Truyện ngắn
Mộ tổ
08:54 | 05/06/2026

LÊ THANH HUỆ
     Truyện ngắn dự thi

Từ thuở còn thơ bé, Hoài đã được nghe nhiều truyền thuyết về cụ tổ dòng họ mình. Nào là chính ông Tổ đã bỏ tiền đào con kinh qua làng và nó mang tên ông: kinh Thông Phán.

Mộ tổ
Minh họa: Phạm Đại

Ngày khai dòng đưa nước sông Vàm Cỏ chảy vào kinh, ông Tổ mua một tên mọi, mổ bụng nhét đầy vàng bạc, ném xuống kinh cúng Hà Bá. Là người giàu nhất xứ Đồng Nai thời đó, vậy mà lúc chết, không có đầu. Hình như có một cái đầu bằng sáp, còn đầu thật được chôn đâu đó xa lắc xa lơ, tận ngoài xứ Huế. Bốn tên mọi ngậm sâm được chôn theo cụ Tổ đặng giữ của và hầu hạ cụ... Công lao không thấy nói đến. Tấm bia đá lớn, dựng đầu mộ Tổ rêu phong bám đầy. Trên bia, những dòng chữ ngoằn ngoèo, không phải chữ Hán, cũng không phải chữ Nôm được khắc dưới chân dung cụ Tổ. Cả ấp không ai đọc được, người ở mấy ấp xung quanh có tiếng học cao biết rộng cũng không hiểu những thông tin chứa đựng trên đó. Hoài có hỏi ông Nội, Nội nói: "Sinh thời, cụ Tổ giàu có nhất Gia Định thành, khí khái, hay giúp người nghèo, kẻ khó và ưa giỡn". Vậy thôi, không muốn kể thêm nữa.

Mộ Tổ hình con thuyền, xây bằng đá xanh. Gần 200 năm nó đứng đó, ghếch mũi muốn vượt biển lúa trước mặt ra với con kinh. Nhưng nó bị ba hồ sen bán nguyệt vây quanh và chiếc bia lớn cản mũi. Trên con thuyền lớn đó có một ngôi nhà nhỏ cũng bằng đá, được xây cất, đẽo gọt, chạm trổ công phu, tinh xảo giống hệt ngôi đình thu nhỏ. Rêu phong bám đầy. Mùa mưa, thè lưỡi liếm vào mạch vữa xây còn thấy vị ngọt mật mía tứa ra. Căn nhà đá có một cánh cửa bằng đồng luôn luôn đóng kín, chận bước chân Hoài và bao người khác để giữ trọn bí mật trong lòng nó; làm nền cho bao truyền thuyết đứng vững gần 200 năm qua. Từ bé, Hoài luôn ước mong được bước qua cánh cửa bằng đồng đó đặng thỏa trí tò mò. Nhưng mãi đến hôm nay (khi Hoài được nhận tấm bằng luật sư còn mới, như cuộc đời còn quá trẻ so với danh hiệu được mang), anh mới tình cờ biết được nơi ông nội giấu chiếc chìa khóa bằng đồng, lớn, cổ lỗ. Chiếc chìa khóa khiến Hoài nhớ đến mộ Tổ và anh quyết định đánh cắp nó tra vào lỗ khóa. Hoài ra sức xoay. Xoảng một tiếng, Hoài giật bắn người, cánh cửa nặng nề mở ra. Hoài hấp tấp bước qua cửa. Ánh sáng lùa vào mờ mờ đủ thấy một bàn thờ và hai khối vuông vuông. Bấm đèn pin, Hoài nhận ra hai cỗ quan tài, gỗ đã lên nước, lăn răn vài vết nứt. Thoang thoảng mùi trầm thoát ra từ thớ gỗ. Hoài quét đèn pin lướt qua những phiến đá xanh chạm trổ tinh xảo dùng xây tường. Anh bỗng gặp một cánh cửa khác cũng bằng đồng. Hoài tra chìa khóa vào lỗ, ra sức xoay, cánh cửa lặng im, không nhúc nhích. Không rõ vì lẽ gì, anh nhớ đến chỗ cất chìa khóa của ông Nội. Hoài rút chìa khóa, đến bên bàn thờ, nhấc bát nhang. Dưới đó, một viên đá ghép rất khít, chỉ bị mẻ một góc nhỏ vừa lọt chiếc chìa khóa Hoài cầm trong tay. Đút chìa khóa vào, quay nửa vòng, tách một tiếng. Hoài rút chìa khóa, miếng gỗ y hệt viên đá bật lên để lộ chiếc chìa khóa bằng đồng đen. Hoài run run cầm lấy nó mở cửa, lần theo những bậc thang đá đi sâu vào lòng con thuyền. Chưa hết các bậc thang, Hoài vấp phải một vật gì. Anh lia đèn pin và nhận ra bộ xương người đang rũ xuống trong tư thế ngồi. Hoài luýnh quýnh. Đáng lẽ phải chạy ngược trở lại phía lối vào, anh lại rẽ vào một lối khác giống hệt; và càng chạy, Hoài càng mất lối. Biết mình đã lạc vào mê cung không lối thoát, Hoài càng trở nên bấn loạn. Anh bắt gặp một bộ xương khác nằm ngay ngắn và đôi tay đưa lên như đang tìm cái đầu. Những viên ngọc rải xung quanh bộ xương, cẩn trên tường, trên trần bắt lấy ánh sáng đèn pin, ánh lên muôn vàn sắc màu lung linh tựa bầu trời sao qua một lăng kính bằng kim cương cỡ lớn. Mắt Hoài dán vào chiếc đầu. Nó không phải là đầu lâu mà còn nguyên vẹn, trắng bệch như được nặn bằng sáp và đang thiu thiu giấc ngủ ngàn thu. Tức thở, Hoài quỵ xuống, anh mê đi...

