có chuyện ngủ gật đánh nhầm vợ mày nữa!”
Từ đó, bà thay đổi sinh hoạt. Ban ngày, sau bữa trưa, bà đóng kín cửa phòng, ngủ. Đêm xuống, tôi thấy bà lại trùm chăn tùm hùm, ngồi gần giỏ rác. Bóng bà thấp, cong xuống, bất động, cây gậy gỗ giơ cao, như một cái bẫy sẵn sàng sập xuống.
Ngọc nhìn cảnh ấy với vẻ sợ hãi không che giấu.
Một buổi sáng, tôi đi xuống lầu trệt để đến cơ quan, đã thấy bà đứng đợi ngay bên chân cầu thang, mắt sáng bừng:
“Tối qua, bà cho con mèo hoang một gậy!”
Tôi vỗ tay:
“Hoan hô bà! Thế là bà dạy cho nó một bài rồi.”
Bà vẫn chưa hết phấn khích, giữ tôi lại kể về chiến công tối qua.
“Nó mò vào. Vật cái thùng rác xuống. Bà quật một cú!”
“Tối nay bà ngủ ngon nhé! Mèo hoang cạch nhà mình rồi!”
Bà chỉ ngủ ngon được hai đêm.
Sáng ngày thứ ba, cái thùng rác bị lật tung. Không những vậy, con mèo hoang hình như cố trêu tức bà. Nó kéo rác ra khắp sân sau và lối đi bên hông…
Bà đứng nhìn bãi rác, quay lại phân trần với tôi:
“Có lẽ nó quay mình nhanh quá, cái gậy bà vụt chỉ trúng đuôi nó. Chà, con mèo hoang này quá quắt lắm rồi. Nó không coi bà già này ra gì!”
Bà hỏi tôi:
“Cháu có cưa không? Có mấy thanh gỗ không?”
Tôi kéo bà tới mở cái kho nhỏ dưới gầm cầu thang, chỉ cho bà: cháu có đủ cưa, đục, máy khoan… cho bà làm nghề thợ mộc, thợ ống nước, thợ điện… Có cả mấy thanh gỗ, tre ở đây… Bà tính làm gì?”
“Tao sẽ làm một cái bẫy, bẫy mèo.”
“Bà tính bắt nó?”
“Bắt dạy cho nó mấy roi rồi thả!”
Buổi chiều tôi đang họp giao ban, điện thoại rung liên hồi. Ngọc gọi:
“Anh về nhà mà xem. Bà anh biến nhà chúng ta thành xưởng mộc!”
“Bà làm cái bẫy mèo thôi. Để bà làm cho có việc, bà cứ ngồi xem TV mãi cũng không tốt!”
“Thôi kệ bà con anh. Nhà thành bãi rác!”
Khi tôi về bà đã làm xong cái bẫy mèo theo thiết kế kiểu bẫy chuột. Bà dùng ngay cái lò xo từ bẫy chuột cũ bà tìm thấy trong kho. Bà ngồi bên cái bẫy mèo nét mặt già nua giãn ra hớn hở như đứa trẻ có trò chơi mới:
“Lần này, nó chết với bà!”
Con mèo không chết vì cái bẫy của bà. Nó phá tung luôn cái bẫy. Không những thế tha luôn cái chân gà chiên bơ thơm phức của bà đi!
Tôi chia buồn với bà:
“Phí quá! Nó đói rạc, bà đâu cần dụ nó bằng cái đùi gà!”
“Cái đùi gà vợ mày tống vào thùng rác. Tao nhặt lên chiên bơ… phí chút bơ thôi…”.
*
Tôi thấy mình cần phải ra tay giúp bà. Tôi ra chợ mua một cái bẫy lưới giăng quanh giỏ rác. Chỉ cần con mèo động vào giỏ rác, giật dây, cái lưới sẽ chụp xuống con mèo. Nó hết đường chạy thoát.
Tôi sợ bà sẽ gục vì ngồi canh bẫy mèo, nên tôi quyết định sẽ tự mình thức bắt bằng được con mèo hoang để bà quất ít roi dạy nó không vào nhà tôi nữa.
Tôi thức được ba đêm thì gục. Tôi ngủ ngay trong giờ giao ban, bị chính tay tổng giám đốc bước đến sau lưng nhắc nhở. Nếu cứ canh mèo không khéo tôi bị công ty săn lỗi mà mất việc. Ông tổng giám đốc hãnh tiến chẳng ưa gì tôi, ông ta đang chờ cơ hội bứng tôi khỏi cái ghế trưởng phòng đầu tư.
Hơn nữa, khi tôi thức canh bẫy mèo, bà nội cũng đâu có chịu đi ngủ, bà cứ luẩn quẩn bên tôi…
Các đêm sau, tôi ngủ. Bà nội lại canh bẫy mèo hoang.