- Đừng sợ! Con hãy đứng lên đi! - Giọng nói đầy quyền uy đủ sức nâng Hoài đứng dậy. Trước mắt anh, một người tầm thước trung bình, áo dài, khăn đóng, đầu trắng bệch, đôi mắt thiu thiu ngủ. Khi nói và lúc nhìn anh, môi người đó vẫn mím chặt, mắt vẫn nhắm, cả cái đầu không mảy may cử động. Người đó nói và nhìn bằng tâm linh...

- Ai?... Ai?... - Hoài líu lưỡi, hỏi.

- Ai đã vào đây, người đó vĩnh viễn không ra được. Nhưng con là cháu của ta, cháu 15 đời của ta, ta đã đưa đường dẫn lối con vào đây, ta sẽ đưa con ra được vì ta là ông Tổ của con!

Người đàn ông đặt bàn tay lên vai Hoài. Bàn tay lạnh buốt đó lại khiến Hoài vững tâm. Anh đưa mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt bất động và thấy quen quen. Đó chính là khuôn mặt bằng sáp, giống hệt chân dung cụ Tổ khắc trên bia đá.

- Ta đã mất 190 năm chờ đợi con. Ta cần đến con. Trước tiên, con hãy nhìn xem: đây là giang sơn của ta, quê hương của con đó.

Hoài nhìn theo tay của ông Tổ. Trước mắt anh, con kinh mới đào, vài chục mái nhà lá đơn sơ bao quanh một dinh thự kiểu cổ giữa cánh đồng. Xa xa, rừng tràm xanh ngút ngàn kéo đến tận con sông xanh uốn khúc và trải ra tận chân trời.

- Nơi đây còn hoang sơ lắm - Hoài cãi - Quê hương con có đường ô tô, nhà xây mái ngói, trường học, bệnh viện...

- Đúng! - Ông Tổ nói, khuôn mặt vẫn bất động - Đó chính là hình ảnh về sau, tức là thời của con. Còn cái con đang nhìn thấy là thời xưa của con, tức là thời của ta đấy. Chính ông Tổ của ta đã đến đây khai khẩn và đến thời của ta, ta đã làm nên cơ nghiệp mà con đang nhìn thấy trước mắt con. Thời của ta là thời ly loạn. Tây Sơn đuổi Nguyễn Phúc Ánh vào tận đây. Chính ta, ta không thích tước vị, như ông Tổ của ta đã từng ghét tước vị, ghét sự bất công, ưa sống tự do nên phải vượt biển vào đây. Nhưng hồi đó, vì thấy Ánh khốn đốn; đám thủ hạ của Ánh nhếch nhác, hoảng sợ, đói kém nên ta thương tình, cưu mang. Sau lại thấy Ánh cũng là người đàng hoàng, có chí lớn, quý tự do, tình thiệt như ta nên ta coi Ánh như người anh em ruột thịt mà hết lòng giúp đỡ. Ánh chỉ đáng tuổi em ta, nhưng ta không cậy là chủ để xử bề trên với Ánh, đủ biết ta thương yêu Ánh biết nhường nào, như người anh em ruột thịt. Giờ ta hỏi con: ta có oai nghiêm không? Có thể làm vua được không?

- Thưa cụ Tổ! Con chưa hề thấy vua nên... không biết...

- Hà... hà... hà... - Cụ Tổ cười, khuôn mặt vẫn bất động. Nhưng lạ thay, Hoài không sợ, không cảm thấy lạ lùng mà như đó là điều tự nhiên vậy. Cụ Tổ thôi cười, nói:

- Vua cũng như ta thôi, còn kém ta nữa là đằng khác. Nhiều lúc còn biết sợ hãi, hận thù, đói kém, xanh xao và cần đến sự rộng rãi của ta. Người như thế mà còn làm vua được thì ta đây, sao không thể làm vua được... Mà thôi, đó là thời Ánh chưa giành được ngôi báu. Giờ ta sẽ chỉ cho con thấy vua thật như thế nào.

- Đây là đâu, trông giống Đại Nội quá.

- Kinh đô Huế đó - ông Tổ thì thào bên tai.

- Con đã đến đó rồi. Nó đổ nát, hoang tàn, đâu còn cảnh lầu son, gác tía, lộng lẫy, huy hoàng như ở đây.

- Đó là thời của con, kinh đô già nua, thiếu tiền, thiếu tay thợ giỏi sửa chữa. Còn đây mới chính là nó ở vào thời của ta, thời vua Gia Long trị vì. Thời của ta, ta cũng được làm vua đó con ạ.

- Ông Tổ được làm vua? - Hoài nghi ngờ hỏi.

- Phải! nhưng là vua trong một khắc. Con hãy nhìn lên: đây là sân rồng, trên kia là điện Thái Hòa. Đang buổi thiết triều đó. Thân thể Hoài nhẹ bổng. Anh đang từ chín tầng mây bay lướt đi. Dưới anh là những con sông rộng, những thửa ruộng lác đác vài ngôi nhà, những tháp Chàm vẫn còn nguyên vẹn vàng rực trong nắng. Anh bay đến một con sông rộng, một kinh đô diễm lệ, tấp nập người, xe, trên bến dưới thuyền san sát. Loáng một cái, Hoài bay qua một chiếc cầu, qua một cái cổng thành có ba cửa giống hệt cổng Ngọ Môn, đáp xuống một sân rộng, trông lên giống điện Thái Hòa. Thoắt một cái, Hoài đã thấy vua ngự trên ngai vàng. Dưới sân, hai hàng bá quan văn võ cúi rạp. Không thấy các quan đeo gươm nên Hoài phải nhìn mặt từng quan mà đoán. Bên tả, các quan có khuôn mặt oai nghiêm, chắc là quan võ. Bên hữu, các quan có khuôn mặt hiền từ, hẳn là quan văn. Và kìa, có cả cụ Tổ đang lóng ngóng, hình như không biết cách thi lễ nơi cung đình. Hoài ngoái lại vẫn thấy cụ Tổ ở cạnh anh có cái đầu bằng sáp, còn trên kia là cụ Tổ có khuôn mặt thật. Đang băn khoăn, Hoài nghe giọng nói oai nghiêm vang dội sân chầu:

- Truyền cho khanh được đứng dậy và lại gần Trẫm!

Cụ Tổ đứng dậy, thẳng lưng bước tới. Các quan xanh mắt. Nơi vua ngự, chẳng ai có quyền đi như vậy trừ Thái Thượng Hoàng và Hoàng Thái Hậu.

Cụ Tổ thì thào vào tai Hoài:

- Đó chính là ta của thời ta đó. Con hãy lắng nghe ta nói.

- Qua... À... À...

- Chớ có nói càn - Quan thượng thư bộ lễ nghiêm trang nhắc bằng giọng nhỏ nhưng rất rõ và rất vang - Hãy nói: Muôn tâu bệ hạ và xưng là thần!

Ông Tổ lặp lại:

- Muôn tâu bệ hạ! Qua...

- Hạ thần! - Quan Thượng thư cau mày nhắc.