*
Vụ cháy xảy ra vào buổi chiều.
Tôi ngửi thấy mùi khét, chạy xuống thì thấy phòng bà mờ khói. Bà quên tắt máy sấy tóc, lại chúc đầu nó vào đám mền. Tôi giật cái máy khỏi ổ điện, xốc bà kéo ra ngoài phòng, chộp lấy bình chữa cháy lao vào phòng dập lửa. Phòng bà tan hoang. Mền cháy, đệm sém mất một mảng lớn nhưng vẫn còn dùng được.
“Nếu cứ thế này,” Ngọc nói, “có ngày bà sẽ đốt luôn nhà mình.”
Nàng nhắc lại câu đó nhiều lần. Như một lời kết luận đã được suy nghĩ kỹ.
Tôi hiểu: phải chấm dứt vụ săn mèo hoang của bà.
Không thể vì con mèo mà cái gia đình này trôi về đâu đó…
Mọi thứ hình như đang dần dần lệch khỏi trật tự vốn có của đời sống gia đình, của tôi và Ngọc…
3.
Tôi hỏi thăm nhiều nơi cách bắt mèo hoang.
Có người chỉ tôi đến chỗ bọn bán cao mèo.
Tôi ngạc nhiên: “Có bọn bán cao mèo à?” Họ cười vào sự ngây ngô của tôi: “Không có cao mèo. Có cao tiểu hổ. Không khéo nhà ông đã từng bị bọn nó lừa bán cho cao hổ, nấu từ xương tiểu hổ!”
Tôi ngơ ngác:
“Sao phải tìm bọn đó. Tôi có mua cao mèo đâu?”
“Nhưng bọn nấu cao tiểu hổ đó rất giỏi bắt mèo hoang!”
Không ai chỉ thẳng chỗ bán cao mèo. Người ta chỉ lòng vòng, bằng những câu bỏ lửng, như thể chỉ cần nhắc đến mèo hoang là đã đủ xui xẻo. Cuối cùng, tôi cũng tìm đến được chỗ bọn họ. Một căn nhà cấp bốn dựng tạm, chính xác hơn chỉ là mấy túp lều tôn nối nhau sâu hun hút, chỗ bán cao mèo tối om. Gã đàn ông râu ria xồm xoàm ló cái đầu ra khỏi căn phòng ẩm thấp, bốc mùi mèo chết, hỏi tôi:
“Mua mấy lạng?”
“A, tôi… tôi… không mua cao mèo. Tôi nhờ bắt một con mèo hoang?”
“Bắt mèo hả? Ở đâu?”
Tôi nói địa chỉ. Người đàn ông tìm mảnh giấy, tìm bút, ghi, rồi bảo tôi:
“Được rồi! Chúng tôi sẽ bắt!”
“Bao nhiêu tiền tôi gửi?”
“Chúng tôi xưa nay không lấy tiền. Bắt được mèo thì lấy mèo thôi!”
Tôi hiểu ra vấn đề.
“Tôi bắt để nuôi!” - Tôi nói.
Người đàn ông nhìn tôi hơi khó chịu.
“Ai đi nuôi mèo hoang ông! Nuôi mèo hoang không được đâu. Muốn nuôi thì nên mua mèo con ngoài chợ ấy.”
“Con mèo này trước đây là mèo nhà của tôi!” - Tôi bịa - “Bị sổng ra. Giờ tôi muốn bắt lại.”
Một người đàn ông khác xuất hiện. Họ thì thầm trao đổi với nhau. Họ tính toán. Cuối cùng, họ đưa ra một con số. Họ quy đổi thẳng từ lượng cao mèo có thể nấu được từ con mèo. Tôi gật đầu.
Tôi dặn họ một điều duy nhất: việc bắt mèo phải kín đáo. Không để người nhà tôi biết.
Buổi chiều hôm sau, điện thoại tôi reo.
“Mèo của anh bắt được rồi!” - Giọng bên kia nói: “Chúng tôi lỗ to. Con mèo này to gần bằng con hổ.”
Tôi đến nơi. Con mèo bị nhốt trong cũi sắt. Nó to hơn tôi tưởng. Cái lưng dài phải cuộn tròn lại vì cũi ngắn hơn. Nó không kêu. Chỉ nhìn tôi. Đôi mắt nó đỏ, có vằn, như mắt hổ.
Tôi trả tiền. Kéo cái cũi ra xe. Không ai chào ai.
*
Tôi lái xe đi mấy chục cây số. Dừng lại ở một khu nhà hoang, cách khu chợ lề đường chỉ vài dãy nhà. Tôi nghĩ: ở đây nó sẽ kiếm được đồ ăn thừa. Tôi lấy mấy gói thức ăn mèo khô đã mua sẵn, đặt cạnh cũi. Mở cửa sắt.