- Muôn tâu bệ hạ! Hạ thần... như bệ hạ biết rồi đó: Hạ thần giàu có, chẳng có thứ gì trên đời mà chưa được nếm thử... - Một nét cười thoáng qua mặt ông Tổ - Giờ đây hạ thần chỉ muốn được ngồi lên... ngai vàng, làm vua một khắc, dẫu có chết cũng vui lòng!

Cụ Tổ dưới này thì thầm vào tai Hoài: “Ta quên nói cho con biết, ta được vua Gia Long vời ra kinh đô để thưởng công. Nói cho đúng là để trả ơn. Ta đây đã giúp đỡ biết bao người đâu phải vì muốn được trả công. Lần trước, vua cho người đến phong tước cho ta nhưng ta không nhận. Lần này vua mời, lẽ nào ta lại chối từ tấm thịnh tình của nhà vua. Ta lặn lội ra đây không phải xin điều gì mà cốt đến thăm người anh em ruột thịt của ta. Ta cần Ánh đối đãi đàng hoàng với ta, cũng như ta đã từng hết lòng với Ánh mà chẳng hề cậy thế chủ để xử bề trên với Ánh. Ra đến kinh đô, ta phiền lòng quá. Kinh đô vui vầy nhưng không thoải mái như ở quê ta. Triều đình thật lắm luật lệ phiền phức. Đi đứng phải khom mình, chỗ để quỳ gối cũng được phân chia theo ngôi thứ, như là một đặc ân vậy. Ta bỏ ra về, quan lại không cho về, lại nói nếu ta tự ý bỏ về, coi như phạm tội khi quân, chém đầu. Hóa ra trong cả lúc ta được vua vời ra thăm, ta cũng bị mất tự do. Sáng nay vua ban cho ta một chén rượu và cho người mang đến. Rượu ngon, uống một chén không đã. Không lẽ ta đòi chén nữa. Ta sẵn tiền, ta ra chợ uống cho đã. Ta vào chầu có chút chuếnh choáng hơi men nhưng ta không say. Ta nhìn các quan khom lưng, quỳ gối, rón rén như người có tội mà suýt bật cười. Sao không về quê cày ruộng, sống tự do có sướng hơn không. Ta nhìn vào mặt vua, thấy rõ sự xa cách, mà lòng đầy bực bội. Ngay lúc đó ta sực nhớ tới ngày ta sửa soạn ra kinh đô, có người thách ta ngồi lên ngai vàng, làm vua một khắc. Lúc đó ta chú ý đến cái ngai vàng. Nó chẳng qua là một cái ghế được dát vàng, cẩn ngọc. Ta dư sức mướn thợ giỏi đóng được cái đẹp hơn cái đó. Vua ngồi đó mãi thì nhường cho ta ngồi một khắc có sao đâu. Vì thế mà lúc đó ta nảy ra ý định mượn rượu nói giỡn chơi cốt để Ánh biết ta nhọc công đến đây không phải để cầu cạnh điều chi, chỉ cần có sự đối xử công bằng mà lẽ ra Ánh phải làm. Nào ngờ...

Hoài không nghe cụ Tổ nói nữa. Anh dán mắt vào khuôn mặt vua. Một thoáng giận dữ pha lẫn kinh ngạc làm vua sững sờ. Sân điện Thái Hòa lặng đi. Sự kinh hoàng phủ lên khiến người và vật tê dại. Vua là người đầu tiên định thần được. Ngài đưa cặp mắt thương hại pha lẫn đau đớn nhìn cụ Tổ, đoạn miễn cưỡng đứng lên. Cụ Tổ hồn nhiên ngồi vào ngai vàng, quệt cả tay áo vào long thể vua.

- Quân đâu! Một tiếng thét giận dữ bật lên. Đâu đó, từ sau cửa điện, hai người lính lao ra, bẻ quặt tay cụ Tổ, điệu ngay xuống sân rồng.

- Khi quân! - Quan thượng thư bộ hình lớn tiếng.

Quan thượng thư bộ lễ bước lên rập đầu xuống sân rồng:

- Muôn tâu bệ hạ! Thần trộm nghĩ: không phải là vua mà táo gan dám ngồi lên ngai vàng, đó là tội cướp ngôi báu. Xin bệ hạ khép vào tội cướp ngôi, xử trảm và...