Con mèo không lao ra ngay. Nó đứng yên, mũi khẽ động đậy cảnh giác. Rồi nó bước ra, chậm rãi, thè lưỡi liếm thức ăn. Rồi ăn, mắt vẫn không ngừng canh tôi xem có động thái gì nguy hiểm với nó không.
Tôi bỏ đi.
Trong suốt quãng đường về, tôi vẫn lo lắng, con mèo hoang sẽ nhớ đường, tìm về chỗ cũ, nó sẽ quay lại khu tôi ở.
Mấy ngày sau, hoàn toàn không còn thấy bóng dáng của nó.
Hình như mèo không có khả năng tìm đường, nhớ đường như loài chó. Hoặc nếu có, chắc gì nó còn muốn quay về.
*
Vài ngày sau, trong bữa ăn, tôi nói với bà nội:
“Bà đừng săn mèo nữa. Con mèo hoang ấy chết rồi.”
Bà dừng đũa. Nhìn tôi.
“Sao chết?”
“Nó bị xe cán ở phố bên. Con tình cờ thấy.”
“Đó có thể là con khác!”
“Đúng nó!” - Tôi nói - “Một cái tai bị sứt.”
Bà buông bát.
“Tội nghiệp nó!”
Tôi không biết bà thương con mèo hay buồn vì cuộc săn mèo đã chấm dứt.
*
Vợ tôi bắt đầu cáu gắt.
“Bà dạo này cứ như bị mộng du!” - Nàng nói - “Đêm đêm lang thang khắp nhà.”
“Tại bà quen thức đêm canh mèo.” - Tôi đáp - “Giờ không còn mèo nữa.”
Có đêm, Ngọc lay tôi dậy.
“Bà kìa!”
Tôi mở mắt. Một người đàn bà lưng còng, tóc rũ, đi ngang qua phòng ngủ vợ chồng tôi. Bà vào phòng làm việc của tôi, đứng đó một lúc rồi đi ra. Bóng bà trôi qua hành lang đen thẫm…
“Nhà này giống như có ma!” - Ngọc thì thầm - “Em không chịu nổi nữa!”
Tôi thấy mình đã sai khi bắt con mèo đi. Tôi đã lấy mất thứ cuối cùng giữ bà lại ở vị trí bên giỏ rác ở lầu trệt mỗi đêm.
Tôi tìm lại bọn bắt mèo.
Họ tỏ vẻ thờ ơ và khó chịu vì việc tôi không giữ lại con mèo để nuôi mà mang đi thả.
Gã rậm râu, sâu mắt chửi tục: “Mẹ, làm mất của chúng tôi ba lượng cao!”
Tôi tìm chỗ bán cao mèo khác, ra giá gấp hai, cho họ địa chỉ chỗ tôi thả mèo. Họ bảo: “Về đi. Bắt được sẽ gọi!”
Tôi chờ. Không thấy họ gọi lại.
Con mèo hoang đã biến mất khỏi cả những kẻ săn mèo chuyên nghiệp.
Bà nội vẫn ngủ ngày. Đêm, bà đi dọc hành lang, dừng lại ở chỗ giỏ rác cũ, đứng đó rất lâu. Có đêm, tôi nghe tiếng gậy gỗ chạm nhẹ xuống nền xi măng, rồi im bặt.
Trong nhà không còn tiếng động lạ. Không có tiếng lục rác, không có tiếng kêu khàn đặc ngoài bếp. Chỉ còn tiếng bà đi lại, chậm và đều, như đang dò tìm một thứ đã mất.
Sáng sáng, cái giỏ rác không bị xô lệch khỏi góc tường. Rác không đổ ra ngoài. Không có dấu chân.
*
Ngọc chặn tôi lại ở cầu thang khi tôi từ phòng bà đi lên.
Nàng đứng lệch sang một bên, tay vịn lan can, thở gấp. Mặt nàng đỏ, không rõ vì mệt hay vì giận.
“Anh dừng lại,” nàng nói.
Tôi dừng. Trong tay nàng là điện thoại của tôi. Màn hình sáng. Tôi nhận ra ngay những đoạn tin nhắn chưa xóa.
Mắt nàng lướt rất nhanh, rồi dừng lại. Ngón tay nàng chỉ vào dòng tin nhắn trên điện thoại.
“Hóa ra anh gọi bọn này! Hóa ra anh là kẻ giết mèo!”
Tôi đứng yên. Câu nói ấy rơi xuống giữa chúng tôi như một dấu chấm thảm họa.
“Sao em nói vậy?”
“Anh đừng vờ vịt nữa,” nàng nói nhanh, dồn dập “anh liên hệ với bọn bắt mèo nấu cao.”
Tôi không phủ nhận:
“Đúng. Anh gọi họ bắt mèo. Nhưng bắt để thả đi nơi khác. Anh đâu có giết nó!”