Vua Gia Long nhìn thấy sự đồng tình hiện lên trên nét mặt của tất cả các quan. Ngài nhăn mặt khổ sở vì sự trung thành, tận tụy của quần thần. Vua cắt lời quan thượng thư bộ lễ:

- Truyền cho khép vào tội phạm thượng, xử... trảm, bêu đầu!

Cụ Tổ vùng vẫy định cãi, định thanh minh nhưng hai người lính đã vả vào mồm và dắt cụ đi ngay...

Hai người lính ghì chặt cụ Tổ xuống một cái thớt đá có rãnh thoát máu. Tên đao phủ to lớn vung lưỡi dao.

- Quân dã man! Không được giết người vô tội! - Hoài thét to và chồm lên. Cụ Tổ ở bên đã nắm vai Hoài giữ lại. Đầu cụ Tổ văng ra, lăn lông lốc. Máu phun ào ào từ cổ, chảy ồ ồ trong rãnh thoát. Đôi mắt cụ Tổ vẫn mở trừng trừng đầy ngạc nhiên và giận dữ.

Cụ Tổ nói giọng buồn buồn:

- Ta đã xuống suối vàng như vậy đó. Đầu của ta bị đem bêu cho trăm họ xem. Thân ta được vua Gia Long cho mang về an táng tại quê và cho phép được nặn thêm cái đầu bằng sáp để chôn theo, nhưng không cho dựng bia ghi công trạng, lưu danh tên tuổi. Như vậy mà cũng coi là ân huệ lớn sao. Từ lúc ta được sinh ra giữa đất trời Đồng Nai đến lúc ta chết, ta chưa thấy ai đối xử bất công như vậy với một người ruột thịt đã chết. Đã 190 năm ròng rã ta đi khắp nơi kiện cáo những mong đòi lại cái đầu nhưng chỉ gặp toàn quân lắm lời, lý sự. Ta sống, đầu đội trời, chân đạp đất, thật tình, thương người, hết lòng với người tình thiệt và ghét bọn lắm sự nhiêu khê. Sinh thời, nếu ai đối đãi bất công với ta đến độ hết xài, ta vác đao đến hỏi tội, khỏi cần đấu lý. Giờ con là người đầu tiên của dòng họ được học thành thầy cãi, lý sự nhiều bề, con phải giúp ta lấy lại đầu cho ta. Được vậy ta mới yên lòng, khỏi phải vật vờ, lang thang, đau đớn.

- Đi ngay bây giờ! - Hoài hăng hái - Cụ Tổ hãy chỉ chỗ vua Gia Long ở cho con. Con khắc đòi lại đầu cho cụ!

- Ở ngay cạnh đây thôi - Cụ Tổ vững tin nói.

Hoài thấy mình bay lên. Kinh đô xưa bỗng nhuốm màu hoang tàn bên con sông Hương lấp lóa phản chiếu ánh nắng. Những cụm nhà tới tấp mọc lên bao vây nó không chút thương xót. Chợ Đông Ba phình to, nhộn nhịp đủ loại xe máy. Nhà máy xi măng Long Thọ tỏa khói che mờ chùa Thiên Mụ. Núi Ngự Bình không còn xanh nữa. Chỉ có con sông Hương là vẫn mềm mại uốn lượn giữa trung du rồi mất hút vào đại ngàn. Đây rồi lăng Tự Đức rợp bóng tùng vạn niên. Đây rồi lăng Khải Định bề thế. Ào một cái đã thấy dãy tường xây, cổng tò vò và Hoài đang đứng trong lăng vua Gia Long, một lăng nhỏ, cô tịch, khiêm tốn nằm xa kinh đô Huế, nhưng vẫn gần với dòng Hương Giang.

Nét mặt cụ Tổ đượm vẻ nghi ngại.

- Nhà ngươi là ai lại dám tự tiện vào đây! Có biết ta là vua không?

- Ông không phải là vua - Hoài cứng cỏi đáp - Tôi đã thấy vua: không đói rách, võ vàng như ông.

- Phạm thượng! Quân đâu!

- Ông im ngay. Vua Gia Long chết đã lâu lắm rồi. Nếu ông là vua thì cũng đã thành ma. Ông không làm gì được tôi đâu.

- Ta là vua. Dù rằng từ ngày ta mất đi, trên cõi dương thế, đền đài hư hỏng, thành quách xập xệ, việc thờ cúng không còn đều đặn khiến vua tôi lâm cảnh bần hàn nhưng ta vẫn là vua - Vua quay lại hỏi đám quần thần mặt mũi võ vàng, quần áo rách rưới - Tên này là ai? Mau trói lại bỏ vạc dầu cho ta!

Quan Thượng thư bộ hộ lật cuốn sổ dày, chi chít chữ, tìm mãi. Cụ Tổ cất tiếng:

- Đó là cháu yêu 15 đời sau của qua!

- À! - Vua hiểu ra - Như vậy nó thuộc về đời sau, kiếp khác.

- Nên không thể bỏ vạc dầu được - Quan thượng thư bộ hình rụt rè tiếp lời - Vì nó không thuộc thần dân do bệ hạ cai quản.

- Ta truyền cho ngươi biết - Vua phán - Ngươi hỗn được với ta là vì lỗi tại ta đã không tru di tam tộc dòng họ nhà ngươi ở thời của ta đó - Vì sao? Các khanh mau nói cho hắn biết.

Quan ngự sử bước lên tâu:

- Muôn tâu bệ hạ! Bởi vì Gia Định thành, Phiên An trấn thời đó đang cần người khai khẩn để mở mang bờ cõi và còn vì Thông Phán là...

- Thôi - Vua vuốt râu - Khanh khỏi nhắc chuyện đó. Tên kia! Ta không cho ngươi yết kiến ta vì ngươi có mắt như mù, không thấy vua Gia Long đang ở trước con mắt của ngươi!

- Tôi công nhận ông là vua - Hoài rắn rỏi - Tôi đến đây để đòi lại cái đầu ông Tổ của tôi.

- Việc đó là không thể được - Vua quắc mắt - Dù cho Thông Phán là người có chút công lao đối với ta tức là có công lớn đối với đất nước. Ta đã cho hắn ba đặc ân rồi, ngươi còn chưa biết sao?

- Đặc ân nào? - Hoài ngạc nhiên - Đặc ân chém đầu chăng?!

- Mi là hạng dân đen ngu tối. Đặc ân thứ nhất là được ta vời đến yết kiến ta: nhà vua. Đặc ân thứ hai là được ta cho ngồi lên ngai vàng của ta một khắc. Muôn dân sống trên cõi đời, ai ai mà không chết; nhưng đã có ai cùng lúc được hưởng cả hai đặc ân lớn đến thế chưa. Kể cả Thái thượng hoàng và Hoàng thái hậu, những người theo mệnh trời mà sinh ra ta đã được hưởng đặc ân thứ hai chưa?! Còn việc ta bêu đầu Thông Phán là để giữ nghiêm phép nước. Mạng sống một tên dân đen so với kỷ cương của xã tắc, ngươi chọn cái nào?! Thượng thư bộ hình! Khanh mau nói cho hắn rõ, phạm thượng, cướp ngôi báu, xử hình phạt nào?!

- Muôn tâu bệ hạ! Phạm tội cướp ngôi, xử trảm và tru di tam tộc.

- Đó! ngươi thấy chưa: ta tha tội tru di tam tộc, lại còn cho đem xác về chôn, cho xây mộ lớn; ân huệ đó đến nay ngươi còn được hưởng đấy!

- Người chết là hết trách nhiệm về mọi mặt - Hoài cãi - Nhục hình sau khi chết là dã man, vô văn hóa. Giết người mà không qua xét xử công khai, không cho người bị xét xử có quyền tự bào chữa là không dân chủ, không...

- Ngươi vừa nói đến dân chủ, nó là thứ binh khí gì? Mau nói ra, không ta sẽ chém đầu nhà ngươi như ông Tổ của ngươi đó! - Quan thượng thư bộ binh vốn ghét dông dài, lý sự, trừng mắt quát hỏi.

- Đó là một thuật ngữ về pháp lý nhằm chỉ quyền hạn của công dân, nền móng cho tự do, công bằng của xã hội... Nghĩa là mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng như nhau, không phân biệt dù ở cương vị, chức tước hay dân thường...

Các quan cười ầm lên. Vua nhíu mày:

- Các khanh còn vui cười được sao! Chính vì thế cho nên giang sơn Trẫm để lại đã rơi vào thời đại loạn. Lòng Trẫm xiết bao đau xót!

- Ông nói không đúng - Hoài lớn tiếng - Thời của chúng tôi không loạn. Xã hội công bằng, kỷ cương, văn minh và tiến bộ hơn thời của các ông nhiều. Gấp trăm vạn lần hơn!