“Không giết. Tôi còn nghi anh bày cho mấy nhà hàng xóm bả mèo. Bây giờ tôi đã hiểu vì sao đám mèo hoang biến mất!”
Rồi nàng nói tiếp, dứt khoát:
“Em về bên chị em ít ngày!”
Hôm sau, tôi đi làm về. Trên bàn là lá đơn ly hôn. Trong nhà không còn vali, không còn quần áo của Ngọc. Mọi thứ của nàng đã được dọn sạch, gọn gàng đến mức tôi hiểu: nàng đã chuẩn bị từ trước, không phải trong cơn nóng giận.
Tôi biết, con mèo chỉ là cái cớ để nàng chia tay. Chúng tôi đã ở với nhau năm năm không có con. Và, thực sự cả hai đang bế tắc. Hình như từ lâu, chúng tôi đã ngừng nói chuyện với nhau. Tôi nghĩ nàng đã có ai đó… Con mèo, tình yêu động vật, chỉ là cái cớ để nàng rời đi và lỗi thuộc về tôi…
Căn nhà trở nên trống trải. Thiếu thứ âm thanh quen thuộc: tiếng bước chân nhẹ nhàng như mèo, tiếng đóng mở cửa không dứt khoát, tiếng phàn nàn gắt gỏng của Ngọc.
*
Bà nội vẫn ngủ ngày, đêm lang thang như mộng du.
Tôi nghe tiếng bà đi qua hành lang, dừng lại trước cửa phòng tôi, rồi đứng đó rất lâu. Có đêm, bà ngồi xuống sàn, dựa lưng vào tường, ngồi nhìn tôi ngủ.
Tôi đề nghị với bà:
“Hai bà cháu mình về quê chơi ít ngày nhé?”
Bà nhìn tôi suy nghĩ rồi gật đầu. Tôi không biết bà có hiểu hết ý tôi không. Nhưng tôi cần thay đổi không khí. Tôi hy vọng bà sẽ quay lại nếp sinh hoạt cũ. Hoặc ít nhất, tìm lại được một điều gì đó để bám víu.
Ở quê, tôi dẫn bà đi thăm những nhà có người lớn tuổi. Tôi nghĩ bà cần người trò chuyện. Bà có dịp trở về với ký ức, kỷ niệm…
Nhưng chỉ được vài ngày, bà bảo tôi đừng dẫn bà đi gặp người bà con nữa.
“Họ đâu có biết gì về bà!” - Bà nói.
Tôi không hiểu.
“Mấy cụ cháu dẫn ta đến, nhiều lắm chỉ tám mươi, chín mươi. Khi ta đi khỏi làng, họ còn chưa sinh. Còn đám nhỏ hơn, ta chẳng biết nói chuyện gì với chúng.”
“Họ vẫn biết một số người sống cùng thời với bà mà!” - Tôi nói.
“Cũng chẳng biết gì nhiều,” bà đáp, “mà đám bạn ta sao chết sớm vậy không biết.”
Bà im lặng một lúc, rồi nói tiếp, như nói với chính mình:
“Con người sống trăm tuổi là quá lắm rồi. Không nên sống quá lâu!”
Tôi không đáp. Tôi hiểu nỗi buồn của bà. Nỗi buồn của một người không còn ai cùng thế hệ để chia sẻ ký ức. Tôi nhớ ra: bà đã một trăm lẻ hai tuổi từ đầu năm nay.
Chúng tôi quay về thành phố. Căn nhà vẫn trống. Sự vắng mặt của Ngọc không tạo ra một khoảng trống rõ ràng… Tôi thấy mình mất phương hướng. Căn nhà nơi tôi trú ngụ đang lơ lửng trôi đi…
*
Bà mất không lâu sau đó.
Ngủ và không thức dậy. Ngủ luôn giấc ngủ ngàn năm của bà.
Ngày an táng, tôi đứng bên mộ, nhìn đất lấp xuống, chậm rãi, từng xẻng một. Tôi nghĩ: có lẽ bà chưa ra đi nếu con mèo hoang vẫn còn.
Đó là cuộc chiến cuối cùng của đời bà. Một cuộc chiến không cần chiến thắng. Chỉ cần có đối thủ.
Khi trở về nhà, tôi nghe thấy một tiếng động rất nhẹ ở sau bếp. Tôi quay lại. Không có gì. Chỉ là cái giỏ rác bị gió xô lệch một chút.
Tôi đứng yên rất lâu. Rồi tôi chợt hiểu, có những con mèo không bao giờ biến mất hoàn toàn. Chúng chỉ rút lui khỏi tầm mắt con người, để lại sau lưng một khoảng trống đủ lớn cùng trú ngụ với con người…
Đ.C.N
(TCSH447/05-2026)