Vua Gia Long nghiêm sắc mặt:

- Ngươi chớ mong lừa dối được ta! Thời của ngươi dẫu lắm tàu thiếc, tàu đồng, xe sắt, súng nổ nhưng vợ cãi chồng, theo trai không bị cạo đầu, bỏ rọ trôi sông. Con cãi lời cha mẹ không bị trừng phạt. Trò hỗn thày, thày không được phép đánh trò...

- Ông nhầm to rồi - Hoài ngạo nghễ cười vang - Đó chẳng qua là mặt trái của sự tiến bộ, văn minh...

- Nếu ngươi ở vào thời của ta, ta sẽ cho ném ngươi cùng các thứ văn minh, tiến bộ đó vào vạc dầu và còn được muôn dân ca ngợi là công đức đó!

Không lẽ mình lại rơi vào cái mê cung luật lệ vớ vẩn để quên việc lớn sao - Hoài cau mày quyết định lật tẩy:

- Ông đừng đem luật lệ của ông ra dọa tôi. Ông cũng đừng quá tự hào về những luật lệ thiếu tính công bằng, không tôn trọng quyền tự do của mỗi cá nhân và còn lắm điểm...

Vua Gia Long cau mày, cắt ngang:

- Té ra ngươi cũng tôn thờ tự do, trọng công bằng và khí khái như ông Tổ của ngươi!

- Đúng - Hoài tự hào khẳng định thêm - Và tôi sẵn sàng đổi cả tính mạng của mình để giành những thứ đó. Tôi nhắc lại: Hãy trả lại đầu cho ông Tổ của tôi và coi đó như là hành động đầu tiên nhằm biểu thị sự công bằng của ông đối với cá nhân ông Tổ của tôi. Tôi nghĩ: ở cương vị của ông, ông dư sức làm được điều đó và còn làm hơn thế!

- Ô! - Vua Gia Long ngạc nhiên và bực bội kêu lên: - Ngươi quên rồi sao: đó là việc của ta ở thời của ta. Ngươi không có quyền phán xét và đòi hỏi.

Ta khá thương cho ngươi: một người khí khái mà lòng dạ u mê. Tự do, công bằng là mơ ước của ngàn đời. Ngươi nên biết: không phải việc gì ta muốn, ta đều tự do làm được theo ý muốn của riêng ta. Ta đây cũng không có tự do!! Ta bị cột chặt vào ngai vàng, cái mà ta nhọc công giành được và cố giữ nó cho tới bây giờ. Chính ta đây, ta có quyền lực tối cao mà ta có quyền đối xử công bằng với Thông Phán, người anh em thuở nếm mật nằm gai đâu. Ngươi tưởng cứ ngồi lên đây là có tự do, sung sướng và đem tự do, công bằng đi phân phát được cho muôn dân sao? Ngươi đã lầm tưởng như chính ông Tổ của ngươi đã từng khao khát và lầm tưởng. Ngươi lạ lắm sao. Vậy thì ta đây, ta xin nhường cho ngươi ngồi lên ngai vàng, làm vua một khắc để ngươi biết rõ điều đó!

Vua đứng lên, cùng quần thần lui ra. Như có ma lực hút vào, Hoài bước tới, ngồi lên ngai vàng. Anh cảm thấy lạnh lẽo và tù túng hơn lúc ngồi trong chiếc ghế bình thường. Hoài đưa mắt nhìn xuống. Vua Gia Long và quần thần, cả ông Tổ nữa đang lùi xa, tan biến đi. Hoài cảm nhận được thứ khí lạnh buốt thấm vào anh cùng với cảm giác cô đơn. Anh vùng vẫy cố thoát khỏi cảm giác đó. Anh nghe văng vẳng tiếng ai đó rất quen gọi tên mình. Nhưng chiếc ghế và khoảng không gian lạnh lẽo, trống rỗng vẫn bao chặt lấy anh. Hoài tiếp tục mê đi.

Long An những ngày cuối năm 1992
L.T.H.
(TCSH62/04-1994)

 

 

Các bài đã đăng
Con mèo hoang (25/05/2026)
Tầm tã mưa ơi (21/05/2026)
Ba người (13/05/2026)
Mẹ (08/05/2026)
Bóng rừng (24/04/2026)